MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐÁNH
THẮNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH CỤC BỘ” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ
(1965-1968) ........................................................................................................... 9
1.1 Hoàn cảnh lịch sử .................................................................................... 9
1.2. Chủ trương của Đảng ........................................................................... 13
1.3. Đảng chỉ đạo đánh thắng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc
Mỹ (1965 - 1968) ........................................................................................ 21
CHƯƠNG 2. NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM.......................... 35
2.1. Nhận xét ............................................................................................... 35
2.2. Bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo chống chiến lược “Chiến tranh cục
bộ” của đế quốc Mỹ (1965 -1968) .............................................................. 42
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 55
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................... 57
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NĂM 2021 .................................. 60
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước (1954 -1975), giai đoạn (1965 –
1968) là thời kỳ quân và dân ta phải trực tiếp đương đầu với một lực lượng quân
sự khổng lồ bao gồm lục quân, không quân, hải quân Mỹ. Với ưu thế về số
quân, vũ khí hiện đại và dồi dào, khả năng cơ động cao, hỏa lực mạnh, lại chiếm
ưu thế áp đảo trên không, trên sông, trên biển, giới lãnh đạo nước Mỹ ngày ấy
vững tin vào một thắng lợi dễ dàng và nhanh chóng đối với Việt Nam. Thực tế
cho thấy, thời điểm năm 1965, việc đánh bại đội qn viễn chinh Mỹ, để qua đó
bẻ gãy ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ là chưa có tiền lệ trong lịch sử. Đây rõ
ràng là một thử thách lớn, mang ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh đất nước,
đặt ra cho toàn dân tộc Việt Nam.
Với ý trí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ, Đảng đã đề ra chủ trương đường
lối phù hợp với thực tiễn lịch sự, lãnh đạo quần chúng nhân dân đánh thắng
chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ với các chiến dịch: mùa khô năm (1965
– 1966), (1966 – 1967) và Tổng tân công nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968. Làm
lên những thắng lợi đó, nhân dân ta phải trải qua bốn năm thử thách ác liệt, hi
sinh không nhỏ, cố gắng phi thường, vượt lên mọi khó khăn gian khổ.
Đại hội lần thứ IV của Đảng nhận định, thắng lợi này đã làm “đảo lộn thế
chiến lược của địch, là phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, làm lung lay ý
chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi
và bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Paris”1. Thực tế lịch sử đã chứng minh, kể
từ thất bại Tết Mậu Thân năm 1968, Mỹ buộc phải chấp nhận ký hiệp định rút
quân về nước.
Trong thực tế những năm qua đã có nhiều cơng trình khoa học nghiên cứu
liên quan đến Đảng lãnh đạo kháng chiến chống chiến lược “Chiến tranh cục
bộ” của đế quốc Mỹ từ năm 1965 đến năm 1968. Tuy nhiên vẫn có nhiều nội
dung cần làm sáng tỏ. Vì vậy, nghiên cứu này đã làm sáng tỏ một cách hệ thống
1
Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo chính trị của BCH TƯ Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV,
tr.17-18.
2
và rút bài học kinh nghiệm góp phần làm rõ hơn về quá trình Đảng lãnh đạo
chống chiến lược Chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ từ năm 1965 đến năm
1968 nói riêng và q trình Đảng lãnh đạo kháng chiến chống Mỹ ( 1954 –
1975), góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.
Xuất phát từ những lý do trên đây, tôi chọn đề tài “Đảng lãnh đạo chống
chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ từ năm 1965 đến năm
1968” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Tìm hiểu tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài “Đảng lãnh đạo chống
chiến lược Chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ từ năm 1965 đến năm 1968” cho
thấy các nhà khoa học và các tác giả đã tiếp cận vấn đề này theo nhiều cách khác
nhau. Có thể khái lược thơng qua một số cơng trình tiêu biểu như sau:
Cuốn sách: “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, tập
IV”, bộ Quốc phòng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, 2015. Cuốn sách đã trình bày, phân tích và làm rõ quá trình đấu tranh
chống Mỹ, cứu nước khốc liệt của nhân dân ta giai đoạn 1966-1967 nhưng hào
hùng của nhân dân ta trên cả hai miền Nam - Bắc. Các sự kiện trong tập sách
được trình bày một cách chân thực theo phương pháp lịch sử và logic dựa trên
nền tảng tư tưởng phong phú và tin cậy. Cách thức thể hiện sự kiện lịch sử khá
nhuần nhuyễn.
Cuốn sách: “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, tập
V”, bộ Quốc phòng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, 2015. Cuốn sách đã trình bày, phân tích và làm rõ những nội dung
chính và quan trọng nhất của q trình tổng tiến cơng và nổi dậy năm 1968. Nội
dung được các tác giả trình bày một cách sinh động, thuyết phục và chân thực.
Cuốn sách: “Tiến trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam 1930 – 2016”
PGS,TS Ngô Đăng Tri, Nxb Thông tin và Truyền thơng, 2016. Cuốn sách đã
khái lược tồn bộ tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam từ 1930-2016, trong đó
giai đoạn từ 1965-1968 Đảng lãnh đạo chống chiến lược Chiến tranh cục bộ
cũng được khái quát, đầy đủ, ngắn gọn toàn bộ nội dung, giúp người đọc dễ
3
dàng nắm bắt được nội dung cơ bản của giai đoạn này.
Cuốn sách, “Chiến tranh nhân dân địa phương trong chiến tranh bảo vệ
Tổ quốc”, của Đại tướng Văn Tiến Dũng, Nxb QĐND, Hà Nội, 1979. Cuốn
sách đăng tải những bài nói của Đại tướng Văn Tiến Dũng tại lớp học cán bộ
trung cao cấp về công tác quân sự địa phương. Trong đó đề cập đến sự phát triển
mới về lý luận quân sự của ta trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, có ý nghĩa chỉ
đạo thực tiễn nhằm tăng cường sức mạnh chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến
đấu của các địa phương.
Cuốn sách, “Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi và
bài học”, Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Nxb CTQG,
Hà Nội, 2000. Cuốn sách có nội dung phong phú về nhiều mặt, phản ánh tầm
vóc của cuộc kháng chiến vĩ đại do Đảng lãnh đạo. Cuốn sách đã khái quát tiến
trình của cuộc kháng chiến qua các chặng đường lịch sử; đánh giá những ưu
điểm, khuyết điểm của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo kháng chiến; tổng kết các
bài học kinh nghiệm trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Qua
những bài học đó, tác phẩm đã đề cập đến vai trị của cơng tác tư tưởng, khẳng
định muốn đánh thắng chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, trước hết phải có
quyết tâm chiến đấu rất cao và kiên trì quyết tâm đó trong mọi hồn cảnh, dựa
trên lịng u nước nồng nàn là một truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc.
Quyết tâm đó phải được hướng dẫn bằng một đường lối chính trị đúng đắn sáng
tạo, độc lập, tự chủ và phải được tuyên truyền phổ biến rộng rãi và quán triệt sâu
sắc trong nhân dân biến nó thành sức mạnh vật chất, thành các phong trào quần
chúng mạnh mẽ.
Đề tài, “Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam tập II (1954 -1975)”, do
PGS,TS. Nguyễn Trọng Phúc làm chủ nhiệm, thực hiện nhiệm vụ Trung ương
giao năm 2009. Cơng trình đã nêu rõ vai trò lãnh đạo, sự sáng tạo của Đảng của
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hoạch định đường lối, chủ trương, phương pháp cách
mạng qua từng thời kỳ lịch sử, làm rõ sự chủ động sáng tạo của Đảng trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ, xây dựng CNXH (1954- 1975). Trình bày khái quát
phong trào cách mạng tiêu biểu của khối đại đoàn kết dân tộc. Đúc rút những kinh
4
nghiệm lịch sử trong hoạt động của Đảng (1954 -1975).
Đề tài, Những sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 -1975) do PGS,TS. Phạm Xuân Mỹ chủ nhiệm,
đề tài trọng điểm Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2010. Cơng
trình đã chỉ rõ những mới mẻ, sáng tạo của Đảng trong việc vận dụng chủ nghĩa
Mác - Lênin về chiến tranh nhân dân, kế thừa truyền thống dân tộc, kinh nghiệm
của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
1945 -1954 và thực tiễn lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong
đó cơng trình tập trung làm rõ những vấn đề lớn như: Cơ sở lý luận và thực tiễn
hình thành những sáng tạo của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
(1954 – 1975); những sáng tạo về đường lối, phương pháp cách mạng, công tác tư
tưởng, về nghệ thuật chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; Những hạn
chế của Đảng trong quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Đề tài, Đảng lãnh đạo kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng
CNXH ở miền Bắc (1954-1975) do PGS, TS. Bùi Kim Đỉnh chủ nhiệm năm
2015. Cơng trình đã đề cập đến những nội dung: Đảng lãnh đạo cách mạng xã
hội chủ nghĩa ở miền Bắc (1954-1964); Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống đế
quốc Mỹ và tay sai ở miền Nam (1954 - 1964); Đảng lãnh đạo cả nước kháng
chiến chống đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước (1965 - 1975); Những đặc điểm
nổi bật trong hoàn cảnh đất nước thời kỳ 1954-1975; Tiến trình Việt Nam thực
hiện hai chiến lược cách mạng; Ý nghĩa lịch sử- Bài học kinh nghiệm.
Đề tài, Đảng lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, do TS. Vũ
Ngọc Lương chủ nhiệm, đề tài nghiên cứu khoa học cơ sở cấp Học viện năm
2019. Cơng trình đã làm rõ quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân, từ đó rút ra nhận xét, bài học kinh nghiệm để vận dụng trong giai đoạn
hiện nay. Trong đó làm sáng tỏ những vấn đề trọng tâm: Luận giải làm rõ quá
trình Đảng lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân qua các giai đoạn
(1930-1945), (1945-1954), (1954-1975); làm rõ những thành tựu và hạn chế trong
lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của Đảng; đúc rút một số bài học
kinh nghiệm của Đảng trong lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
5
Đề tài, Đảng lãnh đạo kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng
CNXH ở miền Bắc (1954-1975), do TS. Vũ Thị Duyên chủ nhiệm đề tài nghiên
cứu khoa học cơ sở cấp Học viện năm 2020. Cơng trình đề cập đến: Đường lối
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước qua hai giai đoạn (1954-1964), (1965-1975),
các phong trào chống Mỹ ở miền Nam và chống chiến tranh phá hoại ở miền
Bắc, đường lối và các phong trào xây dựng CNXH ở miền Bắc, nguyên nhân
thắng lợi, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm.
Giáo trình Cao cấp lý luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (2019), Nxb
Lý luận chính trị. Cuốn giáo trình đã giành bài 2 để đề cập đến nội dung về
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc (1945 – 1975),
cung cấp khách quan về quá trình kháng chiến chống ngoại xâm dưới sự lãnh
đạo của Đảng; bài 3 Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng xã hội chủ
nghĩa (1954 – 1986) qua đó là sáng rõ những vấn đề về lý luận và thực tiễn quá
trình Đảng lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền bắc (1954 – 1975).
Giáo trình Đảng lãnh đạo hai cuộc kháng chiến và xây dựng chế độ mới
(1945 – 1975), Nxb Quân đội Nhân dân 2015. Với kết cấu gồm 9 chương trong
đó từ chương 4 đến chương 9, cuống giáo trình đề cập khái quát những nội dung
đến quá trình Đảng lãnh đạo kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng
CNXH ở miền Mắc (1954 – 1975), giáo trình đã tổng kết những thành tựu, hạn
chế và kinh nghiệm lịch sử trong kháng chiến chống Mỹ và xây dựng CNXH ở
miền Bắc.
Ngồi ra cịn có những bài báo đăng tạp chí có nội dung nghiên cứu liên
quan trực tiếp đến đề tài: Đại úy Nguyễn Văn Quyền, Đánh thắng "Chiến tranh
cục bộ" của đế quốc Mỹ, báo Nhân Dân (3/2005); TS Trịnh Thị Hồng Hạnh,
“Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 quyết định tạo bước ngoặt trong
kháng chiến chống Mỹ cứu nước” Tạp chí Đảng cộng sản (04/2013); Chu LộcPhương Thảo, “Chiến dịch Chiến tranh cục bộ: Mùa khô thứ nhất 1965- 1966”
Bảo tảng lịch sử Quốc gia (4/2013); PGS,TS. Đinh Quang Hải, Cuộc Tổng tiến
công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 trong tiến trình lịch sử Việt Nam” Tạp chí
Quân đội Nhân dân (2-2018); TS. Vũ Thị Duyên Nghệ thuật vận động, đấu
6
tranh ngoại giao và địn tiến cơng chiến lược Mậu Thân 1968, Tạp chí Lý luận
chính trị & truyền thơng, Số tháng 9 năm 2020.
Như vậy, từ các cơng trình nghiên cứu và các bài tạp chí liên quan đến đề tài,
tôi nhận thấy: Các công đã đề cập đến nội dung về quá trình Đảng lãnh đạo chống
chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ (1965 – 1968) dưới nhiều góc
độ khác nhau. Song, chưa có cơng trình nào nghiên cứu trực tiếp đến đề tài “Đảng
lãnh đạo chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ từ năm 1965
đến năm 1968” và rút ra những vấn đề có ý nghĩa lịch sử, giá trị thực tiễn trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh chống lại chiến lược “Chiến
tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ từ năm 1965 đến năm 1968, trên cơ sở đó rút ra bài
học kinh nghiệm góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ hoàn cảnh lịch sử từ năm 1965 đến năm 1968.
- Làm rõ chủ trương và quá trình Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống
chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ từ năm 1965 đến năm 1968.
- Rút ra những kinh nghiệm trong lãnh đạo kháng chiến chống chiến lược
“Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ từ năm 1965 đến năm 1968.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình Đảng lãnh đạo chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế
quốc Mỹ từ năm 1965 đến năm 1968.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Các văn kiện, nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về lãnh đạo
kháng chiến chống Mỹ, chống Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ
từ năm 1965 đến năm 1968.
Về thời gian: Từ năm 1965 đến năm 1968
Về không gian: Trên phạm vi miền Nam
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
7
5.1. Cơ sở lí luận
Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là: lịch sử, logic, tổng hợp, phân tích, so
sánh…
6. Đóng góp của khóa luận
- Trình bày có hệ thống nội dung đường lối của Đảng trong lãnh đạo chống
chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ từ năm 1965 đến năm 1968.
- Đánh giá một cách khách quan về quá trình Đảng lãnh đạo chống chiến
lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ từ năm 1965 đến năm 1968.
- Rút ra những bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo chống chiến lược
“Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ từ năm 1965 đến năm 1968.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của khóa luận
7.1. Về lý luận
- Góp phần làm phong phú thêm lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
nói chung và lịch sử Đảng lãnh đạo chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế
quốc Mỹ từ năm 1965 đến năm 1968 nói riêng.
- Làm rõ thêm những nội dung và kết quả của quá trình đấu tranh chống
chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ từ năm 1965 đến năm 1968
- Góp phần làm phong phú thêm những bài học kinh nghiệm trong lãnh
đạo chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ từ năm 1965 đến
năm 1968.
7.2. Về thực tiễn
- Làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập học
phần Đảng lãnh đạo kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng CNXH ở
miền Bắc (1954-1975) tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
- Củng cố niềm tin cho sinh viên, đảng viên – sinh viên và quần chúng
nhân dân vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng.
8. Kết cấu của khóa luận
Đề tài gồm: Phần mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan
8
đến đề tài, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2 chương:
Chương 1. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đánh thắng chiến lược
“Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ (1965-1968)
Chương 2. Nhận xét và một số kinh nghiệm
9
CHƯƠNG 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐÁNH THẮNG
CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH CỤC BỘ” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1965-1968)
1.1 Hồn cảnh lịch sử
1.1.1. Thuận lợi
Phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi và Mỹ - latinh tấn công
mạnh mẽ vào chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới. Với hơn 60
quốc gia có độc lập và có chủ quyền mới ra đời trên thế giới tạo điều kiện mở
rộng phong trào không liên kết cũng như hình thành nên tổ chức đồn kết ba
châu Á, Phi và Mỹ - latinh. Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa được củng cố
thêm và nối liền từ Âu sang Á và Mỹ La-tinh, là thành trì của hịa bình và an
ninh của các dân tộc.
Những thành tựu của Liên Xô trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế,
văn hóa, qn sự đặc biệt là thành tựu trong khoa học vũ trụ đã làm cho uy tín
của phe xã hội chủ nghĩa tăng lên mạnh mẽ rõ rệt. Ban lãnh đạo mới của Liên
Xơ đã có nhiều điều chỉnh trong chính sách nhằm ổn định nội bộ và khơi phục
uy tín quốc tế; xác định giúp Việt Nam đánh Mỹ khơng chỉ góp phần đề cao vai
trị của Đảng và Nhà nước Xơ Viết mà cịn giúp cho Liên Xơ củng cố sức mạnh
trong trật tự thế giới.
Công cuộc xây dựng CNXH ở Trung Quốc, mặc dù đời sống chính trị, xã
hội đang bị đảo lộn do cuộc cách mạng văn hóa gây ra, nhưng Đảng và Nhà
nước vẫn không ngừng giúp đỡ về vật chất và lực lượng làm đường chiến lược,
bảo vệ khu vực phía Bắc Hà Nội, tiếp tục ủng hộ sự nghiệp cách mạng của nhân
dân hai miền Nam - Bắc Việt Nam. Phương châm giúp Việt Nam chống Mỹ của
Trung Quốc là chỉ hành động khi nào vai trị, lợi ích của họ trong việc tập hợp
lực lượng phong trào giải phóng dân tộc thế giới và chiến lược lâu dài của họ bị
làm phương hại.
Miền Bắc đã trở thành căn cứ địa vững chắc của cách mạng cả nước.
10
Sau khi được hồn tồn giải phóng, đến đầu năm 1965, dưới sự lãnh đạo của
Đảng, nhân dân ta đã hoàn thành cải cách ruộng đất, tiến hành thắng lợi cơng
cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa. Tuy có những sai lầm khuyết điểm nhưng thắng
lợi của cải cách ruộng đất và cải tạo xã hội chủ nghĩa đã xóa bỏ chế độ người
bóc lột người trong xã hội miền Bắc, mang lại những quyền lợi chính trị, kinh tế
to lớn và thiết thực cho hàng triệu công nhân, nông dân và những người lao
động khác. Khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường trên cơ sở khối liên
minh công nông được củng cố vững chắc.
Tháng 9 năm 1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã
vạch ra đường lối chung của cả thời kỳ quá độ tiến lên CNXH của miền Bắc;
thông qua phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965)
đồng thời chỉ ra con đường đấu tranh để giải phóng miền Bắc, thống nhất đất
nước. Nghị quyết của Đại hội đã dẫn dắt nhân dân ta hăng hái, phấn khởi, đoàn
kết, tin tưởng, ra sức xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Chế độ chính trị ưu
việt cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phịng, an
ninh trên miền Bắc là một đặc điểm rất quan trọng, tạo nên sức mạnh to lớn, đưa
miền Bắc trở thành căn cứ địa vững chắc của cách mạng cả nước.
Miền Nam trở thành tiền tuyến lớn của cả nước, từng bước đánh bại chiến
lược "Chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng có sự
phối hợp chặt chẽ và chi viện ngày càng lớn của miền Bắc, CMMN đã vượt qua
những khó khăn tổn thất to lớn trong giai đoạn 1954-1959, phát triển ngày càng
mạnh mẽ. Từ đấu tranh chính trị là chủ yếu, tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị
với đấu tranh vũ trang. Đặc biệt, sau Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Trung
ương Đảng (1/1959) CMMN phát triển nhanh chóng, dẫn đến cuộc "đồng khởi"
rộng lớn làm thất bại chính sách “Tố cộng”, “Diệt cộng” tàn bạo của Mỹ - ngụy,
từ khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh cách mạng; kết hợp chặt chẽ tiến cơng
địch về qn sự và chính trị; đánh địch bằng chiến tranh du kích rộng khắp và
bằng các địn tiến công của bộ đội chủ lực với quy mô ngày càng lớn; tiêu hao
tiêu diệt nặng nề đội quân ngụy tay sai, làm thất bại các chủ trương của chiến
lược “chiến tranh đặc biệt”. Đến cuối năm 1964, cuộc chiến tranh cách mạng ở
11
miền Nam đã giành được những thắng lợi rất quan trọng. Ngụy quyền khủng
hoảng triền miên, quân ngụy ngày càng bất lực và đứng trước nguy cơ thất bại
hoàn toàn.
1.1.2. Khó khăn
Tuy cùng chung mục tiêu ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam chống Mỹ, nhưng
Liên Xô và Trung Quốc không cùng thống nhất hành động chống Mỹ xâm lược
Việt Nam. Mâu thuẫn giữa hai nước 1ớn về nhiều vấn đề cơ bản của cách mạng
thế giới đã làm cho khối đoàn kết của các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào giải
phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bị rạn nứt, mất
phương hướng. Đế quốc Mỹ đã triệt để lợi dụng, khai thác cơ hội này trong khi
tính tốn tiến hành “Chiến tranh cục bộ” ở Việt Nam.
Sự bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc càng trở nên gay gắt và khơng
có lợi cho cách mạng Việt Nam. Việc đế quốc Mỹ mở cuộc Chiến tranh cục bộ,
ồ ạt đưa quân đội viễn chinh Mỹ và các nước chư hầu vào trực tiếp xâm lược
miền Nam đã làm cho tương quan lực lượng trở nên bất lợi cho ta.
Đầu năm 1965, bị phá sản trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, đế
quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở MNVN một loại hình trong chiến lược tồn cầu “Phản ứng linh hoạt” của chúng. Chiến
lược chiến tranh mới được Mỹ chuẩn bị khá cơng phu, có tính tồn kỹ lưỡng, đã
qua thăm dị dư luận cơng chúng Mỹ, thăm dò thái độ đồng minh của Mỹ và dư
luận thế giới, kể cả một số nước xã hội chủ nghĩa.
Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” là hình thức chiến tranh xâm lược thực
dân kiểu mới là một trong ba hình thức chiến tranh (đặc biệt, cục bộ, và thế
giới) được đề ra phù hợp với chiến lược quân sự toàn cầu “phản ứng linh
hoạt”. “Chiến tranh cục bộ” được tiến hành bằng quân viễn chinh Mỹ quân
chư hầu và qn ngụy trong đó qn Mỹ giữ vai trị quan trọng, cùng với vũ
khí và phương tiện chiến tranh của Mỹ.
Âm mưu: Đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, đàn áp và bình định cho miền
Nam, phá hoại miền Bắc đồng thời cứu nguy cho quân ngụy.
Thủ đoạn: Ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ, quân chư hầu cùng với vũ khí và
12
phương tiện chiến tranh hiện đại và miền Nam.
Mục tiêu của Mỹ là tiêu diệt chủ lực quân giải phóng, bình định miền
Nam, buộc phía Việt Nam phải ngồi vào bàn đàm phán theo điều kiện của Mỹ.
Để tránh gây ảnh hưởng xấu tới thế bố trí chiến lược tồn cầu cũng như tới tình
hình kinh tế, chính trị, xã hội của Mỹ, tránh lôi kéo các nước lớn như Liên Xơ,
Trung Quốc trực tiếp tham chiến, chính quyền Giơnxơn chủ trương đưa quân
Mỹ vào nhanh và rút ra nhanh.
Đế quốc Mỹ dự định thực hiện Kế hoạch chiến lược ấy ở miền Nam trong
thời gian 18 tháng, qua ba giai đoạn: Giai đoạn 1 (từ tháng 7 đến tháng 12-1965)
đưa nhanh quân Mỹ và chư hầu vào MNVN, hoàn thành việc triển khai lực lượng
chuẩn bị tiến hành phản công chiến lược; Giai đoạn 2 (từ tháng 1 đến tháng 61966) mở các cuộc tiến cơng “tìm diệt” chủ lực qn giải phóng, phá chiến tranh
du kích, giành quyền chủ động chiến trường, hỗ trợ cho chương trình “bình định”;
Giai đoạn 3 (từ tháng 7-1966 đến cuối năm 1967), mở các cuộc hành quân tiến
công tiêu diệt những đơn vị cịn lại của Qn giải phóng và những căn cứ du kích,
tiêu diệt cơ quan lãnh đạo cuộc kháng chiến ở miền Nam, hồn tất chương trình
“bình định”. “Tổng số quân Mỹ đưa vào miền Nam từ 75.000 tên (7-1965) lên tới
184.000 binh lính (cuối 1965)”1
Ngày 18-6-1965, để có một chính quyền tay sai phục vụ đắc lực cho Mỹ
tiến hành chiến tranh và tạo thế ổn định về chính trị ở miền Nam, Nhà trắng đạo
diễn cho Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ làm đảo chính lật đổ Nguyễn
Khánh, thành lập chính phủ quân sự tại Sài Gịn.
Tháng 7-1965, Giơnxơn chấp thuận đề nghị tăng qn và kế hoạch chiến
lược “tìm và diệt” của đại tướng Oétmolen, Tư lệnh Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại
MNVN. Mỹ dự tính đạt các mục tiêu chiến lược đã đề ra trong khoảng hai năm
đến hai năm sáu tháng (từ tháng 7 -1965 đến giữa hoặc cuối năm 1967).
Từ mùa hè năm 1965, quân viễn chinh Mỹ và quân đồng minh của Mỹ
(Nam Triều Tiên, Ôtxâylia, Niu Dilân…) ồ ạt đổ vào MNVN. “Tổng số quân
Mỹ từ 75.000 tên (7-1965) lên tới 184.000 tên vào cuối năm 1965, trong đó có
1
Lịch sử Đảng Cộng sản Cách mạng Việt Nam 1954-1975, tr.250.
13
nhiều sư đoàn, lữ đoàn tinh nhuệ của Mỹ. Quân chủ lực Sài Gịn có 520.000 tên
biên chế thành 10 sư đoàn và 5 trung đoàn. Hạm đội 7 của Hải quân Mỹ trước
kia hướng hoạt động ở Đông Bắc Á, nay tập trung hướng hoạt động vào vùng
biển Đông Nam Á mà trọng điểm là Việt Nam, cùng hàng vạn lính Mỹ đóng ở
Thái Lan, Philippin, đảo Ơkinaoa, Guam…đều được sử dụng trong cuộc chiến
tranh xâm lược Việt Nam”.1
Nhằm hỗ trợ đắc lực cho các hoạt động quân sự trên chiến trường miền
Nam, không quân và hải quân Mỹ tăng cường đánh phá ác liệt miền Bắc và từng
bước mở rộng cả về quy mô lẫn cường độ để ngăn chặn sự tăng viện của miền
Bắc cho miền Nam, mặt khác nâng đỡ tinh thần quân ngụy Sài gòn.
Mỹ đồng thời đẩy mạnh “chiến tranh đặc biệt” ở Lào; gây sức ép nhằm
buộc chính phủ Vương quốc Campuchia từ bỏ chính sách trung lập, kéo chính
phủ này ngả về phía Mỹ chống lại Việt Nam. Trên trường quốc tế, Mỹ triệt để
lợi dụng mâu thuẫn Xô - Trung và mở “chiến dịch hịa bình” lừa bịp hịng cơ lập
Việt Nam. Trong nước, chính quyền Mỹ thi hành các biện pháp bưng bít thơng
tin, khơng gọi lính trù bị, khơng tăng thuế với hy vọng duy trì được sự ổn định
nội bộ, tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của Quốc hội và nhân dân Mỹ đối
với cuộc chiến tranh Việt Nam.
Tình hình đó đặt ra u cầu mới cho Đảng ta trong việc xác định quyết
tâm và đề ra đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nhằm đánh thắng giặc
Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
1.2. Chủ trương của Đảng
1.2.1. Hội nghị lần thứ 11 Ban chấp hành Trung ương Đảng, khóa III
(3-1965)
Đầu năm 1965 trước nguy cơ thất bại của chiến tranh đặc biệt Mỹ chuyển
sang thực hiện “Chiến tranh cục bộ” đưa quân viễn chinh và quân chư hầu các
nước trực tiếp tham chiến tại Việt Nam. Ngày 8/3/1965, Lữ đoàn 9 thủy quân
lục chiến đổ bộ vào bãi biển Đà Nẵng, đánh dấu sự can thiệp trực tiếp của đế
quốc vào miền Nam. Mỹ chọn Đà Nẵng để đổ bộ vì đây là vị trí qn sự chiến
1
Đảng lãnh đạo hai cuộc kháng chiến xây dựng chế độ mới 1945 – 1975, tr.89.
14
lược, dễ bề chia cắt hai miền Nam - Bắc; Đồng thời tận dụng cảng nước sâu và
một cự ly nhất định với miền Bắc để xây dựng các căn cứ qn sự dã chiến, mục
đích tấn cơng miền Bắc bằng không quân và hải quân. Cuộc chiến tranh phá
hoại do đế quốc Mỹ nhằm đánh phá miền Bắc diễn ra ác liệt từ ngày 7/2/1965.
Trước yêu cầu mới của cách mạng, từ ngày 25 đến 27-3-1965, tại Hà Nội,
Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 11 và ra Nghị quyết về
tình hình và nhiệm vụ cấp bách trước mắt. Nghị quyết bàn về việc chuyển
hướng nền kinh tế và tăng cường lực lượng quốc phòng cho kịp với sự phát triển
của tình hình.
Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 11 đã hiểu
rõ ba chỗ dựa chủ yếu của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược ở miền
Nam là quân đội và chính quyền tay sai, hệ thống ấp chiến lược và đô thị đang
bị sụp đổ hoặc lung lay mạnh. Mỹ đã thấy rõ, chúng có thể bị thất bại hồn tồn
nếu khơng thay đổi chính sách, thay đổi chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở
miền Nam. Là một đế quốc đầu sỏ có tiềm lực chiến tranh rất lớn, nếu bị thất bại
trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam thì thất bại đó sẽ đem lại những hậu
quả hết sức tai hại cho chính Mỹ và phe đế quốc. Vì thế, chúng khơng dễ dàng
chấp nhận thất bại, trái lại, chúng rất ngoan cố. Bằng mọi cách, chúng đang cố
gắng giữ vững vị trí và lực lượng trên chiến trường miền Nam hòng tạo ra một
“thế mạnh” làm cơ sở cho những giải pháp tiếp theo có lợi cho Mỹ.
Hội nghị nhận định: "…Với những âm mưu và hoạt động mới của đế quốc
Mỹ, tình hình một nửa nước có chiến tranh, một nửa nước có hịa bình đã biến
thành tình hình cả nước có chiến tranh với hình thức và mức độ khác nhau ở
mỗi miền; trong cuộc chiến tranh cách mạng yêu nước của nhân dân cả nước
chống đế quốc Mỹ, miền Nam vẫn là tiền tuyến lớn, miền Bắc vẫn là hậu
phương lớn, nhưng nhiệm vụ của miền Bắc là vừa xây dựng, vừa trực tiếp chiến
đấu, vừa chi viện cho tiền tuyến miền Nam…Những âm mưu và hành động mới
của địch trước mắt là nhằm cứu vãn tình hình nguy ngập của chúng ở miền
Nam; vì vậy, về phần ta, cách tích cực nhất để làm thất bại âm mưu và hành
động ấy của địch là tập trung lực lượng của cả nước, tiến công địch và đánh bại
15
địch ở miền Nam…"1.
Hội nghị đề ra nhiệm vụ cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trên cả
hai miền Nam - Bắc là: “tích cực kiềm chế và thắng địch trong cuộc chiến tranh
đặc biệt ở mức cao nhất ở miền Nam, ra sức tranh thủ thời cơ, tập trung lực lượng
của cả nước giành thắng lợi quyết định ở miền Nam trong thời gian tương đối
ngắn, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng đối phó và quyết thắng cuộc Chiến tranh cục
bộ ở miền Nam nếu địch gây ra; tiếp tục xây dựng miền Bắc, kết hợp chặt chẽ xây
dựng kinh tế và tăng cường quốc phòng, kiên quyết bảo vệ miền Bắc, đánh thắng
cuộc chiến tranh phá hoại và phong tỏa bằng không quân và hải quân của địch,
chuẩn bị sẵn sàng để đánh bại địch trong trường hợp chúng đưa cuộc chiến tranh
phá hoại hiện nay đến một trình độ ác liệt gấp bội, hoặc chuyển nó thành một
cuộc Chiến tranh cục bộ cả ở miền Nam lẫn miền Bắc, ra sức động viên lực lượng
của miền Bắc chi viện cho miền Nam; ra sức giúp đỡ cách mạng Lào”2.
Khẩu hiệu chung của miền Bắc là “xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải
phóng miền Nam”3.
Hội nghị quyết định chuyển hướng nền kinh tế miền Bắc sang thời chiến
bằng việc đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, đặc biệt phải phát triển nhanh chóng
nơng nghiệp ở trung du, miền núi; chú trọng phát triển công nghiệp địa phương
và thủ công nghiệp kết hợp với xây dựng những xí nghiệp vừa và nhỏ, phát triển
kinh tế theo từng vùng chiến lược quan trọng, để mỗi vùng có thể tự bảo đảm
một phần những nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, sinh hoạt, học hành. Đồng thời
điều chỉnh lại các chỉ tiêu xây dựng cơ bản cho phù hợp với tình hình địch đánh
phá ngày càng lan rộng nhưng vẫn bảo đảm phương hướng lâu dài của công
cuộc công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa nước nhà.
Hội nghị nhấn mạnh yêu cầu tăng cường công tác tư tưởng và tổ chức
trong thời kỳ mới, cho đó là vấn đề cực kỳ quan trọng. Về chuyển hướng công
tác tổ chức, phải điều chỉnh lực lượng cán bộ, công nhân viên chức giữa các
ngành và các địa phương, tăng cường cán bộ cho các tỉnh trung du, miền núi, cải
1
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Tồn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2003, tập 26, tr.109-110.
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Tồn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2003, tập 26, tr.109-110.
3
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Tồn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2003, tập 26, tr.109-110.
2
16
tiến bộ máy quản lý, sửa đổi lề lối làm việc ở tất cả các cấp cho phù hợp với tình
hình mới.
1.2.1. Hội nghị lẩn thứ 12 Ban chấp hành Trung ương Đảng, khóa III
(12-1965)
Từ sau Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương tháng 3 năm
1965, tình hình miền Nam biến chuyển rất nhanh. Trước sự sụp đổ của chiến
lược "Chiến tranh đặc biệt", đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ và chư
hầu vào miền Nam. Đến tháng 9 năm 1965, lực lượng quân Mỹ và chư hầu ở
miền Nam đã lên tới 20 vạn quân, chưa kể 7 vạn quân thuộc hải quân và không
quân Mỹ trên các căn cứ của Mỹ ở Gu-am, Phi-líp-pin, Thái Lan và Hạm đội 7
cũng trực tiếp tham chiến ở Việt Nam. Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ đã trở
thành một cuộc Chiến tranh cục bộ.
Đến cuối năm 1965, mặc dầu liên tiếp bị thất bại và tổn thất nặng nề,
nhưng với bản chất hiếu chiến và hết sức ngoan cố, đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục đẩy
mạnh và mở rộng cuộc Chiến tranh cục bộ ở miền Nam và leo thang đánh phá
miền Bắc.
Từ thực tiễn đó, Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
khóa III (12-1965) đã nhận định: Cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở
miền Nam nước ta sẽ diễn ra gay go quyết liệt lớn, nhưng đế quốc Mỹ tăng
cường và mở rộng chiến tranh trong thế thua, thế bị động theo một chiến lược
đầy mâu thuẫn và bế tắc giữa mục đích cứu vãn chế độ thực dân mới với biện
pháp quân sự theo lối thực dân cũ. Hơn nữa, tiến hành cuộc chiến tranh phi
nghĩa, lính Mỹ chiến đấu khơng có mục đích, lại bị nhân dân Việt Nam, nhân
dân Mỹ và cả loài người tiến bộ lên án. Nước Mỹ có tiềm lực kinh tế, quân sự
rất mạnh nhưng không thể và không cho phép huy động với bất cứ khả năng nào
vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Trong khi đó, lực lượng cách mạng của ta đã
lớn mạnh về mọi mặt và đang ở thế thuận lợi. Vùng giải phóng khơng ngừng
được mở rộng và ngày càng được củng cố, Đảng bộ miền Nam có cơ sở rộng
khắp, vững chắc và được tơi luyện trong chiến đấu, có mối liên hệ chặt chẽ với
quần chúng, đã có nhiều kinh nghiệm trong đấu tranh chính trị, quân sự, trong tổ
17
chức thực hiện đường lối cách mạng của Đảng. Qua 10 năm xây dựng CNXH và
thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Bắc đã thực sự trở thành hậu
phương lớn, căn cứ địa vững chắc cho CMMN. Cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước của nhân dân ta ngày càng được sự đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ, tích
cực của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, của nhân dân u chuộng hồ bình
và cơng lý trên thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ.
Đảng kết luận: “Ngày nay, mặc dầu đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng
chục vạn quân đội viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay
đổi lớn. Tuy cuộc chiến tranh ngày càng trở nên gay go, ác liệt, nhưng nhân dân ta
đã có cơ sở chắc chắn để giữ vững và tiếp tục giành thế chủ động trên chiến
trường, có lực lượng và điều kiện để đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của
địch”1. Hội nghị hạ quyết tâm chiến lược: “Động viên lực lượng cả nước, kiên
quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình
huống nào, để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hồn thành cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hồ bình, thống nhất nước
nhà”2. Chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc. Phương
châm chiến lược chung của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là: Đánh lâu
dài, dựa vào sức mình là chính, càng đánh càng mạnh, “cần phải cố gắng đến cao
độ, tập trung lực lượng của cả hai miền để tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết
định trong thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam”3.
Về phương châm đấu tranh: Cần phải “tiếp tục kiên trì phương châm kết
hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, triệt để vận dụng ba mũi giáp
cơng trong đó, “đấu tranh qn sự có tác dụng quyết định trực tiếp và giữ một vị
trí ngày càng quan trọng”4, nhưng phải được kết hợp chặt chẽ với đấu tranh
chính trị, để thu được kết quả lớn nhất.
Tư tưởng chỉ đạo chiến lược: Giữ vững và phát triển thế tiến công, kiên
quyết tiến công và liên tục tấn cơng qn địch trên các mặt trận đấu tranh chính
trị, quân sự, ngoại giao.
1
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Tồn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2003, tập 26, tr.633.
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2003, tập 26, tr.634.
3
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2003, tập 26, tr.638.
4
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Tồn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2003, tập 26, tr.639.
2
18
Về mối quan hệ nhiệm vụ cách mạng hai miền Nam - Bắc: trong cuộc
chiến tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, miền Nam là tiền tuyến lớn,
miền Bắc là hậu phương lớn. Nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc và nhiệm vụ giải
phóng miền Nam khơng tách rời nhau mà ln quan hệ mật thiết gắn bó với
nhau; đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam, bất kỳ chúng đặt chân ở đâu trên đất
nước Việt Nam thì mọi người Việt Nam đều có nghĩa vụ tiêu diệt chúng; khẩu
hiệu chung của nhân dân cả nước lúc này là “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ
xâm lược”1, “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta cịn phải chiến
đấu qt sạch nó đi”2.
Hội nghị nhấn mạnh, việc tăng cường công tác tư tưởng và tổ chức đảng,
đáp ứng yêu cầu cao của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, vì đây là nhân tố quyết
định mọi thắng lợi.
1.2.1. Hội nghị lẩn thứ 14 Ban chấp hành Trung ương Đảng, khóa III
(1-1968)
Sau chiến dịch mùa khơ 1966-1967, cục diện chiến trường tiếp tục chuyển
biến có lợi cho CMMN. Giành nhiều thắng lợi về quân sự, chính trị trên các chiến
trường và được sự chi viện tích cực của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, quân dân
miền Nam giữ vững quyền chủ động chiến lược, đưa chiến tranh nhân dân phát
triển đều khắp trên cả ba vùng chiến lược thành thị, nông thôn đồng bằng và miền
núi rừng. Thế và lực của cách mạng được tăng cường một bước. Niềm tin ta nhất
định thắng, đế quốc Mỹ và ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn nhất định thua càng
được củng cố khẳng định. Sự đồn kết nhất trí trong tồn Đảng, toàn dân, toàn
quân miền Nam và cả nước càng làm tăng thêm khí thế cách mạng sơi sục.
Trên cơ sở thế trận đã hình thành, sau khi nắm vững những điều kiện
chính trị, quân sự của ta và địch, cả trong nước và trên thế giới, tháng 10- 1967,
Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp bàn cụ thể kế hoạch chiến lược năm 1968,
đánh dấu mốc quan trọng vạch ra kế hoạch tổng cơng kích, nổi dậy Tết Mậu
Thân 1968. Tháng 12-1967, Bộ Chính trị họp, ra Nghị quyết về tổng cơng kích
1
Tiến trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam 1930-2016, PGS,TS Ngô Đặng Tri, Nxb Thông tin và Truyền
thông, 2016, tr.183.
2
Báo Nhân dân(1968), Lời kêu gọi cả nước tiến lên đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
19
và tổng khởi nghĩa. Nghị quyết của Bộ Chính trị sau đó được.
Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp vào tháng 11968 thông qua và trở thành Nghị Quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương
Đảng với những nội dung cơ bản như sau:
Nhận định tình hình: “Chúng ta đang đứng trước triển vọng và thời cơ chiến
lược lớn. Đế quốc Mỹ đang ở trong tình thế tiến thối lưỡng nan về chiến
lược…Xu thế của tình hình trong cả nước năm 1968 là địch sẽ ngày càng chuyển
vào phòng ngự một cách bị động hơn trước… Chúng ta đã thắng địch cả về chiến
lược lẫn chiến thuật, thế và lực của ta phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết”1.
Mặc dù hiện nay chúng ta còn một số nhược điểm như khả năng bổ sung
lực lượng tại chỗ, trình độ đánh tiêu diệt những đơn vị lớn quân Mỹ, việc xây
dựng thực lực chính trị và chỉ đạo phong trào thành thị còn hạn chế; ta cịn gặp
khó khăn về hậu cần, giao thơng vận tải, công tác ngụy vận, địch vận..., nhưng
“điểm cơ bản của tình hình vẫn là ta đang ở thế thắng, thế chủ động và thuận lợi.
Địch đang ở thế thua, thế bị động và khó khăn”2.
Quyết tâm chiến lược: “chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân
ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định”3. Để
thực hiện quyết tâm chiến lược đó, “nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta trong
thời kỳ mới là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn
dân ta ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển
cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng
lợi quyết định”4.
Mục tiêu chiến lược của tổng cơng kích, tổng khởi nghĩa là: nhằm tiêu
diệt và làm tan rã tuyệt đại bộ phận quân ngụy, đánh đổ ngụy quyền các cấp,
giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân; tiêu diệt một phần quan trọng sinh
lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ, làm cho quân Mỹ không thực hiện được
các nhiệm vụ chính trị và quân sự của chúng ở Việt Nam. “Trên cơ sở đó, đập
tan ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải chịu thua ở miền Nam, chấm dứt mọi
hoạt động chiến tranh đối với miền Bắc, cịn ta thì bảo vệ được miền Bắc xã hội
1
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III), tháng 1-1968.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III), tháng 1-1968.
3
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III), tháng 1-1968.
4
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III), tháng 1-1968.
2
20
chủ nghĩa và đạt được những mục tiêu trước mắt của CMMN là độc lập, dân
chủ, hịa bình, trung lập, tiến tới thống nhất nước nhà”1.
Phương châm của tổng công kích, tổng khởi nghĩa: “Cuộc tổng cơng kích
và tổng khởi nghĩa sắp tới sẽ là một giai đoạn, một quá trình tiến cơng chiến
lược rất mãnh liệt và phức tạp...”2. Trong đó “cuộc tiến cơng của các lực lượng
vũ trang trên các chiến trường chính và sự nổi dậy của nhân dân ở các thành thị
lớn là hai mũi tiến cơng chính, kết hợp chặt chẽ với nhau... là mũi nhọn thọc vào
yết hầu của địch, có tầm quan trong quyết định đối với toàn bộ chiến trường và
toàn bộ cuộc chiến tranh”3. Các cuộc cơng kích và khởi nghĩa các nơi khác trên
chiến trường phải phối hợp chặt chẽ và hỗ trợ cho địn tiến cơng và nổi dậy ở
các đơ thị lớn. Bộ Chính trị chỉ ra cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta thấy
rằng, tổng cơng kích và tổng khởi nghĩa là một q trình liên tục tiến cơng, truy
kích, tiêu diệt, đánh đổ địch về qn sự và chính trị, là q trình phản kích ác liệt
để giành lại và chiếm lấy các vị trí chiến lược quan trọng, là giai đoạn sẽ kéo dài
trong một thời gian nào đó... khẳng định: “Trong tình hình địch phải chuyển vào
thế bị động và phịng ngự và đang tiến thoái lưỡng nan về chiến lược như hiện
nay thì những cố gắng chủ quan về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của ta có tác
dụng quyết định trực tiếp"4 đối với việc rút ngắn thời gian giành thắng lợi. Do
vậy, “ta phải đủ sức mạnh về quân sự và chính trị, phải biết chọn đúng hướng
tiến cơng và những biện pháp tiến công chiến lược”5; phải sử dụng tốt nhất lực
lượng vũ trang của ta, căng địch ra khắp nơi, buộc chúng phải dàn mỏng lực
lượng để đối phó, hút chúng vào các chiến trường quan trọng mà ta đã chuẩn bị
sẵn, trên cơ sở đó, sử dụng những quả đấm mạnh đánh quỵ các binh đoàn chủ
lực của địch, đồng thời kiên quyết phản công bẻ gãy các cuộc phản kích của
chúng. Trong khi đó, ở thành thị quan trọng - một trong hai địn chính của tổng
cơng kích, tổng khởi nghĩa, phải kết hợp lực lượng xung kích về quân sự với lực
lượng chính trị của quần chúng tạo thành sức mạnh đánh sụp các cơ quan đầu
1
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III), tháng 1-1968.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III), tháng 1-1968.
3
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III), tháng 1-1968.
4
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III), tháng 1-1968.
5
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III), tháng 1-1968.
2
21
não của Mỹ, ngụy và các yếu tố vật chất thiết yếu của chúng như các cơ sở hậu
cần, các trung tâm thông tin, các phương tiện vận tải.
Nguyên tắc cần nắm vững trong q trình thực hành tổng cơng kích, tổng
khởi nghĩa: “Tập trung lực lượng quân sự và lực lượng chính trị lớn đến mức
cao nhất, một cách hợp lý nhất, tiến công mãnh liệt vào những hướng chiến lược
chính; kiên quyết tiến cơng, liên tục tiến cơng, nhằm đúng vào những nơi xung
yếu của địch mà đánh những đòn quyết định, giành cho kỳ được thắng lợi ở
những nơi quyết định; phải tuyệt đối giữ cho được nhân tố bất ngờ, phải biết
giành thắng lợi từng giờ, từng phút và không ngừng mở rộng thắng lợi; kiên
quyết chống trả và bẻ gãy các cuộc phản công của địch và truy kích địch đến
cùng để giành thắng lợi”1. Với việc phân tích một cách khoa học so sánh lực lượng
giữa ta và đối phương, khẳng định thất bại tất yếu của đế quốc Mỹ, vạch rõ nhiệm vụ
cụ thể cho cách mạng hai miền, động viên quân đội và nhân dân cả nước giữ vững
thế chiến lược tiến cơng, nêu cao ý chí tự lực, tự cường và ra sức tranh thủ sự ủng hộ,
giúp đỡ của bạn bè quốc tế, tiến lên đánh thắng hoàn toàn đế quốc Mỹ xâm lược, Hội
nghị lần thứ 11, 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III (1965) và Hội nghị
lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III), tháng 1-1968 có ý nghĩa
lịch sử quan trọng đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nghị quyết Trung
ương lần thứ 11, 12, 14 của Đảng là kết tinh giữa thực tiễn sáng tạo của quần chúng
với trí tuệ của Đảng, trở thành văn kiện lịch sử củng cố lòng tin, chỉ đạo quân và dân
ta ở cả hai miền Nam - Bắc vững bước vượt qua gian lao, thử thách để tiến đến thắng
lợi cuối cùng trong cuộc đọ sức cam go với kẻ thù có tiềm lực quân sự, kinh tế mạnh
hơn ta gấp nhiều lần. Để lại bài học kinh nghiệm quý về đánh giá so sánh lực lượng,
hạ quyết tâm chiến lược kịp thời, đúng đắn và sáng tạo.
1.3. Đảng chỉ đạo đánh thắng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế
quốc Mỹ (1965 - 1968)
1.3.1. Đánh thắng hai cuộc phản công chiến lược mùa khô của đế quốc
Mỹ (1965-1967)
Bị thất bại liên tiếp trên chiến trường, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ cho rằng, vì
1
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III), tháng 1-1968.
22
mùa mưa đã gây ra cho chúng những khó khăn và bất lợi trong việc phát huy sức
mạnh của binh khí, kĩ thuật hiện đại và sức cơ động nhanh để tiêu diệt đối
phương. Đối với chúng mùa khô đến là điều kiện thuận lợi để giành chiến thắng.
Vì vậy bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn ráo riết chuẩn bị triển khai lực lượng
trên các hướng, sẵn sàng tiến công ồ ạt, bất ngờ làm cho ta không kịp trở tay.
Âm mưu của Mỹ trong cuộc phản cơng này là “tìm diệt” lực lượng chủ lực của
ta, phá các căn cứ du kích, giành lại thế chủ động trên chiến trường , hỗ trợ cho
trương trình “bình định” có trọng điểm của quân Ngụy.
* Đánh thắng cuộc phản công chiến lược mùa khô của đế quốc Mỹ (1965 – 1966)
Sau khi đã đưa vào MNVN một số lượng lớn quân viễn chinh Mỹ và quân
đồng minh, cùng với sự chuẩn bị kỹ càng, bắt đầu từ tháng 1-1966, Bộ chỉ huy
quân sự Mỹ chính thức tiến hành thực hiện kế hoạch “tìm và diệt”, kế hoạch
“bình định” mà chúng đã vạch ra. Mở đầu là cuộc phản công chiến lược mùa khô
lần thứ nhất 1965 - 1966 với sự tham chiến của 72 vạn quân, có 18 vạn quân Mỹ
cùng 2.280 máy bay các loại, 1.342 xe tăng, xe bọc thép, 1.000 khẩu pháo yểm
trợ, hơn 500 tàu, xuồng chiến đấu lần lượt đánh ra năm hướng trên hai chiến
trường trọng điểm là miền Đông Nam Bộ và Khu V, nhằm tiêu diệt bộ phận quan
trọng quân chủ lực của ta, phá các căn cứ du kích, giành thế chủ động trên toàn
chiến trường, hỗ trợ cho chương trình “bình định” có trọng điểm ở các vùng nông
thôn và đồng bằng quan trọng do quân đội Sài Gịn đảm trách. Ngồi năm hướng
phản cơng chính - “chiến dịch năm mũi tên”, chúng còn mở nhiều cuộc hành quân
càn quét cỡ tiểu đoàn và lữ đoàn trên khắp các tỉnh miền Nam nhằm hỗ trợ cho
hướng chính.
Trước mùa khơ 1965-1966, Bộ Chính trị chỉ thị cho qn và dân ta ở miền
Nam ra sức chuẩn bị thế trận và lực lượng, kiên quyết giữ vững thế chủ động
tiến cơng, dùng hình thức phản cơng chiến dịch, phản cơng chiến đấu để tiêu
diệt quân Mỹ và quân ngụy, làm thất bại các mục tiêu cơ bản của chúng trong
cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966, Trung ương Cục, các Khu ủy
và Quân khu ủy, các cấp ủy Đảng địa phương miền Nam khẩn trương mở các
hội nghị bàn biện pháp tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức, gấp rút
23
chuẩn bị mọi mặt, sẵn sàng đối phó với địch.
Thực hiện mục tiêu trên, Bộ chỉ huy Mỹ dự định cuộc phản công sẽ bắt
đầu vào cuối tháng 12-1965, nhưng bị ta đánh phủ đầu trong mùa mưa, nên đến
tháng 01 -1966, quân Mỹ mới mở cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất.
Nắm chắc tư tưởng chiến lược tiến công của Đảng, Đảng bộ và nhân dân
miền Nam đã dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân được xây dựng và phát triển
trên ba vùng chiến lược, kết hợp chặt chẽ các hình thức tác chiến của bộ đội chủ
lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích.
Lực lượng vũ trang ta đã liên tục chặn đánh, kìm chân, phản công và tiến
công quân địch làm thất bại nhiều cuộc hành quân “tìm - diệt” của quân Mỹ và
đồng minh ở Củ Chi, Nhà Đỏ - Bông Trang, Bình Mỹ, Chiến khu D, Chiến khu
Dương Minh Châu, Bắc Bình Định, Nam Phú n… Các đơn vị đặc cơng, biệt
động, pháo cối luồn sâu, các lực lương du kích “vành đai diệt Mỹ” đã tổ chức
các trận tập kích, phục kích đánh vào hậu phương, hậu cứ của địch.
Ngày 8-1-1966, Quân giải phóng đã bổ sung mở đầu mùa khơ đánh Mỹ
trên tồn miền Nam. Qn khu Sài Gịn - Gia Định và các cấp ủy đảng địa
phương lãnh đạo lực lượng vũ trang và nhân dân kiên quyết bám trụ địa bàn,
dựa vào hệ thống địa đạo, làng xã chiến đấu tiêu hao quân địch. Kết hợp với các
cuộc tiến công và phản công của lực lượng vũ trang, Thành ủy Sài Gòn - Gia
Định và huyện Củ Chi đã huy động hơn 2.000 lượt quần chúng kéo ra đấu tranh
chính trị trực diện với quân Mỹ. Củ Chi là trọng điểm, địch mở cuộc hành quân
"Cái bẫy" nhằm diệt cơ quan đầu não Quân khu Sài Gòn - Gia Định và triệt hạ
vùng giải phóng Củ Chi. Trong cuộc hành quân "Cái bẫy", Mỹ tập trung 12.000
quân (có 8.000 lính Mỹ), 200 máy bay, 600 xe qn sự, 100 đại bác đánh vào Củ
Chi, hòng dồn lực lượng qn Giải phóng vào vùng Hố Bị để tiêu diệt. Với lực
lượng lớn, ưu thế binh lực, hoả lực, lính Mỹ tin chắc sẽ đánh bại qn Giải
phóng. Sau hơn 10 ngày hành quân, bị ta đánh cả phía trước và phía sau bằng
hai lực lượng quân sự và chính trị, Sư đồn Anh cả đỏ và Lữ đồn dù 173 Mỹ
buộc phải chấm dứt cuộc hành quân, bị loại khỏi vịng chiến đấu 1.430 binh lính
và 80 máy bay các loại. Ngày 24-1- 1966, địch tiến công vào Củ Chi lần thứ hai,
24
bị thương vong gần 1.700 tên, buộc phải kết thúc cuộc phản công ở khu vực Bến
Cát, Củ Chi.
Vào lúc 1 giờ 20 phút ngày 24-2, Sư đoàn 9 Quân giải phóng bất ngờ tiến
cơng vào cụm qn Mỹ đóng ở Nhà Đỏ - Bông Trang, tiêu diệt và đánh thiệt hại
2 tiểu đoàn bộ binh, 2 chi đoàn xe thiết giáp và sở chỉ huy hành quân của Lữ
đoàn 1 Mỹ. Lực lượng chủ yếu của địch bị đánh thiệt hại nặng.
Bên cạnh những trận đánh chặn các cuộc hành quân, càn quét của địch lực
lượng vũ trang ta đã phối hợp với hướng chính, ở vịng trong, bộ đội đặc công,
các đội pháo binh luồn sâu của quân giải phóng bắn súng lớn vào sân bay Phú
Lợi (30-1- 1966), sân bay Tân Sơn Nhất (1-4-1966), tập kích sở chỉ huy phái
đoàn quân sự Mỹ MAAG, tiêu biểu trong đó là cuộc tập kích khách sạn Victoria
(1-4-1966), diệt và làm bị thương gần 800 Mỹ - ngụy ( 200 sĩ quan Mỹ) , phá
hỏng hơn 130 máy bay các loại, làm cho địch thêm rối ren, các thành thị miền
Nam bị tác động mạnh.
Ở khu V, quân Mỹ, Ngụy và chư hầu phản công nam Phú Yên 19-11966, Sư đồn kỵ binh khơng vận số 1 và 5 tiểu đồn lính thủy đánh bộ Mỹ,
cùng qn ngụy Sài Gịn đánh ra bắc Bình Định và nam Quảng Ngãi. Tại hướng
trọng điểm bắc Bình Định, địch tập trung khoảng 20.000 quân, mở ba cuộc hành
quân lớn vào các huyện Hoài Nhơn, Hoài An, An Lão, hy vọng sẽ tiêu diệt Sư
đồn 3 chủ lực Qn giải phóng, phá căn cứ du kích.
Trên thế trận được chuẩn bị, kết hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang tại
chỗ, Sư đoàn 3 chủ lực Qn khu tích cực, chủ động phản cơng và tiến công ở
khu vực Chợ Cát (29-1-1966), An Thái (30-1-1966), Hòa Hội (2-2-1966), Phú
Hữu (15-2-1966), Lộc Giang (17-2-1966), Suối Đá Tượng (18-2-1966), Phú
Ninh (20-2-1966), Tân Ốc (21-2-1966), Thanh Khê (23-2-1966), loại khỏi vòng
chiến đấu hơn 3.000 tên, bắn rơi, phá hỏng hơn 60 máy bay các loại, đánh thiệt
hại 3 tiểu đồn của Sư đồn kỵ binh khơng vận Mỹ.
Bộ tư lệnh Quân khu V quyết định mở chiến dịch tây Sơn tịnh (Quảng
Ngãi) nhằm kéo địch ra ngoài công sự để tiêu diệt một bộ phận chủ lực Mỹ ngụy, tạo điều kiện cho Sư đoàn 3 chủ lực Quân khu và lực lượng địa phương