Tải bản đầy đủ (.docx) (26 trang)

1 lịch sư tu tuong chinh tri nội dung tư tưởng chính trị chủ yếu của các trào lưu chủ nghĩa tự do phương tây thời kỳ cận đại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (229.29 KB, 26 trang )

BÀI LUẬN
MƠN: LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ
Đề tài:
Nội dung tư tưởng chính trị chủ yếu của các trào lưu chủ nghĩa tự do
phương Tây thời kỳ cận đại? Những giá trị cơ bản của nó với việc xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

MỤC LỤ


MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
NỘI DUNG.......................................................................................................3
Chương 1 TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CHỦ YẾU CỦA CÁC TRÀO LƯU
CHỦ NGHĨA TỰ DO PHƯƠNG TÂY THỜI KỲ CẬN ĐẠI.........................3
1.1. Điều kiện ra đời tư tưởng chính trị của các trào lưu chủ nghĩa tự do
phương Tây thời kỳ cận đại...............................................................................3
1.1.1. Đặc điểm lịch sử xã hội – chính trị.........................................................3
1.1.2. Các nhà tư tưởng chính trị tiêu biểu.......................................................4
1.2. Nội dung tư tưởng chính trị chủ yếu của các trào lưu chủ nghĩa tự do
phương Tây thời kỳ cận đại...............................................................................8
1.2.1. Về nguồn gốc và vai trò của nhà nước....................................................8
1.2.2. Các quyền tự nhiên của con người........................................................12
1.2.3. Về phân chia quyền lực nhà nước.........................................................12
Chương 2 GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CƠ BẢN TRÀO LƯU CHỦ
NGHĨA TỰ DO PHƯƠNG TÂY THỜI KỲ CẬN ĐẠI VÀ LIÊN HỆ NHÀ
NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 14
2.1. Giá trị và hạn chế tư tưởng chính trị cơ bản của các trào lưu chủ nghĩa tự
do phương Tây thời kỳ cận đại........................................................................14
2.2. Thực trạng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
hiện nay...........................................................................................................16
2.3. Vận dụng tư tưởng phương Tây cận đại nhằm hoàn thiện nhà nước pháp


quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.....................................................17
KẾT LUẬN....................................................................................................22
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................23


MỞ ĐẦU
Trong dòng chảy xuyên suốt của lịch sử tư tưởng nhân loại, thời kỳ cận
đại ở phương Tây nổi lên tư tưởng chính trị chủ yếu của các trào lưu chủ
nghĩa tự do các đại diện tiêu biểu như: J. Locke, Montesquieu, J. Rousseau.
Các ông được đánh giá là những con người khơi nguồn tri thức cho phong
trào Khai sáng. Tư tưởng giải phóng con người xuất hiện rất phù hợp với xu
thế phát triển của thời đại. Trong khi quan hệ sản xuất Phong kiến khơng cịn
phù hợp thì sự ra đời của phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa đã thay thế
một cách hoàn chỉnh. Tư tưởng giải phóng con người cũng đã tạo ra một tiền
đề vơ cùng quan trọng để thúc đẩy sự hình thành và phát triển chủ nghĩa Tư
bản. Như chúng ta đã biết, một trong hai điều kiện để có được nền kinh tế thị
trường đó là sự “tự do”. Để có thể phát triển nền kinh tế vận động theo cơ chế
thị trường thì tư tưởng của các nhà Tư sản lúc bấy giờ là tìm cách giải phóng
con người, giải phóng sức lao động. Con người phải được tự do về thân thể,
tự do đi lại, tự do cư trú, tự do tín ngưỡng v.v… và được tự do bán sức lao
động của mình. Thời kỳ này quyền con người rất được đề cao. Điều này hoàn
toàn phù hợp với quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và
trình độ của lực lượng sản xuất. Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất
và trình độ của lực lượng sản xuất thì nó sẽ mở đường thúc đẩy lực lượng sản
xuất phát triển, còn nếu khơng phù hợp thì nó sẽ kìm hãm thậm chí cịn đẩy
lùi sự phát triển của lực lượng sản xuất. Chính nhờ sự phù hợp đó mà kinh tế
Tư bản chủ nghĩa thời kỳ này vô cùng phát triển.
Trong hệ thống tư tưởng chính trị, tư tưởng pháp quyền giữ vị trí quan
trọng và được trình bày trong một số tác phẩm như: “Khảo luận thứ hai về
chính quyền - Chính quyền dân sự” (1689), “Tinh thần pháp luật” (1748),

“Khế ước xã hội” (1762)… Những giá trị và ảnh hưởng sâu rộng của tư tưởng
pháp quyền thời kỳ này đã thôi thúc nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều thế hệ trên
thế giới khai thác và tìm cách luận giải để vận dụng trong quá trình tạo lập
nhà nước hợp lý, có hiệu quả. Nó đã trở thành cơ sở nền tảng trong nghiên
1


cứu lý luận để xây dựng nhà nước pháp quyền hiện đại. Tuy nhiên, là một lĩnh
vực rộng lớn và phức tạp, luôn không ngừng biến đổi, cho nên những tri thức,
sự hiểu biết về chính trị, nhà nước vẫn chưa bao giờ được xem là đầy đủ,
hoàn bị. Việc tạo lập một nhà nước thật sự hợp lý, có hiệu quả vẫn ln là sự
tìm tịi, thể nghiệm của các lực lượng cầm quyền và cũng là đòi hỏi, mong
muốn của các cộng đồng dân cư ở mỗi quốc gia trong thế giới đương đại. Với
những lý do trên, chúng tơi chọn đề tài: “Nội dung tư tưởng chính trị chủ
yếu của các trào lưu chủ nghĩa tự do phương Tây thời kỳ cận đại? Những
giá trị cơ bản của nó với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam hiện nay” làm đối tượng nghiên cứu cho mơn học lịch sử
tư tưởng chính trị của mình.

2


NỘI DUNG
Chương 1
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CHỦ YẾU CỦA CÁC TRÀO LƯU CHỦ
NGHĨA TỰ DO PHƯƠNG TÂY THỜI KỲ CẬN ĐẠI
1.1. Điều kiện ra đời tư tưởng chính trị của các trào lưu chủ nghĩa
tự do phương Tây thời kỳ cận đại
1.1.1. Đặc điểm lịch sử xã hội – chính trị
Bắt đầu từ thế kỷ XV, ở Tây Âu chế độ phong kiến với nền sản xuất

nhỏ và các đạo luật hà khắc bước vào thời kỳ tan rã. Sự xuất hiện các công
trường thủ công ở Anh, Pháp, Italia…đã thay thế cho nền kinh tế kém phát
triển. Công cụ lao động được phát triển đã đẩy mạnh quá trình sản xuất. Thị
trường trao đổi hàng hóa giữa các nước được mở rộng. Các nước tư bản chủ
nghĩa sớm phát triển như Anh, Pháp, Tây Ban Nha… thi nhau xâm chiếm
thuộc địa, khai thác tài nguyên thiên nhiên ở các nước kém phát triển, mở
rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa. Những mầm mống của nền sản xuất tư bản
chủ nghĩa xuất hiện trước hết là ở Italia, nước được coi là quốc gia tư bản sớm
nhất Tây Âu, tiêu biểu cho nền văn minh nhân loại thời kỳ này. Tiếp đó là
cuộc cách mạng tư sản Pháp đã đánh dấu sự sụp đổ của chế độ phong kiến.
Vào thế kỷ XVI – XVII thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa ngày càng
phát triển mạnh, sự lớn mạnh của công nghiệp và thương mại. Song chế độ
quân chủ với sở hữu ruộng đất của mình đã kìm hãm sự phát triển của sức sản
xuất, diễn ra sự mâu thuẫn gay gắt. Giai cấp tư sản đang trưởng thành và lớn
mạnh ở các nước phát triển nhất không thể khoan nhượng với chế độ chuyên
chế phong kiến. Những tư tưởng chính trị mới đã xuất hiện muốn tách các vấn
đề nhà nước và pháp quyền ra khỏi tôn giáo.
Sự phát triển mạnh mẽ của triết học khai sáng và là thời kỳ của các
cuộc cách mạng dân chủ tư sản với sự tham gia của đông đảo các tầng lớp
nhân dân lao động đấu tranh cho các quyền cơ bản của con người mà điển

3


hình là cuộc đại cách mạng tư sản Pháp (1789) nên có nhiều giá trị mang tính
nhân loại phổ biến. Đó là những nét tổng thể dệt nên nội dung cơ bản của lịch
sử phát triển tư tưởng chính trị ở các nước phương Tây thời kỳ cận đại.
1.1.2. Các nhà tư tưởng chính trị tiêu biểu.
J.Lốccơ (1632 - 1704)
Ơng là một nhà triết học duy vật người Anh, là một nhà tư tưởng chính trị

lớn. Tư tưởng chính trị của ông tập trung trong tác phẩm “quyền lực dân sự”.
- Pháp quyền tự nhiên: Đó là hành động từ ý chí cá nhân lên bằng trật
tự nội tại sẵn có ở bản chất con người. Nó xuất hiện như là pháp quyền hợp
pháp duy nhất, là cái có khả năng duy nhất, là cái có thể được thừa nhận duy
nhất. Tư tưởng có ý nghĩa quyết định của ơng là chuyển pháp quyền tự nhiên
sang tự do cá nhân.
- Nguồn gốc và bản chất của quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước.
Theo ông quyền tự nhiên của con người là bất khả xâm phạm. Đó là quyền
được sống, quyền tự do, quyền sở hữu. Sự vận động tự nhiên của xã hội dẫn
đến tình trạng người dư thừa, kẻ thiếu đói, xã hội rơi vào tình cảnh mất an
ninh, quyền tự nhiên của mỗi cá nhân bị xâm phạm. Để bảo vệ những quyền
tự nhiên đó mà con người, mọi thành viên trong xã hội cùng ký kết hình thành
chính quyền. Đó là cơ quan quyền lực chung mà chức năng gốc của nó là bảo
vệ những quyền tự nhiên của mỗi con người. Từ đó ơng đưa ra kết luận:
+ Quyền lực nhà nước, về bản chất là quyền lực của dân, quyền lực của
dân là cơ sở, nền tảng của quyền lực nhà nước. Nhà nước thực hiện sự ủy
quyền của dân
+ Nhà nước xã hội chính trị - xã hội cơng dân, thực chất là một “khế
ước xã hội”, trong đó cơng dân nhượng một phần quyền của mình để hình
thành quyền lực chung – quyền lực nhà nước. Nhà nước với quyền lực chung
đó điều hành, quản lý…. Xã hội nhằm bảo toàn những quyền tự nhiên của
mỗi cá nhân công dân.

4


+ “Bảo toàn quyền tự nhiên của mỗi cá nhân con người” đó là tiêu chí
cơ bản xác định giới hạn và phạm vi hoạt động của nhà nước. Đi qua giới hạn
này, chính quyền dễ trở thành chuyên chế.
- Phân quyền – “Tất yếu kỹ thuật” của những thể chế chính trị tự do.

Ơng đã phác họa vạch ra những u cầu có tính chất “tất yếu kỹ thuật” cho
việc thiết kế của thể chế chính trị sau khi lật đổ chuyên chế, coi tự do là giá trị
chủ đạo.
Ngoài những quan điểm hết sức sâu sắc về nhà nước, tư tưởng về phân
chia quyền lực cũng là nét đặc trưng trong tư tưởng chính trị của J.Lốccơ, tư
tưởng này đã từng được đưa vào thời kỳ cách mạng 1640-1660 trong học
thuyết của những người theo phái bình quân. J.Lốccơ phân chia quyền lực nhà
nước thành quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền liên hiệp của cộng
đồng quốc gia, trong đó, ơng cho rằng, quyền lập pháp là quyền lực cao nhất
trong nhà nước.
Quyền lập pháp phải thuộc về nghị viện: nghị viện phải họp định kỳ để
thông qua các đạo luật, nhưng không thể can thiệp vào việc thực hiện chúng.
Quyền hành pháp phải thuộc về nhà vua. Nhà vua lãnh đạo việc thi hành pháp
luật, bổ nhiệm các bộ trưởng, chánh án và các quan chức khác. Hoạt động của
nhà vua phụ thuộc vào pháp luật và vua khơng có đặc quyền nào đối với nghị
viện (như quyền phủ quyết, quyền bãi miễn...) để nhằm không cho phép nhà
vua thâu tóm tồn bộ quyền lực về tay minh và xâm phạm các quyền tự nhiên
của công dân. Nhà vua cùng thực hiện quyền liên minh, tức là giải quyết các
vấn đề chiến tranh, hịa bình và đối ngoại.
So với tư tưởng phân chia quyền lực của các nhà chính trị thời kỳ Hy
Lạp cổ đại, ta thấy quan điểm của nhà tư tưởng lớn người Anh đã hết sức tiến
bộ, ông không chỉ phân chia quyền lực nhà nước ra thành các cơ quan khác
nhau mà đã có những phân tích tương đối cụ thể về việc phân chia quyền lực
đó. Nhưng cũng giống như những nhà tư tưởng đi trước, tư tưởng chính trị về
phân chia quyền lực nhà nước của J.Lốccơ cũng không tránh khỏi hạn chế
5


nhất định khi ông luôn muốn biện minh và cố duy trì vĩnh viễn chế độ tư bản
chủ nghĩa dựa trên bản tính “mn đời và bất biến” của con người.

S.L. Mơngtexkiơ (1689 - 1755)
Ơng là một nhà tư tưởng chính trị vĩ đại người pháp. Tác phẩm chính
“Tinh thần luật pháp” - Học thuyết về nguồn gốc nhà nước Ông cho rằng nhà
nước xuất hiện ở một trình độ phát triển nhất định của xã hội loài người. Quy
luật đầu tiên của con người là hịa bình, quy luật thứ 2 là mong muốn kiếm
thức ăn cho mình, quy luật thứ 3 là nhu cầu hỗn hợp (con người giao tiếp với
nhau), quy luật thứ 4 là con người là mong muốn sống trong xã hội (lập gia
đình, giao tiếp, xã hội, nhà nước).
Nhà nước chỉ xuất hiện một cách tất yếu khi trong xã hội xuất hiện tình
trạng chiến tranh mà không thể chấm dứt bằng bạo lực. Nhà nước là sản phẩm
của những mâu thuẫn không thể điều hịa được.
- Lý luận về chính phủ Ơng đưa hai khái niệm cơ bản là bản chất và
nguyên tắc của nhà nước. Bản chất là quan hệ giữa người cầm quyền và người
bị quản lý. Bản chất quy định và thể hiện cơ cấu, từ đó sinh ra luật chính trị,
luật tổ chức chính phủ, luật hiến pháp. Nguyên tắc là cái làm cho chính phủ
hoạt động Từ bản chất và ngun tắc đó ơng đã nghiên cứu các hình thức nhà
nước.
+ Nền cộng hịa dân chủ: quyền lực tối thượng là trong tay nhân dân,
nguyên tắc của hó là đức hạnh chính trị, yêu tổ quốc đặt lợi ích cơng lên trên
lợi ích riêng. + Nền cộng hịa quí tộc: quyền lực nằm trong tay một vài người,
về ngun tắc, tập trung ở đức tính ơn hịa. + Nền quân chủ chính thống:
quyền lực nằm trong tay một người, nguyên tắc là danh dự - Các thể chế
chính trị tự do – học thuyết về sự phân quyền Theo ơng tự do chính trị của
cơng dân đó là quyền mà người ta có thể làm mọi cái mà pháp luật cho phép.
Như vậy, tự do chính trị chỉ có ở những quốc gia mà tất cả quan hệ đều được
pháp luật cơng nhận. Theo ơng thể chế chính trị tự do phải là thể chế chính trị

6



mà trong đó quyền lực tối cao được phân chia thành 3 quyền, lập pháp, hành
pháp, tư pháp, sao cho 3 quyền này cân bằng và kiềm chế lẫn nhau.
Bên cạnh đó ơng phê phán kịch liệt chế độ chun chế, cho rằng về bản
chất chuyên chế đối lập với tự do. Nhà thờ là nguồn gốc của mọi tội lỗi. Ông
đề ra thuyết địa lý cho rằng: Đạo đức cũng như đặc điểm của một dân tộc tùy
thuộc vào hồn cảnh địa lý của nước đó. Trước khi có chính trị thì đã tồn tại
tự nhiên rồi. Quy luật tự nhiên là bình đẳng, hịa bình, tồn tại trong cộng
đồng, kêu gọi mọi người từ bỏ bạo lực. Ông là người đưa ra thuyết tam quyền
phân lập một cách có hệ thống và là đối thủ đáng sợ nhất của chế độ chuyên
chế phong kiến. Đây là tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng trong lịch sử chính trị
nhân loại
J.Rutxô (1712 - 1778)
Là nhà tư tưởng vĩ đại pháp, có đóng góp to lớn vào học thuyết chính
trị. Tác phẩm chính của ơng là “khế ước xã hội”. Ơng là đại biểu cho tầng lớp
dân chủ thị dân, ông phê phán gay gắt quan hệ đẳng cấp phong kiến và chế độ
chuyên chế. Ông ủng hộ dân chủ tư sản và quyền tự do cơng dân, quyền bình
đẳng của con người, bất chấp nguồn gốc xuất thân. Ơng nói: Nguyên nhân
của bất bình đẳng trong xã hội là do sự xuất hiện chế độ tư hữu và tán thành
chế độ tư hữu nhỏ. Nhà nước hình thành trãi qua hai giai đoạn, quyền lực nhà
nước làm cho bất công về kinh tế chuyển sang bất cơng chính trị. Ơng phê
phán lối giáo dục đẳng cấp phong kiến cũ, đòi hỏi giáo dục phải đào tạo ra
những công dân biết q trọng lao động. Tóm lại, tư tưởng của ơng ảnh
hưởng rất lớn đến hàng loạt hình thức hoạt động chính trị dân chủ đã được thể
hiện và thực thi trong đời sống chính trị ở phương Tây và nhân loại như:
- Tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản – chủ nghĩa tự do cấp tiến Ông
cho rằng sự vận động từ trạng thái tự nhiên sang xã hội có hai mốc quan
trọng, đó là sự xuất hiện luyện kim và nông nghiệp, tạo sự xuất hiện chế độ tư
hữu, nảy sinh khoảng cách giàu nghèo và bất công xã hội. Con người có xu

7



hướng liên kết với nhau để thoát khỏi sự diệt vong vật chất và từ đó xã hội
cơng dân ra đời.
- Những giá trị trong học thuyết chủ quyền tối thượng của nhân dân: để
vươn lên đạt tới tự do, thủ tiêu chuyên chế, ông chủ chương nhượng quyền
của mỗi cá nhân thành viên, để tập trung hinh thành quyền lực chung tối cao –
quyền lực tối thượng của nhân dân. Quan niệm của Rutxo về các loại hình
chính phủ.
+ Chính phủ dân chủ: là chính phủ lý tưởng, ở đây hành pháp gắn với
lập pháp + Về chính phủ qn chủ: ơng thừa nhận chính phủ qn chủ với
điều kiện nền quân chủ phải được chấp nhận bởi toàn thể nhân dân, nghĩa là
phải được dân bầu ra và cai trị bằng pháp luật.
+ Chính phủ q tộc: ơng tán thành dân chủ quý tộc tức là chính phủ
chịu sự chi phối của những quyền lực nhân dân do một số ít người. Đảm bảo
sự tuyển chọn, trước khi đưa ra quyết định.
1.2. Nội dung tư tưởng chính trị chủ yếu của các trào lưu chủ nghĩa
tự do phương Tây thời kỳ cận đại
1.2.1. Về nguồn gốc và vai trị của nhà nước
Tư tưởng chính trị phương tây thời kỳ cận đại, tiêu biểu thời kỳ này là
J.Locke (1632 - 1704), Mongteskyơ (1689 - 1755), J.J.Rutso (1712 -1778) …
Phát triển cao hơn tư tưởng về quyền lực tự nhiên thời cổ đại và trung đại,
J.Locke luận giải về nguồn gốc và bản chất của nhà nước, của quyền lực nhà
nước như sau:
Một là, quyền lực nhà nước về bản chất là quyền lực của nhân dân;
quyền lực của nhân dân là cơ sở, nền tảng của quyền lực nhà nước; trong
quan hệ với dân, nhà nước khơng có quyền riêng mà chỉ thực hiện sự ủy
quyền của nhân dân.
Hai là, nhà nước-xã hội chính trị-xã hội cơng dân, thực chất là một
“khế ước xã hội”; trong đó, cơng dân nhượng một phần quyền của mình mà


8


hình thành quyền lực chung - quyền lực nhà nước để điều hành, quản lý… xã
hội nhằm bảo toàn quyền tự nhiên của mỗi cá nhân con người.
Ba là, bảo toàn quyền tự nhiên của mỗi cá nhân con người, đó cũng là
tiêu chí căn bản xác định giới hạn và phạm vi hoạt động của nhà nước; đi quá
giới hạn này, chính quyền trở thành chuyên chế, kẻ thù của tự do, đối tượng
của cách mạng …
Từ phân tích trạng thái tự nhiên lý tưởng của con người, J.J.Rutso
(1712 -1778) cho rằng,để chống lại chế độ tư hữu bất cơng thì mọi người liên
hiệp lại với nhau hình thành xã hội công dân và nhân dân thiết lập nhà nước
như một “khế ước xã hội”, nhưng nhà nước bị tha hóa làm cho sự bất cơng
kinh tế và xã hội tăng lên dẫn đến bất cơng chính trị, người trao quyền lại vơ
quyền. Tuy nhiên, tồn bộ học thuyết của J.J.Rutso về nguồn gốc của bất
công và của nhà nước cho thấy, giữa vô số mâu thuẫn của xã hội phong kiến
ông đã thấy được mâu thuẫn cơ bản nhất là giữa giàu và nghèo, trong lĩnh vực
chính trị là giữa kẻ áp bức và người bị áp bức. Ông hiểu rõ rằng, kẻ giàu có sẽ
nắm quyền lực. Trong Khế ước xã hội, J.J.Rutso nói thẳng rằng, các đạo luật
về thực chất có lợi cho người giàu có và có hại cho người nghèo. Như vậy,
ơng đã hiểu sự khác biệt giữa bình đẳng pháp lý và bình đẳng thực tế. Tự do
không thể trỗ thành hiện thực nếu thiếu bình đẳng nhất định và bất cơng q
mức về tài sản có thể biến các quyền và tự do chính trị thành giả tạo. Và nếu
như bình đẳng khơng hồn tồn có nghĩa là mức độ giàu có và quyền lực phải
hồn tồn tương xứng, thì dù sao quyền lực của cá nhân cũng không thể đạt
được bằng bạo lực mà phải được tiến hành trong khuôn khổ pháp luật. Cịn
đối với sự giàu có thì khơng thể để một cơng dân nào đó giàu tới mức có thể
mua được công dân khác, và không một ai nghèo tối mức buộc phải bán
mình. Từ những điều được trình bày trong tác phẩm K h ế ước xã hội ta thấy,

J.J.Rutso đã thừa nhận sự bình đẳng hồn tồn về mặt pháp lý và sự bình
đẳng thực tế ở những mức độ nhất định, mặc dù về tổng thể, ơng coi sự bình
đẳng hồn tồn về tài sản thực tế là điều giả tạo. Tất nhiên, những quan điểm
9


của J.J.Rutso về các vấn đề bình đẳng đã đặt ông cao hơn tất cả các nhà khai
sáng khác và ở mức độ nào đó đã đưa học thuyết của ông vượt ra ngoài phạm
vi chủ nghĩa dân chủ tư sản thơng thường.
Do đó, ơng chủ trương phải chuyển quyền của mỗi cá nhân thành viên
tập trung hình thành quyền lực chung tối cao. Ở đây, có sự chuyển nhượng tự
do cá nhân cho “Cơ chế xã hội”, có nghĩa là khi nhà nước vi phạm “khế ước”
thì nhân dân có quyền bãi bỏ “khế ước” bằng ý chí chung.
Trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền - Chính quyền dân
sự”, Locke cho rằng, con người sống trong trạng thái tự nhiên sẽ thiếu vắng
ba thứ: Một là, thiếu luật pháp được thiết định để điều chỉnh hành vi của mọi
người theo những chuẩn mực chung. Hai là, thiếu quan tịa được mọi người
biết đến và có tính trung lập. Ba là, thiếu quyền lực để hậu thuẫn và ủng hộ
cho bản án đúng đắn và đem lại cho nó sự thi hành đích đáng.
Ba nhược điểm ấy làm cho con người sống trong trạng thái tự nhiên
không cịn an tồn và họ “thực hiện khơng có quy tắc và không chắc chắn cái
quyền lực mà mỗi người có trong việc trừng phạt sự vi phạm pháp luật của
người khác”. Do vậy, con người đã rời trạng thái tự nhiên đi vào xã hội công
dân, họ thỏa thuận lập nên dựng nhà nước, nhà nước đó thơng qua các cơ
quan của mình, sử dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp, trừng phạt
người vi phạm, bảo toàn sở hữu của mọi người.
Trong khi đó, Montesquieu coi sự ra đời của nhà nước là có tính lịch sử,
đó là quá trình vận động và phát triển của xã hội lồi người đến một trình độ
nhất định. Rousseau cho rằng, xã hội công dân nảy sinh cùng chế độ tư hữu
và nhà nước được thiết lập sau đó. Ơng phê phán kịch liệt chế độ chuyên chế,

cho rằng về bản chất chuyên chế đối lập với tự do. Nhà thờ là nguồn gốc của mọi
tội lỗi. Ông đề ra thuyết địa lý cho rằng: Đạo đức cũng như đặc điểm của một dân
tộc tùy thuộc vào hoàn cảnh địa lý của nước đó. Trước khi có chính trị thì đã tồn tại
tự nhiên rồi. Quy luật tự nhiên là bình đẳng, hịa bình, tồn tại trong cộng đồng, kêu

10


gọi mọi người từ bỏ bạo lực1. Ông là người đưa ra thuyết tam quyền phân lập một
cách có hệ thống và là đối thủ đáng sợ nhất của chế độ chuyên chế phong kiến. Đây
là tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng trong lịch sử chính trị nhân loại.

Đối với Rousseau, là đại biểu cho tầng lớp dân chủ thị dân, ông phê phán gay gắt
quan hệ đẳng cấp phong kiến và chế độ chuyên chế. Ông ủng hộ dân chủ tư sản và
quyền tự do công dân, quyền bình đẳng của con người, bất chấp nguồn gốc xuất
thân. Ơng nói: Ngun nhân của bất bình đẳng trong xã hội là do sự xuất hiện chế
độ tư hữu và tán thành chế độ tư hữu nhỏ. Nhà nước hình thành trãi qua hai giai
đoạn, quyền lực nhà nước làm cho bất công về kinh tế chuyển sang bất công chính
trị2. Ơng phê phán lối giáo dục đẳng cấp phong kiến cũ, đòi hỏi giáo dục phải đào
tạo ra những cơng dân biết q trọng lao động. Tóm lại, tư tưởng của ơng ảnh
hưởng rất lớn đến hàng loạt hình thức hoạt động chính trị dân chủ đã được thể hiện
và thực thi trong đời sống chính trị ở phương Tây và nhân loại. Ông cho rằng nhà

nước là một hiện tượng vĩnh viễn đi cùng với xã hội loài người và không bao
giờ tiêu vong. Quan điểm này đã phần nào khắc phục được cách giải thích
thần bí, siêu tự nhiên về nguồn gốc của nhà nước, nhưng vẫn “bế tắc khi lý
giải nhà nước chỉ như một kết quả của ý chí chung của con người, là một hiện
tượng vĩnh cửu, và điều đó đã phần nào đó làm sai lệch bản chất của nhà
nước”.
Như vậy, các nhà tư tưởng chính trị phương Tây từ cổ đại đến cận đại

cho rằng, quyền lực chính trị là sức mạnh của cộng đồng để điều hòa , phối
hợp tạo ra sự ổn định và phát triển chung của toàn xã hội, tạo ra mơi trường
cho từng cá nhân có điều kiện sống , hoạt động và mưu cầu hạnh phúc. Từ
quyền lực của nhân dân , thông qua “khế ước xã hội” mà lập nên nhà nước để
phục vụ cho nhân dân. Cho nên, về bản chất, nhà nước tự nó khơng có quyền
mà chỉ là sự ủy quyền của nhân dân. Nhân dân thực hiện sự kiểm tra, giám sát
chặt chẽ quyền lực nhà nước do mình ủy quyền và một khi nhà nước xuất
thân từ “khế ước” mà vi phạm “khế ước” thành độc quyền, lộng quyền, lạm
ĐHQGHN, Đại học KHXH & NV, Khoa Triết học, Giới thiệu kinh điển triết học Mác – Lênin, Nxb Đại
học QGHN, Hà Nội, 2007, Tr.230 – Tr. 274
1,2

2

11


quyền chống nhân dân thì nhân dân cũng có quyền thay đổi “khế ước”, kể cả
bằng bạo lực cách mạng.
1.2.2. Các quyền tự nhiên của con người
Trong thời kỳ Cận đại ở châu Âu, các nhà tư tưởng đều thừa nhận quan
điểm về quyền tự nhiên của con người và lấy nó làm xuất phát điểm tư tưởng
của mình. Lý thuyết pháp quyền tự nhiên ra đời đầu tiên do các nhà triết học
Hà Lan là B.Spinoza (1632 -1677) và Grotius (1583 - 1645) sáng lập dựa trên
cơ sở lý luận pháp quyền tự nhiên đã có từ thời cổ đại.
Tiếp tục lý luận về nhà pháp quyền tự nhiên, Locke (1632 - 1704) cho
rằng: “tình trạng tự nhiên ban đầu của con người là tự do và bình đẳng”. Với
Locke, quyền tự nhiên của con người bao gồm các quyền cơ bản như: quyền
bình đẳng, quyền tự do, quyền sở hữu. Montesquieu (1689 - 1755) cho rằng,
trong trạng thái tự nhiên, con người sinh ra đã bình đẳng, con người mất bình

đẳng khi kết hợp lại thành xã hội, và “chỉ trở lại bình đẳng khi có luật pháp”.
Xuất phát từ giả thiết con người sống trong trạng thái tự nhiên, Rousseau
cho rằng con người ln được bình đẳng. Khi ra khỏi trạng thái tự nhiên để
trở thành con người dân sự trong xã hội thì con người phải cần đến một khế
ước hay một công ước xã hội. Sở dĩ như vậy là vì “Người ta sinh ra tự do
nhưng rồi đâu đâu con người cũng phải sống trong xiềng xích”.
Tóm lại, một trong những điểm nổi bật của thời kỳ cận đại là, các nhà tư
tưởng từ Locke, Montesquieu đến Rousseau đều đưa lý luận về tự do, bình
đẳng, dân chủ lên thành các quyền chính trị xã hội của con người. Và trong
quan niệm của các ông, các quyền tự do, dân chủ, công bằng không phải là sự
ban phát của Chúa cho con người với tư cách là thần dân, mà đó là cái mặc
nhiên phải có từ sự quy định của luật pháp tồn tại hiện thực. Điều này đã khơi
mở cho cả một tiến trình của nhân loại ngày càng nhận thức và hiện thực hóa
sâu rộng các quyền của con người và quyền công dân trong xã hội dân sự.
1.2.3. Về phân chia quyền lực nhà nước
Locke cho rằng, quyền lực nhà nước là do nhân dân trao cho, để tránh
12


tình trạng độc quyền, lạm quyền thì quyền lực đó phải được phân chia, tạo
nên sự “kiềm chế và cân bằng”. Locke đã phân chia quyền lực nhà nước
thành ba quyền: lập pháp, hành pháp và liên hiệp.
Xuất phát từ nền tảng tư tưởng phân quyền của Locke, Montesquieu đã
nghiên cứu bổ sung, phát triển hoàn chỉnh thành Học thuyết “Tam quyền
phân lập”. Montesquieu cho rằng, phân quyền chính là tự do chính trị trong
quan hệ với hiến pháp. Khác với Loke, Montesquieu không phân chia bang
giao quốc tế thành một quyền ngang hàng với quyền lập pháp và hành pháp.
Ông phân quyền lực nhà nước thành ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư
pháp. Ông yêu cầu ba cơ quan quyền lực nhà nước phải hoạt động độc lập với
nhau nhưng cần có sự ràng buộc nhau, tạo nên sự vận động chung của toàn bộ

hệ thống nhà nước.
Tiếp nối Montesquieu, Rousseau đưa ra những quan điểm rất mới mẻ và
tiến bộ về sự phân chia quyền lực trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nước. Từ quan điểm về luật pháp, Rousseau bày tỏ sự phản bác đối với học
thuyết phân quyền. Ông cho rằng, quyền lực thể hiện ý chí chung nên cần
phải thống nhất. Rousseau xem tư tưởng phân quyền là “trò ảo thuật chính
trị ”. Nhưng ơng lại chỉ ra rằng phân chia quyền lực nhà nước thành quyền
lập pháp, hành pháp và tư pháp, giao chúng vào tay cơ quan quyền lực tối cao
và chính phủ là cách thức hợp lý duy nhất để đảm bảo sự hoạt động có hiệu
quả cho nhà nước, cũng như ngăn chặn được xu hướng lạm quyền.

13


Chương 2
GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CƠ BẢN TRÀO LƯU CHỦ NGHĨA
TỰ DO PHƯƠNG TÂY THỜI KỲ CẬN ĐẠI VÀ LIÊN HỆ NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Giá trị và hạn chế tư tưởng chính trị cơ bản của các trào lưu chủ
nghĩa tự do phương Tây thời kỳ cận đại
Đến thời kỳ cận đại ở phương Tây, tư tưởng pháp quyền đã phát triển
đến đỉnh cao và khái quát thành những lý luận cơ bản về
NNPQ, chứa đựng nhiều giá trị tiến bộ mang tính chất “vạch thời đại”.
Thứ nhất, tồn bộ tư tưởng của Locke, Montesquieu và Rousseau về
pháp quyền là tư tưởng biện chứng và những quan điểm duy vật sâu sắc, chứa
đựng tinh thần nhân văn cao cả.
Thứ hai, các ông đều cho rằng: sự ra đời của nhà nước cũng như sự xóa
bỏ nhà nước là yêu cầu khách quan.
Thứ ba, quan niệm quyền lực tuyệt đối thuộc về nhân dân... thể hiện
tính cách mạng sâu sắc và triệt để. Đó chính là bản chất dân chủ của nhà nước

pháp quyền, là “Quyền lực của nhân dân”. Trong đời sống chính trị quốc tế hiện
nay, nguyên tắc đó được khẳng định và tiếp tục phát triển, được ghi nhận trong các
Hiến pháp của các nước với các chế độ chính trị khác nhau. Để đảm bảo “Quyền lực
nhà nước thuộc về nhân dân”, nhà nước pháp quyền đề cao tính hợp hiến, hợp pháp
trong tổ chức và hoạt động của nhà nước, rằng “Nhà nước chỉ được làm những điều
pháp luật cho phép”, còn nhân dân “Được làm tất cả những điều pháp luật không
cấm”, pháp luật đảm bảo cho sự phát triển “Tự do tối đa” của nhân dân. Tất nhiên,
pháp luật trong quan niệm nhà nước pháp quyền là mang tính nhân văn, nhân đạo,
là “Pháp luật vì con người” chứ khơng phải “Con người vì pháp luật”.Đến thời kỳ
cận đại ở phương Tây, tư tưởng pháp quyền đã phát triển đến đỉnh cao và khái quát
thành những lý luận cơ bản về NNPQ, chứa đựng nhiều giá trị tiến bộ mang tính
chất “vạch thời đại”3.
3

Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb Chính trị Quốc gia, 2004, Tr.60

14


Hai mặt nói trên, dân chủ và pháp luật trong nhà nước pháp quyền là gắn bó
hữu cơ, làm tiền đề tồn tại cho nhau và tạo nên bản chất của nhà nước pháp quyền
trong lịch sử nhân loại.
Như vậy, chính trị phương Tây khác với chính trị phương Đơng. Tư tưởng
chính trị phương Đơng thường gắn với đạo đức, còn phương Tây gắn với pháp luật
và thường xuất phát từ trạng thái tự nhiên của con người, đề cao quyền lợi của con
người. Về cơ bản, tư tưởng chính trị phương Tây thời cận đại, nếu loại trừ những
yếu tố siêu hình, duy tâm thì những tri thức về mơ hình nhà nước, vai trị của pháp
luật, phẩm cách nhà chính trị… là những tri thức có giá trị lâu dài.

Mặc dù những tư tưởng pháp quyền thời kỳ Cận đại ở phương Tây

chứa đựng những giá trị to lớn khơng thể phủ nhận nhưng bên cạnh đó nó
cũng bộc lộ những hạn chế nhất định khi các tư tưởng ấy mang trong mình
những yếu tố duy tâm về lịch sử.
Như vậy, chính trị phương Tây khác với chính trị phương Đơng. Tư
tưởng chính trị phương Đơng thường gắn với đạo đức, còn phương Tây gắn
với pháp luật và thường xuất phát từ trạng thái tự nhiên của con người, đề cao
quyền lợi của con người. Về cơ bản, tư tưởng chính trị phương Tây thời cận
đại, nếu loại trừ những yếu tố siêu hình, duy tâm thì những tri thức về mơ
hình nhà nước, vai trị của pháp luật, phẩm cách nhà chính trị… là những tri
thức có giá trị lâu dài. Chính trị học phương Tây dựa trên cơ sở của chủ nghĩa
cá nhân, tuyệt đối hóa quyền lợi của cá nhân, so với phong kiến là tiến bộ lớn
trong việc giải phóng con người, nhưng vẫn chưa đặt con người như là một
mục đích. Chỉ có tư tưởng chính trị mácxít mới thực sự nhằm giải phóng con
người triệt để nhất.
Sự ra đời của tư tưởng chính trị mácxít là một cuộc cách mạng vĩ đại,
lần đầu tiên trong lịch sử loài người, một giai cấp bị áp bức bóc lột, giai cấp
cơng nhân đã có một hệ tư tưởng cách mạng và khoa học là kim chỉ nam cho
hành động của mình. Trong quá trình đấu tranh, đối với giai cấp công nhân và
nông dân, các dân tộc bị áp bức, tư tưởng chính trị mácxít đã trở thành ngọn
cờ chủ đạo.

15


2.2. Thực trạng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam hiện nay.
*Những thành tựu:
Thứ nhất, nền dân chủ XHCN có bước phát triển đáng kể.
Thứ hai, tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước ngày càng hoàn thiện,
phương thức hoạt động nhà nước được đổi mới.

Thứ ba, hệ thống pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung và khơng ngừng được
hồn thiện.
Thứ tư, cải cách hành chính được chú trọng, bộ mặt của nền hành chính nhà
nước đã bước đầu thay đổi, hướng tới phục vụ nhân dân.
Thứ năm, mơ hình chính quyền địa phương được củng cố, kiện toàn, chất
lượng, hiệu quả hoạt động từng bước được nâng lên.
Thứ sáu, công tác đấu tranh phịng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí
được tích cực chỉ đạo, đạt một số kết quả.
Thứ bảy, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước đã có bước đổi mới cả
về nội dung và về phương thức lãnh đạo, vừa đảm bảo tăng cường vai trò lãnh đạo
của Đảng, vừa phát huy tính chủ động của các cơ quan nhà nước.
*Những hạn chế:
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam
vẫn cịn bộc lộ hạn chế khó tránh khỏi.
Thứ nhất, về phát huy dân chủ.
Tình trạng thiếu dân chủ vẫn cịn những biểu hiện và diễn biến phức tạp.
Tình trạng bng lỏng kỷ cương, pháp luật, dân chủ hình thức, cán bộ cửa quyền,
hách dịch vẫn còn nhiều.
Thứ hai, về hệ thống pháp luật.
Hệ thống luật pháp của nước ta vẫn chưa theo kịp với sự phát triển chung của
đất nước và thế giới, đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế. Pháp luật thường xuyên thay
đổi, các văn bản luật có tuổi thọ rất ngắn, thậm chí mới ban hành đã phải tạm hoãn
thực hiện hoặc phải sửa đổi, bổ sung. Nhiều văn bản pháp luật có tính quy phạm
thấp.
Thứ ba, về tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước

16


Tổ chức bộ máy nhà nước còn cồng kềnh, sự phân công phối hợp giữa các cơ

quan quyền lực nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) cịn có những điểm chưa rõ
ràng, dẫn tới tính trạng tập trung quan liêu, cục bộ địa phương.
Thứ tư, bộ máy nhà nước chưa thật sự được trong sạch, vững mạnh. Cơng
tác phịng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt được yêu cầu đề ra.
Năm là, sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước cịn tình trạng vừa bng
lỏng, vừa bao biện, làm thay.

2.3. Vận dụng tư tưởng phương Tây cận đại nhằm hoàn thiện nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Ngày nay, chủ nghĩa xã hội đang đứng trước những thử thách to lớn
nhưng chúng ta tin vào bản chất cách mạng và khoa học vốn có của nó, chủ
nghĩa xã hội khoa học nói riêng và tư tưởng chính trị mácxít nói chung sẽ tiếp
thu được những tri thức mới của thời đại, tiếp tục làm kim chỉ nam cho phong
trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới.
Ở Việt Nam ta, do ảnh hưởng của tư tưởng chính trị phương Đơng nên
gắn liền với đạo đức (Nho giáo, Phật giáo), ý thức tuân thủ pháp luật của công
dân chưa cao. Việc vận dụng những tri thức về xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa vào cơng tác xây dựng và hồn thiện hệ thống pháp
luật của nhà nước pháp quyền là rất cần thiết và bổ ích. Đó chính là quan
điểm kết hợp hài hịa những giá trị đạo đức tiến bộ của nhân loại với giá trị
đạo đức truyền thống của dân tộc.
Chính trị học là một khoa học về đấu tranh cho quyền lực, để giành, giữ
và thực thi quyền lực trong xã hội có giai cấp. Nó nói lên thực chất hoạt động
chính trị của các giai cấp, các đảng phái trong xã hội có giai cấp. Chính vì
vậy, việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng chính trị (phương Đơng và phương Tây)
để chúng ta hiểu và từ đó rút ra những tri thức bổ ích, những bài học kinh
nghiệm sâu sắc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Khi nghiên cứu tư
tưởng chính trị, chúng ta cần lưu ý đến tính giai cấp của nó, mặc khác khơng
vì thế mà phủ nhận toàn bộ nội dung, tri thức khách quan trong các học thuyết


17


chính trị. Trong q trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
chúng ta phải biết chọn lọc, rút ra những giá trị để kế thừa, làm giàu tri thức
của mình, kể cả đối với tư tưởng chính trị tư sản hiện đại. Do đó ở nước ta:
Trước hết cần hiểu rõ bản thân lý luận về nhà nước pháp quyền có
những điểm tiến bộ, hợp lý trong việc thực hành quyền dân chủ, trong việc tổ
chức, hoạt động của Nhà nước và đó cũng là mục tiêu của nhiều quốc gia trên
thế giới. Đồng thời đặc trưng của nó có nhiều điểm phù hợp với bản chất của
Nhà nước ta.
Thứ hai, xuất phát từ thực trạng tổ chức, hoạt động của nhà nước ta còn
nhiều khiếm khuyết, yếu kém, chưa thực sự là nhà nước tuân thủ pháp luật và
thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, như: Bộ máy nhà nước ta chưa thực
sự trong sạch, vững mạnh; tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu còn
nghiêm trọng, chưa được ngăn chặn; hiệu lực quản lý điều hành còn chưa
nghiêm; kỷ cương xã hội bị bng lỏng làm giảm sút lịng tin của nhân dân
đối với Đảng và Nhà nước ta.
Thứ ba, xuất phát từ tính tất yếu khách quan của sự phát triển của đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng
và mục tiêu cơ bản là xây dựng một chế độ: Dân giàu, nước mạnh, công bằng,
dân chủ và văn minh.
Thứ tư, xuất phát từ đặc điểm của thời đại với xu thế toàn cầu hóa. Nhu
cầu hội nhập quốc tế địi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách nhà
nước, cải cách pháp luật, đảm bảo cho nhà nước không ngừng vững mạnh, có
hiệu lực để giải quyết các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, mở rộng dân
chủ, củng cố độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế.
Tóm lại, trong cơng cuộc đổi mới của đất nước, xây dựng nhà nước
pháp quyền của dân, do dân, vì dân là yêu cầu khách quan của sự nghiệp xây

dựng chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, trong đường lối lãnh đạo của mình, Đảng ta
đặc biệt coi trọng việc đề ra đường lối xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà
nước - yếu tố trung tâm của hệ thống chính trị. Để thực hiện mục tiêu đó, phải
18



×