Tải bản đầy đủ (.pdf) (26 trang)

Tiểu luận cao học môn chính trị học Vai trò của đảng chính trị và liên hệ với vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.04 MB, 26 trang )

MỤC LỤC

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài…………………………………………………….………1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu…………………………………………..1
2.1 Mục đích nghiên cứu………………………………………………………..1
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………………………….1
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………………………...…………………1
3.1 Đối tượng nghiên cứu……………………………………………………….1
3.2 Phạm vi nghiên cứu…………………………………………………………2
4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………….....2
5. Kết cấu đề tài………………………………………………………………...2
B. PHẦN NỘI DUNG …………………………………………………………2

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ ĐẢNG CHÍNH TRỊ…………………………..2

1. Khái niêm, bản chất và đặc điểm……………………………………………2
1.1 Khái niệm………………………………………………………………...…2
1.2 Bản chất…………………………………………………………………….3
1.3 Đặc điểm……………………………………………………………………4
2. Sự ra đời của Đảng chính trị và Đảng chính trị ở Việt Nam……………..…5

2.1 Sự ra đời của Đảng chính trị………………………………………………..5

2.2 Đảng chính trị ở Việt Nam…………………………………………………7

CHƯƠNG 2: VAI TRỊ CỦA ĐẢNG CHÍNH TRỊ……………………………8

1. Vai trị chung của các Đảng chính trị………………………………………..8
2. Vai trị của Đảng phái chính trị trong đời sống của mỗi quốc gia………….10


3. Vai trị của Đảng chính trị trong tổ chức và hoạt động bộ máy nhà
nước…………....................................................................................................14

CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM……………..15

1. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một tất yếu khách quan, lãnh đạo Nhà
nước và xã hội……………………………………………………………...15

2. Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam……………………………………...17
3. Tăng cường vai trò của Đảng trong tiến trình xây dựng và hồn thiện Nhà

nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam………………………………..20
C. PHẦN KẾT LUẬN……………………………………………………...…22
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………….………23


A.PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:

Ngày nay, trong đời sống chính trị xã hội của các quốc gia trên thế giới các đảng
phái chính trị đóng một vai trị hết sức quan trọng. Có thể nói một cách chắc chắn
rằng, trong xã hội hiện đại không thể thiếu sự hoạt động của các đảng phái chính
trị. Nhưng một điểm rất đặc biệt rằng vai trị quan trọng đó không được một bản
hiến pháp nào của thế giới tư bản quy định. Nếu thiếu đi mặt đa dạng các đảng
chính trị có tổ chức thì một đảng chính trị không thể xem là cơ chế vận hành dựa
trên nền tảng chính phủ đại diện. Trong hệ thống tổ chức quyền lực chính trị ở Việt
Nam ta hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam một đảng chính trị, là Đảng duy nhất
có đường lối đúng đắn đưa cách mạng Việt Nam tiến lên xã hội chủ nghĩa. Không
phải ai trong chúng ta cũng có thể biết và hiểu được khó khắn, những vai trị và
cơng lao của Đảng. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu các đảng phái có ý nghĩa rất lớn

trong các khoa học xã hội nói chung và trong khoa học luật hiến pháp nói riêng.
Đó cũng là lý do em quyết định làm đề tài tiểu luận: “Vai trị của Đảng chính trị và
liên hệ với vai trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.”

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

2.1 Mục đích: Trên cơ sở phân tích, đánh giá về thực trạng, vai trị của đảng chính
trị từ đó đối chiếu, so sánh và liên hệ với vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ: Tiểu luận làm rõ vai trò cụ thể của Đảng chính trị và liên hệ Đảng
Cộng sản Việt Nam
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Đảng chính trị và vai trị của Đảng chính trị.

1

3.2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về Đảng chính trị nói chung, cụ thể là
vai trị của Đảng chính trị và Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu, tổng hợp lí thuyết
- Phương pháp lịch sử, logic
5. Kết cấu đề tài
* Đề tài gồm 4 phần:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung
- Phần kết luận
- Tài liệu tham khảo
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ ĐẢNG CHÍNH TRỊ:
1. Khái niệm, bản chất và đặc điểm:
1.1 Khái niệm:

- Một cách khái quát: Đảng chính trị là bộ phận tích cực nhất và có tổ chức của
một giai cấp, làm cơng cụ đấu tranh cho lợi ích của giai cấp mình. Các Đảng chính
trị xuất hiện ngay từ những giai đoạn phát triển đầu tiên của xã hội có giai cấp, gắn
liền với những sự khác nhau về lợi ích của các giai cấp và của các tập đoàn hợp
thành giai cấp. Nhưng lịch sử thực sự của các Đảng chính trị chỉ bắt đầu từ thời kì
Đại cách mạng tư sản Pháp (cuối thế kỉ 18). Trong xã hội hiện đại, tương ứng với
cơ cấu giai cấp của nó, các Đảng chính trị có thể là đảng tư sản, đảng vơ sản, đảng
địa chủ, đảng nông dân, đảng tiểu tư sản... Có những đảng phản ánh lợi ích của

2

một liên minh giai cấp (như đảng tư sản - địa chủ...). Đôi khi (ở các quốc gia nhiều
dân tộc) các đảng có màu sắc dân tộc và đưa ra những mục tiêu dân tộc. Nhưng
ngay cả trong trường hợp này thì cơ sở của các đảng đó vẫn là lợi ích giai cấp.
Đảng chính trị là một tổ chức xã hội tự nguyện, liên minh của những người cùng tư
tưởng, theo đuổi những mục đích chính trị nhất định; cố gắng giành ảnh hưởng
lãnh đạo đối với đời sống chính trị và tổ chức xã hội, ra sức giành và giữ chính
quyền để thực hiện đường lối của mình. Là một bộ phận cấu thành của kiến trúc
thượng tầng, Đảng chính trị hành động bằng thuyết phục, truyền bá các quan điểm
tư tưởng, bằng cách tập hợp những người cùng chí hướng. Đảng chính trị có những
phương tiện vật chất như các cơ quan báo chí, thơng tin và xuất bản. Đảng thu hút
vào hàng ngũ của mình bộ phận tích cực nhất của giai cấp, chứ khơng bao giờ tồn
bộ giai cấp. Tùy theo giai cấp đóng vai trò như thế nào trong đời sống và trong sự
phát triển xã hội (vai trò cách mạng tiến bộ, bảo thủ, phản động) mà đảng của nó
thể hiện vai trị đại diện cho lợi ích của giai cấp. Đảng chính trị ngày nay thường
có mục tiêu nhất định được thể hiện trong cương lĩnh hoặc tun ngơn có tính chất
cương lĩnh, tiến hành một chính sách nhất định, có những nguyên tắc tổ chức nhất
định và có một tổ chức nội bộ tương ứng với những nguyên tắc đó. Đảng Cộng sản
Việt Nam là một Đảng chính trị, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt 51
Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp cơng nhân, nhân dân lao động và của

cả dân tộc.

1.2 Bản chất:

Đảng chính trị là một phạm trù lịch sử. Nó chỉ hoạt động với một cương lĩnh chính
trị và một tổ chức rõ rệt khi sự hình thành và cố kết các giai cấp, tầng lớp tương
ứng đã đạt đến một trình độ trưởng thành nhất định. Có thể nhìn nhận sự trưởng
thành của một giai cấp xã hội, sự chín muồi về sự tự ý thức của giai cấp đối với
quyền lợi của nó khi bộ phận Lưu tú đã có kết với nhau, tổ chức thành đảng chính

3

trị. Đảng là của giai cấp, là bộ phận tiên tiến của giai cấp, ý thức được vai trị chính
trị của giai cấp trong đời sống xã hội. Nhưng đáng có khả năng tập hợp được đơng
đảo quần chúng giai cấp và xã hội thành một lực lượng chính trị để đấu tranh giành
quyền lực nhà nước. Tuỳ theo vai trị của giai cấp trong tiến trình phát triển của
lịch sử xã hội (vai trò cách mạng, tiến bộ, phản động, bảo thủ...) mà đảng chính trị
của giai cấp ấy có sức mạnh và vai trị trên vũ đài chính trị khác nhau.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “Những người cộng sản khơng tự hạ mình xuống
đến chỗ giấu giếm những ý kiến và dự định của mình” . Chính vì vậy, khi xét đốn
bộ mặt thật của một đảng chính trị này hay một đảng chính trị khác, khơng thể cần
cứ vào tên gọi của nó, và thậm chí cũng khơng chỉ căn cứ vào cương lĩnh của nó,
mà phải theo những việc làm cụ thể của nó. Bản chất của đảng chính trị thể hiện
trước hết ở mục đích, mục tiêu chính trị của nó phù hợp với ai. Vì vậy, khi xem xét
bản chất của một đảng chính trị cần phải có phương pháp khách quan, khoa học.
Quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử cho phép chúng ta tiếp cận vấn đề và chỉ
ra bản chất của đảng chính trị cũng như tất cả các hiện tượng xã hội.

1.3 Đặc điểm:


- Đảng chính trị mang những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, Đảng chính trị là đội quân tiên phong của một giai cấp. Điều này là hiển
nhiên đúng, vì bất cứ một đảng chính trị nào lập ra cũng là được thành lập bởi một
giai cấp, hoặc một liên minh giai cấp. Đảng đó mang bản chất của chính giai cấp
sản sinh ra nó, và đến lượt mình Đảng đó bảo vệ cho lợi ích của giai cấp mà nó
được sinh ra.

Thứ hai, Đảng chính trị bao giờ cũng là công cụ thực hiện mục tiêu chính trị của
một giai cấp. Điều đó có nghĩa, mục tiêu cao nhất của Đảng chính trị ln ln là
đấu tranh giành vị trí thống trị.

4

Thứ ba, Đảng chính trị bao giờ cũng cần và phải có một học thuyết làm nền tảng
tư tưởng. Đó chính là hệ tư tưởng của giai cấp sản sinh ra đảng đó.

Thứ tư, các Đảng chính trị là thiết chế quyền lực thuộc kiến trúc thượng tầng xã
hội. Vì vậy, nó bị quyết định bởi cơ sở hạ tầng hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội
đó. Tuy nhiên, trong chừng mực Đảng chính trị cũng có tác động trở lại làm thay
đổi quan hệ sản xuất xã hội theo hai hướng - tích cực và tiêu cực. Nhất là khi đảng
chính trị với vị trí là đảng cầm quyền, nó sẽ có tác động to lớn tới cơ sở hạ tầng của
một xã hội. Thậm chí có thể làm khuynh đảo nền sản xuất xã hội thông qua các
cuộc cách mạng xã hội mà nó vận động quần chúng nhân dân thực hiện.

Thứ năm, Đảng chính trị ln ln có hệ thống tổ chức chặt chẽ thơng qua Điều lệ,
đồng thời Đảng chính trị tác động tới quần chúng, tới xã hội thông qua con đường
tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục. Đồng thời đảng chính trị khi trở
thành đảng cầm quyền cũng sử dụng các cơng cụ như Cương lĩnh chính trị, Nghị
quyết, chỉ thị....để lãnh đạo và định hướng xã hội. Ngoài ra, đảng chính trị cịn

mang bản chất của lịch sử và thời đại, thông qua sự vận dụng và phát triển tri thức
tinh hoa của nhân loại về chính trị, nó áp dụng vào hoạt động thực tiễn của chính
nó để hồn bị mục tiêu và nhiệm vụ chính trị của mình.

2. Sự ra đời của Đảng chính trị và Đảng chính trị ở Việt Nam.

2.1.Sự ra đời của Đảng chính trị
Các đảng phái chính trị chỉ được xuất hiện trong cách mạng tư sản, trong xã hội tư
bản chủ nghĩa. Lẽ đương nhiên sự xuất hiện đó phải có mầm mống trong xã hội
phong kiến. Sự xuất hiện các đảng phái chính trị được nhiều học giả giải thích như
sau:

Trong điều kiện lịch sử mới, quyền lực nhà nước khơng cịn nằm trong tay vua
chúa và không được truyền cho con, cháu theo nguyên tắc thế tập, mà quyền lực đó

5

được chuyển giao cho cả một giai tầng. Việc thành lập các cơ quan quyền lực nhà
nước được tiến hành bằng phương pháp bầu cử, dân chủ.
Một giai cấp hay một giai tầng nào đó muốn cầm quyền thì giai cấp hay giai tầng
đó phải bằng một cách thức nào đó tập trung ý chí của mình lại. Việc tập trung tất
yếu dẫn đến sự ra đời các tổ chức của những người tiên tiến (đội tiên phong) nhất,
đại diện cho giai cấp hay giai tầng. Đó là các đảng phái chính trị.
Việc thành lập các đảng phái chính trị của các nước tư bản thường gắn liền với các
hoạt động trong nghị viện. Nhằm mục đích tập hợp ý chí chung của các nghị sỹ, để
biến những ý chí chung này thành các quyết định của nghị viện, các nghị sỹ đã tập
hợp nhau thành các nhóm. Chính những nhóm này đã trở thành những cơ sở cho
các đảng phái chính trị sau này. Hoạt động của các đảng phái lúc đầu chỉ bó hẹp
trong nghị trường, dần dần đã trở thành các đảng phái chính trị ở ngồi xã hội.
Tác giả G.S. Duverger người Pháp đã gắn liền sự xuất hiện và phát triển của các

chính đảng ở phương Tây với sự xuất hiện và phát triển của quốc hội và quyền phổ
thông đầu phiếu. Trước hết là sự thành lập các khối những nghị viện có chung một
ý chí ở quốc hội, sau đấy là các uỷ ban vận động trong các cuộc bầu cử. Và sau đó,
ơng cho rằng việc liên kết giữa hai lực lượng trên trở thành các chính đảng hiện
nay. Duverger phân biệt chính đảng thành lập bên ngồi quốc hội có ý thức hệ
vững chắc hơn Đảng thành lập bên trong quốc hội là một đảng xuất phát từ những
khối ở quốc hội. Những đảng thành lập ở bên ngoài quốc hội là những đảng xuất
hiện từ sự đấu tranh của những thành phần xã hội để có được đại diện trong quốc
hội và để ảnh hưởng đến những quyết định trong quốc hội.
Khơng ít người lại cho rằng, sự khủng hoảng lịch sử trầm trọng dẫn đến sự xuất
hiện các đảng phái chính trị, tức là các đảng phải xuất hiện trong một điều kiện lịch
sử cụ thể. Sự khủng hoảng của đảng này lại làm tiền đề cho sự xuất hiện các đảng

6

khác. Những sự khủng hoảng chính trị của phần đơng các quốc gia thường đưa đến
sự thành lập các đảng phái.

Một số người lại cho rằng, sự phát triển và xuất hiện của các đảng phái là thể hiện
trình độ phát triển của xã hội. Họ cho rằng, trình độ phát triển xã hội địi hỏi phải
có những lực lượng cải cách xã hội. Chính những địi hỏi đó là tiền đề cho việc
xuất hiện các đảng phái chính trị. Đấy là hậu quả của những thay đổi kinh tế xã hội
sâu rộng. Sự bành trướng của các hệ thống thông tin đại chúng, sự phát triển của
khoa học kỹ thuật và lưu thông, ảnh hưởng xã hội của sự đơ thị hố là những yếu
tố cần thiết cho sự thành lập các tổ chức chính trị rộng lớn.

2.2 Đảng chính trị ở Việt Nam

- Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng chính trị cầm quyền và là chính đảng duy nhất
được phép hoạt động tại Việt Nam theo Hiến pháp. Theo Cương lĩnh và Điều lệ

chính thức hiện nay, Đảng là đại diện của giai cấp công nhân, nhân dân lao
động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Marx-Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm
kim chỉ nam cho mọi hoạt động. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp
chặt chẽ giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu
nước Việt Nam. Từ khi thành lập cho đến nay, Đảng luôn thể hiện rõ là một đảng
cách mạng chân chính, hội tụ sức mạnh của dân tộc, của giai cấp, là đội tiên phong
của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam. Những thành tựu to lớn của cách
mạng Việt Nam suốt 90 năm qua đã minh chứng cho tầm vóc bản lĩnh, trí tuệ của
Đảng trên con đường lãnh đạo xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, vững
bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng khơng chỉ là
lãnh tụ chính trị, đội tiên phong và đại biểu cho lợi ích của giai cấp, của dân tộc mà
cịn là lãnh tụ chính trị, đội tiên phong và đại biểu cho lợi ích của nhân dân lao
động và của dân tộc Việt Nam. Đảng phải vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy
tớ thật trung thành của nhân dân. Người khẳng định: “Muốn cứu nước giải phóng

7

dân tộc khơng có con đường nào khác - con đường cách mạng vô sản”. Để thực
hiện được mục tiêu đó, Người chỉ rõ: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong
thì vận động và tổ chức dân chúng, ngồi thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và
vơ sản giai cấp ở mọi nơi. Đảng có vững, cách mệnh mới thành công, cũng như
người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy”. ĐCS Việt Nam đóng vai trò lãnh đạo
nhân dân cùng một lúc phải làm tư sản cách mạng, làm dân tộc cách mạng và làm
giai cấp cách mạng. Đây là đặc điểm nổi bật nhất của cách mạng vô sản ở Việt
Nam do ĐCS lãnh đạo và cũng là một đặc điểm của sứ mệnh lịch sử của Đảng đối
với giai cấp, dân tộc và xã hội Việt Nam. Vai trò lãnh đạo của Đảng ta được Chủ
tịch Hồ Chí Minh nêu rõ trong Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương
trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt và Lời kêu gọi của Đảng khi Đảng mới thành lập, đó
là: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã
hội cộng sản”;... “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến”;... Làm cho

nước Việt Nam được độc lập;... giải phóng cơng nhân và nơng dân thốt khỏi ách
tư bản; mở mang cơng nghiệp và nông nghiệp;... đem lại mọi quyền lợi tự do cho
nhân dân”.

CHƯƠNG 2: VAI TRỊ CỦA ĐẢNG CHÍNH TRỊ

1. Vai trị chung của đảng chính trị

Đảng chính trị là bộ phận tích cực nhất, có tổ chức nhất của giai cấp được lập ra
để thực hiện lợi ích, mục đích giai cấp, nắm quyền lực nhà nước. Như vậy, vai trị
của đảng chính trị (vai trị cách mạng, tiến bộ hay bảo thủ, phản động) sẽ tuỳ thuộc
vào vai trò của các giai cấp mà các đảng đại diện cho lợi ích trong đời sống và
trong sự phát triển xã hội. Trong lịch sử tồn tại và phát triển của các đảng chính trị,
có đảng đóng vai trị tiến bộ, cách nạng, như đảng mácxít-lêninnít, có đảng đóng
vai trị bảo thủ, phản động như các đảng địa chủ, nông dân... cũng có đảng chính
trị, ở thời kỳ này đóng vai trị tiến bộ, cịn ở thời kỳ khác đóng vai trò bảo thủ,

8

phản động, tuỳ thuộc vào tính chất của giai cấp mà nó đại diện. C.Mác đã thể hiện
tư tưởng đó trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: "Ở Pháp, những người cộng
sản liên hợp với Đảng Dân chủ - xã hội chủ nghĩa chống giai cấp tư sản bảo thủ và
cấp tiến... Ở Đức, Đảng Cộng sản đấu tranh chung với giai cấp tư sản mỗi khi giai
cấp này hành động cách mạng chống chế độ quân chủ chuyên chế, chống chế độ sở
hữu ruộng đất phong kiến và giai cấp tiểu tư sản phản động".

Nhìn chung ở các nước tư bản chủ nghĩa, vai trị các đảng chính trị thể hiện rõ nhất
trong các cuộc bầu cử giành quyền lực nhà nước. Ở đây, vai trò của các đảng chính
trị biểu hiện trên hai mặt: tích cực và tiêu cực. Tích cực là tổ chức bầu cử và hướng
bầu cử vào quỹ đạo đã dược quy định của pháp luật hiện hành. Sau khi thắng cử,

nắm quyền, các đảng chính trị có vai trị trong việc định hướng phát triển kinh tế -
xã hội thơng qua cương lĩnh chính trị, bố trí tuyển lựa thành viên của đảng vào các
cương vị chủ chốt của chính quyền, chuẩn bị các chính sách, chiến lược hoạt động
của nhà nước. Tuy nhiên, mặt tiêu cực của các đảng chính trị là chủ yếu: nó chia rẽ
nhân dân, tách nhân dân ra khỏi chính trị, để đạt mục đích, đảng chính trị đã hành
động kể cả bằng những phương pháp không lành mạnh; kích thích sự thèm khát
quyền lực chính trị và tạo thêm những điều kiện cho tham nhũng, tước bỏ quyền
dân chủ của nhân dân....

Trong hệ thống chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản là lực lượng
duy nhất lãnh đạo, thực hiện quyền thống trị về chính trị của giai cấp cơng nhân để
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân và quá độ
đi lên chủ nghĩa xã hội. Quyền thống trị đó "cố nhiên khơng thể khơng đem lại rất
nhiều hình thức chính trị khác nhau, nhưng thực chất của những hình thức ấy tất
nhiên sẽ chỉ là một, tức là chun chính vơ sản". Giai cấp cơng nhận thơng qua đội
tiên phong của mình là Đảng Cộng sản chịu trách nhiệm hoàn toàn trước vận mệnh
phát triển của dân tộc, lãnh đạo mọi mặt của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn

9

hố xã hội. Sự lãnh đạo chính trị của Đảng Cộng sản trong điều kiện Đảng cầm
quyền, thực chất là xây dựng nhà nước về mặt kinh tế. Bởi vậy, quyền lực của
Đảng không mâu thuẫn và không thay thế quyền lực nhà nước, trái lại thống nhất
với quyền lực nhà nước, tập trung vào việc lãnh đạo xây dựng nhà nước để quản lý
kinh tế- lĩnh vực suy đến cùng quyết định sự phát triển của xã hội, quyết định vai
trị lãnh đạo của Đảng. Để hồn thành vai trị to lớn, nhiệm vụ vẻ vang đó, điều
kiện tiên quyết là Đảng phải không ngừng vươn lên mọi mặt để quần chúng "nhìn
thấy ở đó trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại".

Trong số những tư chất mà Đảng Cộng sản cần phải có, theo Lênin, đó là Đảng

phải đạt tới tầm cao trí tuệ, bởi khi nắm chính quyền, Đảng lãnh đạo tồn diện, vì
vậy người cộng sản khơng thể thiếu trình độ văn hố, trình độ chun mơn, quản
lý. Để góp phần sửa những hẫng hụt đó, người cộng sản "phải biết quý trọng khoa
học, gạt bỏ thái độ huyênh hoang "cộng sản" của những nhà tài tử và của những
anh chàng quan liêu, phải học tập làm việc
một cách có hệ thống, sử dụng chính ngay kinh nghiệm của mình và thực tiễn của
mình!".
Tất cả những chỉ dẫn trên về Đảng Cộng sản của Lênin dược Đảng ta và Chủ tịch
Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo vào Việt Nam nhằm không ngừng xây dựng, đổi
mới Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành lực lượng lãnh đạo của cách mạng Việt
Nam. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam không ngừng được tăng
cường và phát huy trong sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại
hố đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng văn minh.
2. Vai trị của Đảng phái chính trị trong đời sống của mỗi quốc gia:

10

Trong đời sống chính trị hiện nay của nhà nước tư sản, hoạt động của các đảng
phái chính trị đóng một vai trò hết sức quan trọng. Hoạt động của đảng phái đã làm
cho các cơ quan nhà nước hoạt động không theo quy định của pháp luật và trở nên
hình thức. Đây cũng là nguyên nhân làm cho hiến pháp, pháp luật của nhà nước tư
bản mang tính giả tượng, khơng có hiệu lực pháp lý trên thực tế. Theo quy định
của pháp luật nhà nước Anh, Nữ hoàng được quyền bổ nhiệm Thủ tướng Anh -
Người đứng đầu bộ máy hành pháp (cai trị) nhà nước Anh. Song Nữ hồng Anh
khơng thể bổ nhiệm một người nào khác, nếu như người đó khơng phải là thủ lĩnh
của đảng cầm quyền (đảng chiếm đa số ghế trong Hạ viện Anh). Các đảng viên
trong nghị viện Anh, cũng như các đảng viên trong nghị viện của các nước theo
khối liên hiệp Anh trước đây, cũng như hiện nay không thể .. Vì vậy, trong nhà
nước tư sản khơng thể có sự phân chia quyền lực nhà nước theo lý thuyết phân
quyền giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp, mà có chăng chỉ là phân chia quyền

lực nhà nước giữa các đảng phái.
Tại Anh, một khn mẫu của loại hình chính thể quân chủ đại nghị, theo quy định
pháp luật: chính phủ phải chịu trách nhiệm trước nghị viện. Bởi vì chính phủ được
thành lập dựa trên cơ sở nghị viện. Nhưng trên thực tế không phải như vậy. Đảng
cầm quyền (Đảng Bảo thủ), đang chiếm đa số ghế ở Hạ viện có quyền đứng ra
thành lập chính phủ. Chính đảng này với đa số của Hạ viện Anh đã thao túng toàn
bộ việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản Anh, trước hết là thao
túng hoạt động của Hạ nghị viện.

Vì vậy, nhiệm vụ chủ yếu của các đảng phái chính trị là phấn đấu trở thành đảng
cầm quyền. Và muốn trở thành một đảng cầm quyền, thì trước hết chính đảng phải
có vai trị tổ chức để vạch ra ý chí chung", tiến hành một cuộc đấu tranh bằng

11

nhiều biện pháp để giành được chính quyền nhà nước. Tất cả những vai trò khác sẽ
đi từ vai trò này một cách tự nhiên.
Đời sống chính trị địi hỏi những khuynh hướng, những lập trường chính trị khác
nhau phải được kết thành những ý chí nhất định. Các chính đảng phải hành động
như những cơ quan xúc tác phối hợp những nguyện vọng tiềm tàng, hệ thống hoá
những tiêm vọng, những ý kiến khác nhau, thậm chí có nhiều khi cịn mâu thuẫn
lẫn nhau, thành một chương trình hành động cụ thể, thành một chính sách nhất
định.
Vạch ra một chương trình chung giành chính quyền là một chức năng quan trọng
nhất của các đảng phái chính trị. Ngồi ra, các đảng phái chính trị cịn một số chức
năng nữa như giáo dục tư tưởng, tuyên truyền phổ biến tư tưởng của mình cho
quần chúng. Nhưng, tất cả cũng chỉ là những chức năng phụ cho chức năng cơ bản
nêu trên.

Các đảng phái chính trị tư sản trở thành đảng cầm quyền thông qua các cuộc bầu

cử nghị viện. Trong thế giới tư bản, bầu cử các cuộc đấu tranh giành giật rất gay
gắt giữa các đảng phái chính trị. Thông qua bầu cử, xác định được đảng cầm
quyền. Đảng này đứng ra thành lập chính phủ'. Muốn trở thành một chính khách
thì trước hết phải là đảng viên của đảng cầm quyền. Các đảng viên của đảng cầm
quyền phải cạnh tranh lẫn nhau để được lọt vào ban lãnh đạo đảng cầm quyền thì
mới có cơ hội trở thành những quan chức cao cấp trong bộ máy nhà nước tư sản.
Mặc dù được quy định hay không được quy định thì việc giới thiệu ứng cử viên
vào nghị viện, vào các vị trí cao nhất của nhà nước tư sản thực tế đều là thẩm
quyền riêng của các đảng phái chính trị. Lịch sử đã cho thấy khơng mấy người ứng
cử tự do mà trở thành đắc cử. Việc các nước tư sản áp dụng phương pháp bầu cử
đại diện tỷ lệ, bầu cử theo thể thức liên danh, chính là bầu cử theo đảng phái'.

12

Sau khi đã trở thành đảng cầm quyền - đảng chiếm đa số ghế trong nghị viện,
đảng mà ứng cử viên của mình thắng cử trong cuộc bầu cử tổng thống, có quyền
đứng ra thành lập chính phủ. Mọi hoạt động của chính phủ này đều phải thể hiện ý
chí của đảng cầm quyền thơng qua ý chí của người thủ lĩnh.
Việc nhân dân Mĩ lựa chọn bầu tổng thống, cũng như nhân dân Anh lựa chọn bầu
hạ nghị sỹ vào Hạ viện, chính là việc nhân dân các nước này lựa chọn một đảng
phái chính trị làm đại diện cho họ.
Một trong những vai trị khơng phấn khởi lắm của các đảng phái chính trị tư sản,
nhưng rất quan trọng, là vai trò đối lập của các đảng phái chính trị khơng cầm
quyền. Đây là một vai trị tế nhị về sự đối lập trung thành thật cần thiết cho một
chính thế độc tài”. Sự đối lập này thể hiện rất rõ trong hoạt động các đảng phái
chính trị của nhà nước Anh, Mĩ, nơi điển hình của hệ thống lưỡng đảng. Ngồi
chính phủ đang cầm quyền, pháp luật Anh cịn cho phép thành lập "Nội các trong
bóng tối" của đảng phái đối lập. Thủ tướng của "Nội các trong bóng tối này được
nhà nước trả lương. Nhiệm vụ cụ thể thể hiện chức năng đối lập của đảng đối lập là
tìm ra những khiếm khuyết trong chính sách của đảng đang cầm quyền, canh

chừng cẩn thận những người đang thi hành nhiệm vụ cai trị đất nước dưới sự
hướng dẫn của đảng đa số đang cầm quyền. Chính sự đối lập này đã có tác dụng
nhất định trong việc thận trọng hơn khi nhà nước tư sản đưa ra những quyết định
của mình. Sự đối lập này được gọi là sự đối lập có trách nhiệm. - Đánh giá vị trí,
vai trị của các đảng phái chính trị tư sản, thạc sỹ công pháp Nguyễn Văn Bông
viết: "Kinh nghiệm chính trị cho chúng ta thấy rằng hệ thống các chính đảng rất
mật thiết ảnh hưởng đến cuộc sống chính trị của quốc gia. Một chính thể độc tài
thường dựa trên một chính đảng duy nhất. Trái lại sự hiện hữu của nhiều chính
đảng trong một quốc gia được xem là dấu hiệu của nền dân chủ hệ thống đa đảng

13

hay lưỡng đảng sẽ làm đảo lộn tất cả các nguyên tắc của luật hiến pháp và chi phối
tất cả các cuộc sinh hoạt chính trị".

3. Vai trị của Đảng chính trị trong tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước

Theo quy định của pháp luật nhà nước Anh, Nữ hoàng được quyền bổ nhiệm Thủ
tướng Anh - Người đứng đầu bộ máy hành pháp (cai trị) nhà nước Anh. Song Nữ
hồng Anh khơng thể bổ nhiệm một người nào khác ngoài thủ lĩnh của đẵng cầm
quyền (đảng chiếm đa số ghế trong hạ viện Anh).

Ở Anh, Mỹ và những nơi có hệ thống lưỡng đảng, một trong hai đảng này thay nhau-
cầm quyền. Cịn những nước có hệ thống đa đảng, khơng có đảng nào chiếm đa số
ghế trong quốc hội, thì buộc phải thành lập chính phủ liên minh các đảng phái. Vì
vậy, nhiệm vụ chủ yếu của các đảng phái chính trị là phấn đấu trở thành đảng cầm
quyền. Và muốn trở thành một đảng cầm quyền, thì trước hết chính đảng phải có vai
trị tổ chức để vạch ra “ý chí chung”, tiến hành một cuộc đấu tranh bằng nhiều biện
pháp để giành được chính quyền nhà nước. Tất cả những vai trò khác sẽ đi từ vai trò
này một cách tự nhiên.

Các đảng phái chính trị tư sản trở thành đảng cầm quyền thơng qua các cuộc bầu cử
nghị viện. Trong thế giới tư bản, bầu cử là cuộc đấu tranh công khai giữa các đảng
phái chính trị. Thơng qua bầu cử, xác định được đảng cầm quyền. Đảng này đứng ra
thành lập chính phủ. Muốn trở thành một chính khách thì thơng thường trước hết
phải là đảng viên của đảng cầm quyền. Các đảng viên của đảng cầm quyền phải cạnh
tranh lẫn nhau để được lọt vào ban lãnh đạo đảng cầm quyền thì mới có cơ hội trở
thành những quan chức cao cấp trong bộ máy nhà nước tư sản.
Mặc dù được quy định hay khơng được quy định thì việc giới thiệu ứng cử viên vào
nghị viện, vào các Vị trí cao nhất của nhà nước tư sản thực tế đều là thẩm quyền
riêng của các đảng phái chính trị. Lịch sử đã cho thấy không mấy người ứng cử tự

14

do mà trở thành đắc cử. Việc các nhà nước tư sản áp dụng phương pháp bầu cử đại
diện tỷ lệ, bầu cử theo thể thức liên danh, chính là bầu cử theo đảng phái.
Sau khi đã trở thành đảng cầm quyền - đảng chiếm đa số ghế trong nghị viện thành
lập chính phủ. Mọi hoạt động của chính phủ này đều phải thể hiện ý chí của đảng
cầm quyền thơng qua ý chí của người thủ Imh.
Việc nhân dân Mỹ, lựa chọn bầu tổng thống, cũng như nhân dân Anh lựa chọn bầu
hạ nghị sĩ vào Hạ viện chính là việc nhân dân các nước này lựa chọn một đảng phái
chính trị làm đại diện cho họ.
Một trong những vai trị quan trọng của các đảng phái chính trị tư sản là vai trò đối
lập của các đảng phái chính trị khơng cầm quyền. Sự đối lập này thể hiện rất rõ trong
hoạt động các đảng phái chính trị của nhà nước Anh, Mỹ nơi điển hình của hệ thống
lưỡng đảng. Ngồi chính phủ đảng cầm quyền, pháp luật Anh cịn cho phép thành
lập “Nội các trong bóng tối” của đảng phái đối lập. Thủ tướng của “Nội các trong
bóng tối” này được nhà nước ưả lương. Nhiệm vụ cụ thể thể hiện chức năng đối lập
của đảng đối lập là tìm ra những khiếm khuyết trong chính sách của đảng đang cẩm
quyền, canh chừng cẩn thận những người đàng thi hành nhiệm vụ cai trị đất nước
dưới sự hướng dẫn của đảng đa số đang cầm quyền, chính sự đối lập này đã có tác

dụng nhất định trong việc thận trọng hơn khi nhà nước tư sản đưa những quyết định
của mình ra thực hiện. Sự đối lập này được coi là sự đối lập có trách nhiệm.

CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một tất yếu khách quan, lãnh đạo Nhà
nước và xã hội

Tính tất yếu phải có sự lãnh đạo của Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời,
trưởng thành và phát triển đến nay đã hơn 70 năm. Đó là một chặng đường đầy

15

gian lao, khó khăn và thử thách. Nhiều thời kỳ, nhiều giai đoạn cách mạng với
nhiệm vụ, tính chất và nội dung khác nhau Đảng ta đều vượt qua và giành thắng
lợi. Lịch sử đã chứng minh vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam qua
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trong thế kỷ XX và qua những thành tựu trong
công cuộc đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội trong 25 năm qua.
Công lao của Đảng và Cách mạng Việt Nam. Trong thời chiến, ngay từ khi ra đời
Đảng đã có sứ mệnh to lớn. Đảng đã lãnh đạo nhân dân, đoàn kết tập hợp cùng kháng
chiến bảo vệ Tổ quốc. Đảng là bộ tham mưu của giai cấp vô sản, của nhân dân lao
động và của cả dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Cách mạng nước ta đã có được
những thành tích đáng tự hào: đánh bại hai cường quốc lớn trên thế giới là Pháp
(1945 – 1954) và M ỹ (1954 – 1975) để giành độc lập dân tộc; Đảng tiếp tục dẫn dắt
Cách mạng bảo vệ biên giới trong cuộc chiến Biên giới với Trung Quốc (1979)…..
Thực tiễn đấu tranh cách mạng và bảo vệ, xây dựng, phát triển đất nước đã khẳng
định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng - nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của
cách mạng Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành lực lượng lãnh đạo cách
mạng, đất nước, dân tộc từ khi giành được chính quyền sau Cách mạng Tháng Tám
năm 1945. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội đã được thực tiễn
đất nước khẳng định, là nguyện vọng, ý chí của nhân dân và hợp hiến. Trải qua thực

tiễn lãnh đạo đất nước qua các thời kỳ lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam không
ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, phát triển về tư duy lý luận và năng
lực lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, trở thành một quốc gia ngày càng
phát triển, góp phần khẳng định và nâng tầm vị thế của Việt Nam trong cộng đồng
quốc tế.

16

2. Vai trò lãnh đạo của Đảng :

Trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, đảng cộng sản ln giữ vai trò lãnh đạo.
Với bản chất là đội tiên phong của giai cấp công nhân, các đảng cộng sản ln trung
thành với mục tiêu, lợi ích lâu dài của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Mặt
khác, các đảng cộng sản có phương pháp luận đúng đắn trong nhận thức và hoạt
động của mình là Học thuyết Mác – Lê Nin. Chính những ưu thế này đã quy định
vai trò của các Đảng cộng sản trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng
sản Việt Nam đóng vai trị vơ cùng quan trọng.

- Đảng là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Trong hệ thống chính trị của Việt
Nam, Đảng là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị. Quyền lực của nhân dân có được
thực hiện hay khơng là một nội dung cơ bản nói lên vai trị, uy tín và trình độ lãnh
đạo của Đảng. Đảng Cộng Sản Việt Nam được Hiến pháp thừa nhận là lực lượng
lãnh đạo nhà nước và xã hội vì Đảng mang trong mình bản chất giai cấp công nhân
và đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của
cả dân tộc. Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời trước hết với tư cách là lãnh tụ chính trị
của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng là sản phẩm của
sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lê-nin với phong trào yêu nước và phong trào cách
mạng. Đây chính là đặc thù riêng biệt của Đảng Cộng Sản Việt Nam bởi không có
một Đảng nào trên thế giới ra đời có sự kết hợp của ba yếu tố trên. Nhìn nhận về lịch

sử đấu tranh giành độc lập ta thấy muốn giải phóng và xây dựng thành cơng XHCN,
Đảng ta đồng thời phải giải phóng tồn thể nhân dân lao động,…. Lợi ích của mọi
tầng lớp cơ bản là thống nhất. Đảng phải đại biểu cho lợi ích của giai cấp cơng nhân,
nhân dân lao động và cả dân tộc, không chỉ là trước mắt mà cả về lâu dài. Đó khơng
thể coi là sách lược mà là mục đích và lý tưởng của Đảng. Khi giành được chính

17


×