i
MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU..............................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài...............................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài........................................................2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài....................................................5
4. Phương pháp nghiên cứu..................................................................................5
5. Phạm vi nghiên cứu đề tài................................................................................5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài..............................................................6
7. Kết cấu của đề tài..............................................................................................6
PHẦN 2. NỘI DUNG..........................................................................................7
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY
NGUỒN LỰC TÀI NĂNG TRẺ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ
HỘI.......................................................................................................................7
1.1. Khái niệm về nguồn lực.................................................................................7
1.2. Nguồn lực lao động đối với phát triển kinh tế - xã hội..................................8
1.3. Tài năng trẻ - nguồn lực lao động quan trọng của quốc gia.........................10
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TÀI
NĂNG TRẺ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY..........................................................12
2.1. Kết quả thực hiện việc phát huy tài năng trẻ ở Việt Nam hiện nay.............12
2.2. Một số hạn chế của việc phát huy tài năng trẻ ở việt nam hiện nay............14
CHƯƠNG 3. VAI TRỊ CỦA ĐỒN TNCS HỒ CHÍ MINH TRONG
PHÁT HUY NGUỒN LỰC TÀI NĂNG TRẺ................................................17
3.1. Khái quát về tổ chức Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ………….16
3.2. Vai trị của tổ chức Đồn TNCS Hồ Chí Minh trong công tác phát hiện, bồi
dưỡng và phát huy tài năng trẻ hiện nay.............................................................22
3.3. Giải pháp tăng cường vai trò của Đồn TNCS Hồ Chí Minh trong phát huy
nguồn lực tài năng trẻ trong thời gian tới ...........................................................26
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ...................................................................34
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................36
ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TNCS
: Thanh niên Cộng sản
TNT
: Tài năng trẻ
1
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, thanh niên Việt Nam luôn nêu
cao tinh thần yêu nước, không ngại gian khổ, hy sinh, sẵn sàng dấn thân vì sự
nghiệp dựng nước và giữ nước. Được Đảng và Bác Hồ sáng lập, lãnh đạo và rèn
luyện, trong hơn 80 năm qua, Đồn TNCS Hồ Chí Minh đã khơng ngừng lớn
mạnh, trưởng thành, làm tốt nhiệm vụ đoàn kết, tập hợp, giáo dục, vận động
thanh niên tham gia các phong trào cách mạng. Dưới ngọn cờ quang vinh của
Đảng, thanh niên thời đại Hồ Chí Minh đã khơng ngừng phấn đấu, vượt qua mọi
khó khăn, thử thách, thực hiện xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần cùng tồn
Đảng, tồn dân và toàn quân viết nên những trang sử hào hùng, giải phóng dân
tộc, thống nhất đất nước, đẩy mạnh cơng cuộc đổi mới vì mục tiêu xây dựng một
nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong
công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vai trị của Đồn TNCS Hồ
Chí Minh vẫn tiếp tục được khẳng định nhằm phát huy vai trò xung kích, tình
nguyện, sáng tạo của thanh niên trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị và
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Việt Nam cùng với nhân loại đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp
lần thứ tư, "sự bùng nổ của khoa học - công nghệ, sự phát triển mạnh mẽ của
kinh tế số, kinh tế tri thức và xu hướng quốc tế hóa nguồn nhân lực vừa là thời
cơ, vừa là thách thức” tác động đến hiệu quả công tác thu hút, sử dụng và phân
bố nguồn nhân lực tài năng hiện nay. Sự dịch chuyển “nguồn nhân lực tài năng”
đang là biểu hiện rõ nét nhất của tác động chính sách đến sự phát triển không
đồng đều giữa các khu vực, các vùng miền và giữa các quốc gia. Hiện tượng
nguồn nhân lực tài năng chuyển từ khu vực này sang làm việc cho khu vực khác
trong một quốc gia hay từ quốc gia này sang quốc gia khác đang là một hiện
tượng khách quan hiện nay. Nhiều quốc gia phát triển trên thế giới đã và đang
có những đầu tư lớn về thu hút nguồn nhân lực tài năng, đặt nguồn nhân lực trẻ
tài năng trở thành vấn đề chiến lược quốc gia. Sức hút và sự cạnh tranh nguồn
2
nhân lực trẻ tài năng không chỉ dừng lại ở phạm vi quốc gia, phạm vi một khu
vực mà trở thành vấn đề có tính chất tồn cầu.
Có thể khẳng định, với sự quan tâm chăm lo của Đảng, Nhà nước; sự vào
cuộc của các bộ ngành, địa phương; đặc biệt vai trị, sứ mệnh của tổ chức Đồn
TNCS Hồ Chí Minh và các tổ chức thanh niên do Đồn làm nịng cốt, cơng tác
tài năng trẻ giai đoạn 2015-2020 đã tạo môi trường thuận lợi để tuổi trẻ Việt
Nam phát huy trí tuệ, bộc lộ tài năng, phát triển lớn mạnh đội ngũ tài năng trẻ
Việt Nam trên các lĩnh vực. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế trong công tác
phát hiện, bồi dưỡng tài năng trẻ hiện nay. Đó là nhận thức về vai trị, tầm quan
trọng của công tác tài năng trẻ ở một số bộ ngành, địa phương, đơn vị, một số cơ
sở Đoàn và cán bộ đồn chưa đầy đủ, chưa có kế hoạch cụ thể về công tác tài
năng trẻ trong tổng thể chương trình, kế hoạch cơng tác thanh niên của địa
phương, đơn vị; việc tham mưu cơ chế, chính sách tài năng trẻ đã được quan
tâm nhưng phần nhiều mới dừng lại ở các hội nghị, hội thảo, tọa đàm ở cấp ủy,
chính quyền các cấp. Chưa có các đề án, kế hoạch đầu tư nguồn lực một cách ổn
định, bảo đảm điều kiện cho tài năng trẻ phát triển; Công tác tìm kiếm, phát
hiện, tơn vinh tài năng trẻ được thực hiện chủ yếu trong hệ thống tổ chức Đoàn
TNCS Hồ Chí Minh và ở một số các cơ quan, đơn vị thuộc khu vực nhà nước,
chưa rộng rãi trong tồn xã hội.
Xuất phát từ u cầu đó, tác giả đã lựa chọn vấn đề: “Vai trị của Đồn
TNCS Hồ Chí Minh trong phát huy nguồn lực tài năng trẻ đối với phát triển
kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp cao cấp lý luận
chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay đã có một số cơng trình khoa học nghiên cứu về vai trị
Trung ương Đồn TNCS Hồ Chí Minh và cơng tác phát hiện, bồi dưỡng và phát
huy tài năng trẻ ở Việt Nam. Liên quan đến đề tài, có thể phân loại các cơng
trình này thành các nhóm cơ bản sau:
3
2.1. Nhóm vấn đề nghiên cứu về tổ chức Đồn và vai trị của Trung
ương Đồn TNCS Hồ Chí Minh có một số cơng trình tiêu biểu như: Xây
dựng tổ chức Đồn TNCS Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử mới hiện nay ,
Đề tài cấp Viện của Nguyễn Duy Hùng, 1990.; Đề tài Đồn TNCS Hồ Chí
Minh với nhiệm vụ giáo dục ý thức công dân cho thanh thiếu niên, Đề tài Cấp
Viện của Đinh Đức Lập, 1995; Vai trị của Đồn thanh niên trong việc xây
dựng tổ chức hệ thống chính trị ở cơ sở, Đề tài Cấp Viện của Nguyễn Văn
Lùng, 1995; Mơ hình tổ chức và hoạt động của Đồn TNCS Hồ Chí Minh ở cơ
sở, Đề tài Cấp Viện, Trần Miều, 1996; Lịch sử Đồn TNCS Hồ Chí Minh, do
Văn Tùng chủ biên và tập thể tác giả, năm 2000; Hà Thị Dung (2004), Đồn
TNCS Hồ Chí Minh với việc tham gia đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực trẻ ,
Chuyên đề khoa học, Viện nghiên cứu Thanh niên; Bùi Sĩ Tụng (Chủ nhiệm đề
tài) (2012), Nghiên cứu các giải pháp nâng cao vai trị đồng hành của Đồn
TNCS Hồ Chí Minh với Thanh niên về nghề nghiệp và việc làm, Báo cáo kết
quả nghiên cứu Đề tài khoa học cấp Bộ, Mã số: ĐT.KXĐTN 2012 - 09, Trung
ương Đồn TNCS Hồ Chí Minh, Hà Nội; Nguyễn Bích Điểm (2001), Đồn
TNCS Hồ Chí Minh với việc nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng cho thanh
niên trong giai đoạn hiện nay, Đề tài mã số KTN 2000-01, Bộ KHCN&MT,
Trung ương Đồn TNCS Hồ Chí Minh, Hà Nội; Nguyễn Bích Điểm (Chủ
nhiệm đề tài) (2015), Vai trị của Đồn Thanh niên tham gia giảm thiểu tình
trạng hơn nhân cận huyết thống của một số dân tộc thiểu số , Đề tài cấp Bộ, Mã
số: KXĐTN.15-09, Trung ương Đồn TNCS Hồ Chí Minh, Hà Nội; Nguyễn
Long Hải (Chủ nhiệm đề tài) (2014), Đánh giá tổng kết lý luận và thực tiễn 30
năm Đồn TNCS Hồ Chí Minh tham gia đổi mới đất nước, Báo cáo kết quả
nghiên cứu Đề tài khoa học cấp Bộ, Mã số: KTN 2014 - 9, Trung ương Đồn
TNCS Hồ Chí Minh, Hà Nội, v.v..
Qua các cơng trình này, các tác giả đã khái qt một cách có hệ thống về
sự hình thành, phát triển, chức năng, vai trò của tổ chức Đồn và Trung ương
Đồn TNCS Hồ Chí Minh trong cơng cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
4
2.2. Nhóm vấn đề nghiên cứu về cơng tác phát hiện, bồi dưỡng và phát
huy tài năng trẻ Việt Nam có một số cơng trình như: Ban Thường vụ Trung
ương Đoàn ban hành Kết luận số 08 KL/TWĐTN-KHCN ngày 19/5/2014 về
“Một số giải pháp đẩy mạnh công tác tài năng trẻ của Đồn TNCS Hồ Chí
Minh giai đoạn 2014-2017”; Tác giả Trần Văn Miều với đề tài: Huy động lực
lượng thanh niên tham gia các cơng trình xây dựng hạ tầng cơ sở, thơng qua đó
để bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực trẻ, 1997; Tư tưởng Hồ Chí Minh về
giáo dục thanh niên, Đề tài Cấp Viện của Nguyễn Văn Tùng, 1993; Những định
hướng cơ bản về công tác thanh niên trong tiến trình hội nhập khu vực và thế
giới của Hồ Đức Việt, 1996; Đoàn Văn Thái (2000), Nhiệm vụ cơ bản của thanh
niên Việt Nam trong thời kỳ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đề tài mã
sỗ KNT-99-02, Bộ KHCN và MT, Trung ương Đồn TNCS Hồ Chí Minh; Báo
cáo khoa học: Phong trào hành động cách mạng của thanh niên - Thực trạng và
định hướng phát triển, Đề tài KTN 2001-05 của Ban Thanh niên nông thôn do
Vũ Văn Tám làm chủ nhiệm đề tài; Nguyễn Phước Lộc (Chủ nhiệm đề tài)
(2010), Tổng quan tình hình thanh niên, cơng tác Hội LHTN Việt Nam và Phong
tròa thanh niên nhiệm kỳ 2005 - 2010, Bộ KHCN và MT, Trung ương Đồn
TNCS Hồ Chí Minh, Hà Nội; Nguyễn Đắc Vinh (Chủ nhiệm đề tài) (2012),
Tổng quan tình hình Thanh niên, cơng tác Đồn và phong trào Thanh thiếu nhi
giai đoạn 2007 - 2012, mục tiêu, phương hướng, giải pháp giai đoạn 2012 2017, Báo cáo kết quả nghiên cứu Đề tài khoa học cấp Bộ, Mã số: KTN 2012 02, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hà Nội, v.v.. Qua các cơng trình
này, các tác giả đã khái quát được tình hình hoạt động của Đồn và cơng tác
phát hiện, bồi dưỡng và phát huy tài năng trẻ hiện nay.
Như vậy, các cơng trình nghiên cứu trên đã bước đầu đưa ra các phương
hướng, giải pháp để phát huy vai trò của tổ chức Đồn trong cơng tác phát hiện,
bồi dưỡng và phát huy tài năng trẻ hiện nay. Có thể nói, các giải pháp do các tác
giả đưa ra tương đối toàn diện ở cả cấp độ vĩ mô và cấp độ vi mô. Những giải
pháp do các tác giả nêu ra đã định hướng cho tác giả trong việc đề xuất những
5
giải pháp nhằm phát huy vai trò của Trung ương Đồn đối với cơng tác phát
hiện, bồi dưỡng và phát huy tài năng trẻ hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận về vai trò của Trung ương Đồn
TNCS Hồ Chí Minh đối với cơng tác phát hiện, bồi dưỡng và phát huy tài năng
trẻ ở Việt Nam hiện nay, luận văn đánh giá thực trạng và một số vấn đề đặt ra,
từ đó xác định phương hướng, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy
vai trị của Trung ương Đồn TNCS Hồ Chí Minh trong vấn đề này.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật
của Nhà nước về vị trí, vai trị của Trung ương Đồn TNCS Hồ Chí Minh.
Đề tài sử dụng một số các phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản,
trong đó chủ yếu là phương pháp phân tích tài liệu sẵn có. Phương pháp này
được áp dụng để thu thập và nghiên cứu tài liệu trong nước, nước ngoài từ các
nguồn tài liệu nghiên cứu từ các cơ quan chuyên môn, học viện, viện nghiên
cứu, trường đại học có uy tín); từ cơng trình, dự án khoa học được cơng bố
chính thức, báo cáo của cơ quan có thẩm quyền, quan điểm của các tổ chức, cá
nhân là chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu; phân tích các loại tài liệu được
thu thập của địa phương để khẳng định mức độ chính xác và tin cậy của thơng
tin thu thập.
5. Phạm vi nghiên cứu đề tài
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu vai trị của Trung ương Đồn TNCS
Hồ Chí Minh đối với công tác phát hiện, bồi dưỡng và phát huy tài năng trẻ ở
Việt Nam hiện nay.
- Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu vai trò của Trung ương Đồn
TNCS Hồ Chí Minh đối với cơng tác phát hiện, bồi dưỡng và phát huy tài năng
trẻ ở Việt Nam từ năm 2015 đến nay.
6
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể góp phần làm sáng tỏ thêm những
vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trị của Trung ương Đồn TNCS Hồ Chí Minh
đối với cơng tác phát hiện, bồi dưỡng và phát huy tài năng trẻ. Kết quả nghiên
cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy
các vấn đề liên quan đến vai trị của Trung ương Đồn TNCS Hồ Chí Minh và
phong trào hành động cách mạng ở các cơ sở giáo dục và đào tạo hiện nay.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài gồm 3 chương, 8 tiết.
7
PHẦN 2. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY
NGUỒN LỰC TÀI NĂNG TRẺ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
1.1. Khái niệm về nguồn lực
Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về nguồn lực và nguồn lực cho
phát triển kinh tế. Theo nghĩa hẹp, nguồn lực được hiểu là các nguồn lực vật
chát như: đất đai, lao động, tài nguyên khoáng sản, tiền mặt, V.V.. Theo nghĩa
rộng, nguồn lực được hiểu là những lợi thế, tiềm năng vật chất và phi vật chất để
phục vụ cho một mục đích nào đó.
Nguồn lực khơng chỉ có trong hiện thực mà ở cả dạng tiềm năng, khơng
chỉ có ở trong nước, mà cịn tính đến khả năng khai thác từ nước ngoài, nhằm
đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội và môi trường. Dù tiếp
cận ở cách này hay cách khác, thì nguồn lực cũng được hiểu là những thứ cung
cấp cho một quốc gia, một tổ chức hoặc một cá nhân có thể khai thác và sử
dụng, nhằm mục đích làm tăng thêm sự giàu có.
Từ năm 1986 đến nay, trong các văn kiện Đại hội Đảng đã đề cập đến
nguồn lực, thống nhất quan niệm về các nguồn lực phát triển kinh tế theo nghĩa
rộng bao gồm vốn, tài nguyên thiên nhiên, lao động và khoa học, công nghệ,
nhưng chưa đưa ra khái niệm cụ thể. Một số nội dung được coi là nguồn lực cho
sự phát triển của đất nước được đề cập trong các văn kiện Đại hội Đảng, pháp
luật của Nhà nước, các cơng trình nghiên cứu khoa học, lý luận như: sức người,
niềm tin, truyền thống, khát vọng dân tộc..., sức của, con người, vốn nhân lực,
vốn đầu tư, tài chính, tài nguyên, đất đai, nguồn lực mềm; hoặc nguồn lực cứng;
nguồn lực thực tế, nguồn lực tiềm năng; nguồn lực vật chất (vật thể) và nguồn
lực phi vật chất (phi vật thể); nguồn lực bên trong (nội lực), nguồn lực bên ngoài
(ngoại lực); nguồn lực nhà nước, nguồn lực cá nhân, nguồn lực xã hội, nguồn
lực kinh tế số (dữ liệu, thông tin...)... Đến Đại hội XIII, quan điểm về nguồn lực
8
được tiếp tục mở rộng và khẳng định: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý
chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và khát vọng phát triển đất
nước phồn vinh, hạnh phúc... Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại;
phát huy cao độ nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất
là nguồn lực con người là quan trọng nhất”; “Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ
thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi
trường thuận lợi để huy động, phân bố và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực,
thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh” .
Như vậy có thể hiểu, nguồn lực là tồn bộ các yếu tố vật chất và phi vật
chất trong nước và ngoài nước, là đầu vào, là điều kiện, cơ sở cần thiết, góp
phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của một đất nước.
Nguồn lực có các đặc điểm sau:
Số lượng nguồn lực phụ thuộc vào sự phát triển nhận thức của con người
và thay đổi vị trí, vai trị theo thời gian cũng như theo trình độ người sử dụng
chúng. Nguồn lực phụ thuộc vào trình độ phát triển của lồi người, đặc biệt là
trình độ khoa học và công nghệ dẫn đến việc phát hiện và sử dụng nguồn lực
mới. Nguồn lực có tính khan hiếm, hữu hạn... Nguồn lực có tính động, có thể di
chuyển từ nơi này sang nơi khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác, từ ngành
này sang ngành khác và vai trị của nó cũng thay đổi cùng với q trình phát
triển. Nguồn lực chỉ được sử dụng có hiệu quả khi được phân bổ hợp lý.
1.2. Nguồn lực lao động đối với phát triển kinh tế xã hội
Theo cuộc điều tra dân số quốc gia Tổng số dân của Việt Nam năm 2019
là 96.208.984 người, trong đó dân số nam là 47.881.061 người (chiếm 49,8%)
và dân số nữ là 48.327.923 người (chiếm 50,2%). Với kết quả này, Việt Nam là
quốc gia đông dân thứ 15 trên thế giới.
Theo điều tra của Tổng cục Thống kê, vùng đông dân nhất Việt Nam là
đồng bằng sông Hồng với khoảng 22,5 triệu người, kế tiếp là Bắc Trung bộ và
9
Duyên hải Nam Trung bộ với khoảng 20,1 triệu người, thứ ba là Đông Nam bộ
với 17,8 triệu người, thứ tư là đồng bằng sông Cửu Long với khoảng 17,2 triệu
người. Vùng ít dân nhất là Tây Nguyên với khoảng 5,8 triệu người. Theo điều
tra dân số và nhà ở giữa kỳ (IPS) 2019, 34,4% dân số Việt Nam đang sinh sống
tại thành thị và 65,6% cư trú ở nông thơn. Về tỷ số giới tính trung bình vào năm
2019 là 99,1 nam/100 nữ.
Trong quý I/2020, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 55,3 triệu
người, giảm 673,1 nghìn người so với quý trước và giảm 144,2 nghìn người so
với cùng kỳ năm trước. Sau chuỗi 5 năm tăng liên tục (2015 - 2019), đây là năm
đầu tiên lực lượng lao động giảm so với cùng kỳ các năm trước.
Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động quý I năm 2020 là 48,9 triệu
người, giảm 351,2 nghìn người so với quý trước và tăng 4 nghìn người so với
cùng kỳ năm trước. Lực lượng lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị là 16,5
triệu người, chiếm 33,7%; lực lượng lao động nữ trong độ tuổi lao động là 22
triệu người, chiếm 45% lực lượng lao động trong độ tuổi của cả nước.
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quý I năm 2020 là 75,4%, giảm 1,2
điểm phần trăm so với quý trước và giảm 1,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ
năm trước. Mức độ tham gia lực lượng lao động của dân cư khu vực thành thị và
nơng thơn vẫn cịn khác biệt đáng kể, cách biệt 10,7 điểm phần trăm (thành thị:
68,6%; nông thôn: 79,3%). Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở khu vực thành
thị thấp hơn nông thôn ở tất cả các nhóm tuổi, trong đó chênh lệch nhiều nhất
được ghi nhận ở nhóm 15 - 24 tuổi (thành thị: 43,0%; nơng thơn: 65,1%) và
nhóm từ 55 tuổi trở lên (thành thị: 36,5%; nông thôn: 52,4%). Điều này cho
thấy, người dân tại khu vực nông thôn gia nhập thị trường lao động sớm hơn và
rời bỏ thị trường muộn hơn khá nhiều so với khu vực thành thị. Đây là đặc điểm
điển hình của thị trường lao động với cơ cấu lao động tham gia ngành Nông
nghiệp chiếm tỷ trọng cao.
Trong tổng số người tham gia lực lượng lao động của quý I năm 2020, có
13,1 triệu người đã được đào tạo có bằng, chứng chỉ (từ sơ cấp trở lên), không
10
thay đổi nhiều so với quý trước và tăng 753,7 nghìn người so với cùng kỳ năm
trước - chiếm 23,7%, cao hơn 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và cao hơn
1,4 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ qua đào tạo của lao động
khu vực thành thị đạt 39,9%, cao hơn 2,5 lần so với khu vực nông thôn (15,9%).
Trong các nguồn lực, nguồn lực lao động đóng vai trị quan trọng mang
tính quyết định đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia. Bởi
vì, người lao động ln là người phát hiện, cải tạo và sáng tạo ra các nguồn lực
khác. Nguồn lực lao động là yếu tố “đầu vào” khơng thể thiếu của q trình sản
xuất, tăng trưởng và phát triển kinh tế. Với tư cách là nguồn lực đầu vào, nguồn
lực lao động kết hợp với các nguồn lực vật chất khác (tài nguyên thiên nhiên,
vốn và khoa học, cơng nghệ), tham gia vào q trình sản xuất - kinh doanh, tạo
ra hàng hóa nói riêng, của cải vật chất nói chung. Tức là, nguồn lực laọ động
tham gia trực tiếp vào quá trình tạo ra giá trị và làm tăng giá trị, hay nói cách
khác, nguồn lực lao động đã tác động vào tổng cung của nền kinh tế, thúc đẩy
nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.
Vai trị của nguồn lực lao động ở khía cạnh là bộ phận của dân số, là
người thụ hưởng những thành quả của quá trình phát triển. Lực lượng lao động
là yếu tố tạo cầu (đầu ra) cho nền kinh tế với vai trò tiêu dùng các sản phẩm và
dịch vụ xã hội. Khi thu nhập của họ tăng lên, họ sẽ có điều kiện nâng cao mức
sống, từ đó sẽ nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất, góp phần tăng
nhu cầu xã hội. Do vậy, thỏa mãn các nhu cầu của người lao động luôn được
xem là mục đích cuối cùng trong phát triển kinh tế của tất cả các quốc gia.
Nguồn lực lao động quyết định việc tổ chức, điều phối, sắp xếp và sử
dụng hiệu quả các nguồn lực khác. “Thiên nhiên không chế tạo ra mảy móc,..
Tất cả những cái đó đều là sản phẩm lao động của con người... Tất cả những
cảỉ đó đều là những cơ quan của bộ óc con người đo bàn tay con ngườỉ tạo ra,
đều là sức mạnh đã vật hóa”.
11
1.3. Tài năng trẻ - nguồn lực lao động quan trọng của
quốc gia
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ
trương, chính sách phát triển, sử dụng lực lượng tài năng trẻ nhằm thúc đẩy tăng
trưởng, phát triển kinh tế. Đảng ta đã xác định phát triển nguồn nhân lực là một
trong ba đột phá xuyên suốt của “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 20112020” và “Chiến lược phát triển kình tế - xã hộỉ 2021- 2030: “Phát triển nguồn
nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân
lực cho công tác đào tạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao,
tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện cơ bản về chất lượng giáo dục và đào
tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu,
chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và cơng nghệ, đổi mới sáng
tạo”. Trong đó, nguồn nhân lực; “Phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học
đầu ngành, chú trọng đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị
công nghệ, nhân lực quản lý, quản trị doanh nghiệp; nhân lực quản lý xã hội và
tổ chức cuộc sống, chăm sóc con người”; “Phát huy tối đa nhân tố con người,
coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của
sự phát triển; lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội
sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững. Phải có cơ chế, chính sách
phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước; mọi chính sách của Đảng, Nhà nước
đều phải hướng vào nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của
nhân dân”.
Đảng, Nhà nước, các Bộ, ban, ngành luôn chăm lo đến phát hiện, đào tạo,
bồi dưỡng nhân tài: Chính phủ đã chỉ đạo đổi mới hệ thống giáo dục, đào tạo,
nâng cao giáo dục toàn diện, gửi nhiều tài năng trẻ đi thi, đi học tập, nghiên
cứu, đào tạo ở nước ngoài để các bạn nhanh chóng tiếp cận với các cơng nghệ
hiện đại, tiên tiến của thế giới. Nhà nước có chính sách đãi ngộ đặc biệt với các
nhà khoa học trẻ xuất sắc các văn nghệ sỹ tài năng, các cán bộ khoa học trẻ.
Đồng thời, Nhà nước đã quan tâm xây dựng khu cơng nghệ cao, phịng thí
12
nghiệm trọng điểm, hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ sở hữu trí tuệ, tạo
mọi điều kiện cho các tài năng trẻ cống hiến, khuyến khích, cổ vũ thanh niên
ni dưỡng ước mơ, hồi bão sáng tạo để vươn lên làm chủ khoa học công
nghệ hiện đại.
Chương 2
THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TÀI NĂNG
TRẺ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Kết quả thực hiện việc phát huy tài năng trẻ ở Việt
Nam hiện nay
Sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, vị thế nước ta trên trường quốc
tế không ngừng nâng cao, tạo thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên và hội
nhập toàn cầu. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nói “chưa bao
giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày hôm nay”.
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu đến năm 2025, nước ta là
nước đang phát triển có cơng nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu
nhập trung bình thấp; đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, là nước
đang phát triển có cơng nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045,
kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Để thực hiện hóa khát vọng đó thì chất lượng nguồn nhân lực, nhân tài là nhân
tố quyết định. Đại hội XII của Đảng đã xác định phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao là một trong ba đột phá chiến lược. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng
tiếp tục bổ sung và phát triển đột phá chiến lược này: “Phát triển nguồn nhân
lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực
cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao,
tạo bước chuyển mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo
gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài,…”. Đây là nền tảng, là
13
môi trường thuận lợi cho thế hệ trẻ Việt Nam rèn luyện, phát triển tài năng xây
dựng và phát triển đất nước.
Thực hiện Kết luận số 86-KL/TW ngày 24/01/2014 của Bộ Chính trị về
“Chính sách thu hút tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ
khoa học trẻ”, bên cạnh những chính sách đã có đang phát huy tác dụng tốt,
Chính phủ tiếp tục ban hành một số chính sách tạo điều kiện cho thanh thiếu nhi
học tập, nâng cao trình độ, tiếp thu khoa học cơng nghệ tiên tiến, phát triển tài
năng. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quan trọng,
như: Quyết định 418/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược phát triển khoa học và
công nghệ giai đoạn 2011-2020”; Quyết định số 2474/QĐ-TTg phê duyệt Chiến
lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020; Quyết định
959/2010/QĐ- TTg phê duyệt “Đề án phát triển hệ thống trường THPT chuyên
giai đoạn 2010 - 2020”; Quyết định số 1341/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đào
tạo tài năng trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật giai đoạn 2016 - 2025, tầm nhìn
đến năm 2030”; Nghị định số 140/2017/NĐ-CP về “Chính sách thu hút tạo
nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ”; Nghị định
161/2018/NĐ-CP về việc “Sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công
chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức và thực hiện chế
độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị
sự nghiệp công lập” tại Điều 14 quy định trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng
viên chức là người có tài năng, năng khiếu đặc biệt phù hợp với vị trí việc làm
trong các ngành, lĩnh vực: văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, các ngành nghề
truyền thống.
Các bộ, ban ngành và các tỉnh, thành phố đã cụ thể hóa thành nhiều cơ
chế, chính sách cụ thể nhằm phát hiện, bồi dưỡng, phát huy tài năng trẻ và
tuyển dụng, thu hút sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc về công tác tại các
địa phương, đơn vị. Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số
11/2017/TT-BGDĐT về Quy chế xét tặng Giải thưởng “Khoa học và Công
nghệ dành cho giảng viên trẻ trong các cơ sở giáo dục đại học” . Bộ Văn hóa,
14
Thể thao và Du lịch triển khai Đề án đào tạo phát triển tài năng trong lĩnh vực
văn hóa, thể thao trong từng giai đoạn và xây dựng chính sách hướng nghiệp,
đảm bảo đầu ra với các vận động viên khi kết thúc thi đấu đỉnh cao. Bộ Khoa
học và Cơng nghệ ban hành các chính sách về đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài khoa học và công nghệ. Bộ Quốc phịng ban hành Thơng tư số
164/2018/TT-BQP ngày 01/12/2018 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động
“Giải thưởng Tuổi trẻ sáng tạo” trong Quân đội và Quy chế Gương mặt trẻ
tiêu biểu tồn qn. Bộ Cơng an ban hành Chiến lược phát triển thanh niên
Công an giai đoạn (2013-2020) và ban hành Thông tư số 59/2013/TT-BCA
ngày 23/11/2013 quy định giải thưởng “Thanh niên Công an tiêu biểu” với
157 cá nhân được tuyên dương, tặng giải thưởng trong giai đoạn 2015-2020.
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành giải thưởng tuyên dương các
học sinh sinh viên tiêu biểu trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Triển khai
thực hiện Dự án “Tuyển chọn 600 trí thức trẻ ưu tú về làm Phó Chủ tịch Ủy
ban nhân dân xã thuộc 62 huyện nghèo”, Đề án thí điểm “Tuyển chọn trí
thức trẻ tình nguyện về các xã tham gia phát triển nông thôn, miền núi giai
đoạn 2013 - 2020” của Thủ tướng Chính phủ đã góp phần rèn luyện, thử
thách, bồi dưỡng và tạo nguồn bổ sung cán bộ vào các chức danh lãnh đạo,
quản lý các cấp cũng như giúp địa phương phát triển kinh tế - xã hội, xây
dựng nông thôn mới.
2.2. Một số hạn chế của việc phát huy tài năng trẻ ở
việt nam hiện nay
Nhận thức về vai trị, tầm quan trọng của cơng tác tài năng trẻ ở một số bộ
ngành, địa phương, đơn vị, một số cơ sở Đoàn và cán bộ đoàn chưa đầy đủ, chưa
có kế hoạch cụ thể về cơng tác tài năng trẻ trong tổng thể chương trình, kế hoạch
công tác thanh niên của địa phương, đơn vị. Công tác chỉ đạo, triển khai chưa
sâu sát, thiếu tính cụ thể; nhiều đơn vị có ban hành văn bản triển khai thực hiện
kế hoạch về phát triển thanh niên nhưng cịn nặng về hình thức, chưa cụ thể hóa
thành các chương trình, đề án cụ thể, khả thi để triển khai ở địa phương, cơ sở.
15
Việc tham mưu cơ chế, chính sách tài năng trẻ đã được quan tâm nhưng
phần nhiều mới dừng lại ở các hội nghị, hội thảo, tọa đàm ở cấp ủy, chính quyền
các cấp. Chưa có các đề án, kế hoạch đầu tư nguồn lực một cách ổn định, bảo
đảm điều kiện cho tài năng trẻ phát triển. Theo điều tra của Viện Nghiên cứu
thanh niên Việt Nam năm 2019: 73% người được khảo sát cho rằng “Chủ trương
trọng dụng người tài giỏi cịn thiếu cơ chế, nguồn lực và chính sách cụ thể để
thực hiện hiệu quả”; 72,5% cho rằng “Các chính sách tạo mơi trường cho tài
năng trẻ phát triển còn thiếu đồng bộ” và 72% cho rằng “Hạn chế về điều kiện
môi trường làm việc, trang thiết bị, kinh phí và đối tác phối hợp để phục vụ cho
việc nghiên cứu khoa học của tài năng trẻ”; 70,2% cho rằng “Chính sách khen
thưởng, đãi ngộ chưa tương xứng với năng lực tài năng trẻ”. Một số ngành, địa
phương ban hành chính sách tài năng trẻ nhưng cịn thiếu hấp dẫn, riêng lẻ theo
mục tiêu của mỗi ngành hoặc mỗi địa phương và nằm rải rác ở nhiều văn bản
khác nhau, chưa bao quát, chưa đầy đủ nên còn nhiều vướng mắc trong công tác
tuyển dụng, sử dụng và bổ nhiệm cán bộ trẻ tài năng.
Nhận thức và tiêu chí về tài năng trẻ chưa có sự thống nhất và đồng bộ
trong xã hội. Có lúc, có nơi việc nhìn nhận, đánh giá của các cấp lãnh đạo,
những người “đi trước” đối với tài năng trẻ cịn có định kiến, chưa tạo môi
trường và thật sự tin cậy giao trọng trách cho các tài năng trẻ. Theo điều tra của
Viện Nghiên cứu thanh niên Việt Nam năm 2019: 76,2% người được khảo sát
cho rằng “Nhiều địa phương chưa bố trí được cơng việc phù hợp với năng lực
của tài năng trẻ”; Thiếu cơ chế, chính sách đồng bộ, tồn diện trong phát hiện,
đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, sử dụng tài năng trẻ.
Cơng tác tìm kiếm, phát hiện, tơn vinh tài năng trẻ được thực hiện chủ yếu
trong hệ thống tổ chức Đồn TNCS Hồ Chí Minh và ở một số các cơ quan, đơn
vị thuộc khu vực nhà nước, chưa rộng rãi trong toàn xã hội. Hoạt động tìm kiếm,
phát hiện, tơn vinh tài năng trẻ phần nhiều tập trung ở cấp trung ương, hoạt động
ở các địa phương còn hạn chế.
16
Công tác tài năng trẻ tập trung phần nhiều vào việc phát hiện và tơn vinh,
chưa có nhiều giải pháp để xây dựng, bồi dưỡng và phát huy tài năng trẻ một
cách bền vững sau khi được phát hiện, tôn vinh. Chưa phát huy được nguồn lực,
sự chung tay của cả hệ thống chính trị và tồn xã hội đối với công tác chăm lo
hỗ trợ và phát triển tài năng trẻ. Các hoạt động hỗ trợ tài năng trẻ mới chỉ mang
tính động viên tinh thần, khích lệ, chưa đủ lớn và đáp ứng được nhu cầu phát
triển của các tài năng trẻ, nhất là các tài năng trẻ trong các lĩnh vực đòi hỏi đầu
tư lớn về cơ sở vật chất, trang thiết bị tập luyện, phòng nghiên cứu, phịng thí
nghiệm hiện đại, đạt chuẩn quốc tế.
Nhu cầu tập hợp, kết nối, giao lưu, học hỏi và hỗ trợ lẫn nhau giữa các tài
năng trẻ là rất lớn, song thực tiễn các Hội, CLB tài năng trẻ trên các lĩnh vực
hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu. Nhiều CLB Tài năng trẻ do tỉnh, thành
đoàn, đoàn trực thuộc thành lập, quản lý hoạt động cịn hình thức, chưa thực sự
hấp dẫn các tài năng trẻ bởi thiếu sự quan tâm, định hướng, thiếu các thủ lĩnh tài
năng có khả năng dẫn dắt và quy tụ các tài năng trẻ.
17
Chương 3
VAI TRỊ CỦA ĐỒN TNCS HỒ CHÍ MINH TRONG PHÁT HUY
NGUỒN LỰC TÀI NĂNG TRẺ
3.1. Khái quát về tổ chức Đồn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội của
thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh
sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện. Đoàn bao gồm những thanh niên tiên tiến, phấn
đấu vì mục đích, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã
hội, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Được xây dựng, rèn luyện và trưởng thành qua các thời kỳ đấu tranh cách
mạng, Đoàn đã tập hợp đông đảo thanh niên phát huy chủ nghĩa anh hùng cách
mạng, cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bước vào thời kỳ mới, Đoàn tiếp tục phát huy
những truyền thống quý báu của dân tộc và bản chất tốt đẹp của mình, xây dựng
thế hệ thanh niên Việt Nam giàu lòng yêu nước, tự cường dân tộc; kiên định lý
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có đạo đức cách mạng, ý thức chấp
hành pháp luật, sống có văn hóa, vì cộng đồng; có năng lực, bản lĩnh trong hội
nhập quốc tế; có sức khỏe, tri thức, kỹ năng và tác phong công nghiệp trong lao
động tập thể, trở thành những công dân tốt của đất nước; xung kích, sáng tạo
làm chủ khoa học công nghệ tiên tiến, vươn lên ngang tầm thời đại. Đồn Thanh
niên Cộng sản Hồ Chí Minh kế tục trung thành, xuất sắc sự nghiệp cách mạng
vẻ vang của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; thường xuyên bổ sung lực lượng
trẻ cho Đảng; tổ chức động viên đoàn viên, thanh niên cả nước đi đầu trong sự
nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng
Cộng sản Việt Nam; là lực lượng xung kích cách mạng; là trường học xã hội chủ
nghĩa của thanh niên; đại diện chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính
đáng của tuổi trẻ; phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh; là lực
18
lượng nịng cốt chính trị trong phong trào thanh niên và trong các tổ chức thanh
niên Việt Nam.
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là thành viên của hệ thống chính
trị, hoạt động trong khn khổ Hiến pháp và Pháp luật của nước Cộng hòa Xã
hội Chủ nghĩa Việt Nam. Đoàn phối hợp với các cơ quan Nhà nước, Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, các đoàn thể, tổ chức kinh tế, xã hội, các tập thể lao động và gia
đình chăm lo giáo dục, đào tạo và bảo vệ thanh thiếu nhi; tổ chức cho đồn viên,
thanh niên tích cực tham gia vào việc quản lý nhà nước và xã hội.
Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đồn kết, phát triển quan hệ hữu
nghị, hợp tác bình đẳng với các tổ chức thanh niên tiến bộ, thanh niên và nhân
dân các nước trong cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hịa bình, độc lập dân tộc,
dân chủ và tiến bộ xã hội, vì tương lai và hạnh phúc của tuổi trẻ.
* Khái quát sự ra đời của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Vào mùa xuân năm 1931, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng
lần thứ 2 diễn ra từ ngày 20 đến ngày 26/3, Trung ương Đảng đã giành một phần
quan trọng trong chương trình làm việc để bàn về cơng tác thanh niên và từ đó
đi đến những quyết định có ý nghĩa đặc biệt. Từ thực tiễn phát triển lớn mạnh
của Đoàn Thanh niên trên cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, ở Việt Nam đã xuất hiện
nhiều tổ chức Đoàn cơ sở với khoảng 1.500 đồn viên và một số địa phương đã
hình thành tổ chức Đoàn từ xã, huyện đến cơ sở.
Sự phát triển lớn mạnh của Đoàn Thanh niên đã đáp ứng kịp thời những
đòi hỏi cấp bách của phong trào cách mạng Việt Nam. Được Bộ Chính trị Ban
chấp hành Trung ương Đảng và Bác Hồ cho phép, theo đề nghị của Trung ương
Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, Đại hội toàn quốc lần thứ 3 họp từ ngày
22 - 25/3/1961 đã quyết định lấy ngày 26/3/1931 làm ngày thành lập Đoàn hàng
năm. Ngày 26/3 đã trở thành ngày đặc biệt của tuổi trẻ Việt Nam, của Đồn
TNCS Hồ Chí Minh quang vinh.
Từ ngày 26/3/1931 đến nay, để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng
thời kỳ cách mạng, Đoàn đã đổi tên nhiều lần: Từ 1931 - 1936: Đoàn TNCS