Tải bản đầy đủ (.docx) (23 trang)

1 bai luan quan điểm hồ chí minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở việt nam và phương hướng vận dụng trong giai đoạn hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (190.26 KB, 23 trang )

BÀI LUẬN
MƠN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Đề tài:
QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG VẬN DỤNG
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
NỘI DUNG.......................................................................................................3
I. QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ
MINH VỀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI.........................3
1.1. Quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội3
1.2. Quan điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
...........................................................................................................................4
2. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ
THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
...........................................................................................................................8
2.1. Kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội............................................8
2.2. Một số nhận thức mới về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam hiện nay
.........................................................................................................................13
2.3. Sự vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
hiện nay...........................................................................................................15
KẾT LUẬN....................................................................................................20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................21


MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập ra Đảng Cộng Sản Việt Nam,
khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hồ. Trong suốt q trình lãnh


đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khơng ngừng chăm lo xây
dựng Đảng, xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí
Minh sáng lập và rèn luyện, hơn 90 năm qua, Cách mạng Việt Nam đã liên
tiếp giành được những thắng lợi vô cùng vẻ vang. Từ một nước thuộc địa
nửa phong kiến, Việt Nam đã trở thành một quốc gia độc lập, xây dựng nên
Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, trở thành ngọn cờ tiên
phong trong phong trào giải phóng dân tộc, giành hồ bình thống nhất tổ
quốc, đưa cả nước tiến lên Chủ nghĩa Xã hội (CNXH). Trước những biến
động vô cùng to lớn của thế giới, sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống xã hội
chủ nghĩa ở Đông Âu, chủ nghĩa xã hội bị một tổn thất vô cùng nặng nề,
nhưng hơn 30 năm qua, công cuộc đổi mới của Việt Nam vẫn giành được
những thành tựu quan trọng, được bạn bè thế giới khâm phục.
Những thắng lợi to lớn của công cuộc đổi mới trên mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội do Đảng và Nhà Nước ta lãnh đạo có được là do Đảng và Nhà
nước ta hiểu rõ, quán triệt, và thực hiện đúng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí
Minh về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam để đưa đất nước ta đi từ thắng
lợi này đến thắng lợi khác.
Trong hệ thống quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội đã kế thừa những quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về
cách mạng không ngừng và thời kỳ quá độ lên CNXH; xuất phát từ đặc điểm,
điều kiện của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Thời kỳ quá độ “là thời
kỳ dân chủ mới”, tiến dần lên CNXH. Ở Việt Nam là hình thái quá độ gián
tiếp với: “Đặc điểm to nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên
CNXH không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” 1. Đặc điểm
1

Hồ Chí Minh: Tồn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.12, tr. 411.

1



này chi phối tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm từng bước
xóa bỏ triệt để các tàn tích của chế độ thực dân, phong kiến, đồng thời từng
bước gây dựng các mầm mống cho CNXH phát triển, đó là một tất yếu.
Tuy nhiên, thực tiễn luôn vận động biến đổi không ngừng, sự nghiệp
đổi mới ở nước ta hiện nay đang đòi hỏi lý luận thời kỳ quá độ lên CNXH cần
phải được nghiên cứu, nhận thức sâu sắc hơn, nhằm khẳng định những giá trị
của nó, đồng thời bổ sung, phát triển cho phù hợp. Chính vì vậy nên tơi đã
chọn vấn đề “Quan điểm Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam và phương hướng vận dụng trong giai đoạn hiện nay” để
làm bài luận cho mơn học của mình.

2


NỘI DUNG
I. QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ
CHÍ MINH VỀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI.
1.1. Quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội
Trong những hình thái kinh tế- xã hội trước đây, sự quá độ từ một hình
thái này sang một hình thái khác diễn ra khơng có thời kỳ q độ (TKQĐ), vì
chế độ chiếm hữu tư nhân đã cho phép phương thức sản xuất mới ra đời và
phát triển ở trong lòng xã hội cũ. Điều này có thể giải thích vì sao thành phần
kinh tế TBCN lại có thể nảy sinh và lớn lên trong những điều kiện của chế độ
phong kiến. Cịn thành phần kinh tế XHCN thì ngược lại, khơng thể ra đời
một cách tự phát bằng con đường tiến hố từ CNTB, cũng như chế độ sở hữu
XHCN khơng thể hình thành trong lịng chế độ tư bản. Rõ ràng, CNXH chỉ có
thế xây dựng nên do kết quả của cuộc cách mạng XHCN, và được đánh dấu

bằng một TKQĐ đặc biệt- thời kỳ lật đổ toàn bộ chế độ xã hội cũ, xố bỏ
ngay chính nguồn gốc đẻ ra chế độ người bóc lột người, chế độ chiếm hữu tư
nhân, nhằm xây dựng những tiền đề, cơ sở của CNXH.
Chiều sâu và tầm ảnh hưởng của bước qua độ đặc biệt này không
những biểu hiện ở chỗ chỉ thủ tiêu các giai cấp bóc lột, thủ tiêu mọi quan hệ
xã hội đối kháng, mà đồng thời còn làm một cuộc cách mạng thực sự trên
toàn bộ lĩnh vực tinh thần- tư tưởng, tâm lý, tập quán, lối sống cũ còn để lại
tàn dư trong xã hội mới. TKQĐ lên CNXH phải làm biến đổi triệt để tất cả
những cái đó. Nhất là TKQĐ từ một nước nơng nghiệp lạc hậu, thuộc địa, nửa
phong kiến mà nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ tiến lên CNXH, bỏ qua
giai đoạn phát triển TBCN, thì do tính sâu sắc và phức tạp của nó, do tầm lớn
lao của những nhiệm vụ lịch sử mà nó phải giải quyết, sự biến đổi còn sâu sắc
hơn, triệt để hơn TKQĐ diễn ra ở những cuộc cách mạng XHCN trong những
điều kiện khác. Điều đó có thể giải thích được ý nghĩa đặc biệt của TKQĐ
trong những điều kiện như vậy.
3


Từ cách đặt vấn đề trên, có thế khẳng định rằng TKQĐ là bước đi tất
yếu, cần thiết cho tất cả các nước tiến lên CNXH. Do vậy, nếu TKQĐ được
xem như quá trình phát triển tự nhiên của xã hội với tính quy luật nghiêm
ngặt của nó thì đúng như Mác đã nói, khơng thể nào nhảy vọt lên để vượt qua
hay dùng sắc lệnh để xóa bỏ giai đoạn phát triển tự nhiên ấy. Lênin cũng đã
từng nói: đứng trên ý nghĩa vật chất, kinh tế, sản xuất mà xét thì TKQĐ mà
nước Nga đang đi là “thời kỳ cịn chưa đến “ngưỡng cửa” của CNXH, và nếu
khơng đi qua “ngưỡng cửa” mà chúng ta chưa đạt tới ấy thì chúng ta khơng
thể tiến lên CNXH được”2.
Kế thừa và phát triển tư tưởng phân kỳ trên Lênin quan niệm về TKQĐ
“Về lý luận, khơng thể nghi ngờ gì được rằng giữa CNTB và CNCS, có một
TKQĐ nhất định. Thời kỳ đó khơng thể khơng bao gồm những đặc điểm hay

những đặc trưng của cả hai kết cấu kinh tế- xã hội ấy. TKQĐ ấy không thể
nào lại không phải là một thời kỳ đấu tranh giữa CNTB đang giãy chết và
CNCS đang phát triển, hay nói cách khác, giữa CNTB đã bị đánh bại nhưng
chưa bị tiêu diệt hẳn và CNCS đã phát sinh nhưng vẫn còn rất non yếu”3 .
Những lời chỉ dẫn trên đây của Lênin đối với TKQĐ mà chúng ta đang
đi, có ý nghĩa phương pháp luận rất lớn. Do vậy, vấn đề TKQĐ lên CNXH rõ
ràng là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong hệ thống lý luận của CNXH
khoa học. Đây là thời kỳ diễn ra quá trình cách mạng vơ cùng sâu sắc, triệt để
và tồn diện trên những quy mơ chưa từng có trong mọi mặt của đời sống xã
hội, trong toàn bộ những điều kiện vật chất cũng như đời sống tinh thần của
xã hội, trong tồn tại xã hội cũng như trong ý thức xã hội.
1.2. Quan điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, quá độ lên CNXH là một cuộc đấu
tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài chứ “khơng thể một sớm một
2
3

V. I. Lênin tồn tập, tập 27, NXB Sự thât Hà Nội 1970, tr 431.
V. I. Lênin toàn tập, tập 39, NXB Tiến bộ Matxcơva, 1997, tr 309 – 310.

4


chiều”4. Bởi vì, “chúng ta phải xây dựng một xã hội hồn tồn mới xưa nay
chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải thay đổi triệt để những
nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ hàng ngàn năm... biến
nước ta từ một nước nông nghiệp thành một nước công nghiệp” 5. Tuy nhiên,
muốn “tiến lên chủ nghĩa xã hội” thì khơng phải “cứ ngồi mà chờ” là sẽ có
được chủ nghĩa xã hội. Nếu nhân dân ta mọi người cố gắng, phấn khởi thi đua

xây dựng, thì thời kỳ q độ có thể rút ngắn hơn.
Về nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên CNXH. Chủ tịch Hồ Chí Minh
khẳng định: Phải tạo ra những điều kiện cần và đủ về cơ sở vật chất; đồng
thời, Đảng phải “lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều
kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Trong đó, nhiệm vụ quan trọng nhất của
chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã
hội,... tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có cơng nghiệp và nơng nghiệp hiện đại,
có văn hóa và khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng xã hội chủ
nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà
xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài”6
Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nội dung nhiệm vụ cụ thể trong thời kỳ quá độ
lên CNXH rất toàn diện trên tất cả các mặt: Kinh tế; chính trị; xã hội; văn
hóa.
Trên lĩnh vực kinh tế, Hồ Chí Minh đề cập trên các mặt: lực lượng sản
xuất, quan hệ sản xuất, cơ chế quản lý kinh tế. Người nhấn mạnh đến việc
tăng năng suất lao động trên cơ sở tiến hành cơng nghiệp hóa xã hội chủ
nghĩa. Đối với cơ cấu kinh tế, Hồ Chí Minh đề cập cơ cấu ngành và cơ cấu
các thành phần kinh tế cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ.
Người quan niệm hết sức độc đáo về cơ cấu kinh tế nông - công nghiệp,
lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, củng cố hệ thống thương nghiệp làm

Hồ Chí Minh: Tồn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2000, t.10, tr. 324.
SDD tr 329
6
Hồ Chí Minh: Tồn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2000, t.13, tr. 13.
4
5

5



cầu nối tốt nhất giữa các ngành sản xuất xã hội, thỏa mãn nhu cầu thiết của
nhân dân.
Đối với kinh tế vùng, lãnh thổ. Hồ Chí Minh lưu ý phải phát triển đồng
đều giữa kinh tế đô thị và kinh tế nông thôn . Người đặc biệt chú trọng chỉ
đạo phát triển kinh tế núi, hải đảo, vừa tạo điều kiện không ngừng cải thiện và
nâng cao đời sống của đồng bào, vừa bảo đảm an ninh quốc phòng cho đất
nước, ở nước ta Hồ Chí Minh là người đầu tiên chủ trương phát triển cơ cấu
kinh tế nhiều thành phần trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Người xác định rõ vị trí và xu hướng vận động của từng thành phần kinh tế.
Nước ta cần ưu tiên phát triển kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng vật chất cho
chủ nghĩa xã hội, thúc đẩy việc cải tạo xã hội chủ nghĩa. Kinh tế hợp tác xã là
hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, nhà nước cần đặc biệt khuyến
khích, hướng dẫn và giúp đỡ nó phát triển, về tổ chức hợp tác xã, Hồ Chí
Minh nhấn mạnh nguyên tắc dần dần, từ thấp đến cao tự nguyện, cùng có lợi,
chống chủ quan, gị ép hình thức. Đối với người làm nghề thủ công và lao
động riêng lẻ khác, nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, hướng
dẫn và giúp họ cải tiến cách làm ăn, khuyến khích họ đi vào con đường hợp
tác. Đối với những nhà tư sản cơng thương, vì họ đã tham gia ủng hộ cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân, có đóng góp nhất định trong khơi phục kinh
tế và sẵn sàng tiếp thu, cải tạo để góp phần xây dựng nước nhà xây dựng chủ
nghĩa xã hội, nên nhà nước khơng xóa bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và
của cải khác của họ, mà hướng dẫn họ hoạt động làm lợi cho quốc kế dân
sinh, phù hợp với kinh tế nhà nước, khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo
chủ nghĩa xã hội bằng cách hình thức tư bản nhà nước.
Bên cạnh chế độ và quan hệ sở hữu, Hồ Chí Minh rất coi trọng quan hệ
phân phối và quản lý kinh tế. Quản lý kinh tế phải dựa trên cơ sở hạch toán,
đem lại hiệu quả cao, sử dụng tốt các đòn bẩy trong phát triển sản xuất. Người
chủ trương và chỉ rõ các điều kiện thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao
động: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, khơng làm khơng hưởng. Gắn

6


liền với nguyên tắc phân phối theo lao động. Hồ Chí Minh bước đầu đề cập
vấn đề khốn trong sản xuất.phát triển lực lượng sản xuất là vấn đề mấu chốt,
tăng năng suất lao động trên cơ sở công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, cùng
với thiết lập quan hệ sản xuất, cơ chế quản lý kinh tế, cơ cấu thành phần kinh
tế, ngành, vùng, lãnh thổ trong thời kỳ quá độ. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi
trọng quan hệ phân phối và quản lý kinh tế. Theo Người, quản lý kinh tế phải
dựa trên cơ sở hạch toán, đem lại hiệu quả cao, sử dụng tốt các đòn bẩy để
phát triển sản xuất.
Trên lĩnh vực chính trị, nội dung quan trọng nhất là phải giữ vững và
phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng; quan tâm củng cố mở rộng Mặt trận dân
tộc thống nhất, nòng cốt là liên minh cơng nhân - nơng dân - trí thức, dưới sự
lãnh đạo của Đảng, nhằm không ngừng tăng cường khối đại đồn kết dân tộc
vì sự nghiệp xây dựng CNXH.
Bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đảng ta đã trở thành
Đảng cầm quyền. Mối quan tâm lớn nhất của Người về Đảng cầm quyền là
làm sao cho Đảng không trở thành Đảng quan liêu, xa dân, thối hóa, biến
chất, làm mất lịng tin của dân, có thể dẫn đến nguy cơ sai lầm về đường lối
cắt đứt mối quan hệ máu thịt với nhân dân và để cho chủ nghĩa cá nhân nảy
nở dưới nhiều hình thức. Đảng phải ln ln tự đổi mới và tự chỉnh đốn,
nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, có hình thức tổ chức phù hợp để
đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ mới.
Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội, xây dựng nền văn hóa dân tộc, khoa
học, đại chúng và mấu chốt của văn hóa là xây dựng con người có đạo đức
cách mạng, con người mới xã hội chủ nghĩa với đức - tài gắn bó hữu cơ với
nhau, tồn tâm tồn ý phục vụ nhân dân, trung thành với sự nghiệp cách
mạng xây dựng nền văn hóa mới, lối sống mới. Người cho rằng, muốn xây
dựng chủ nghĩa xã hội nhất định phải có học thức, cần phải học cả văn hóa

chính trị, kỹ thuật và chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học chắc chắn đưa
lồi người đến hạnh phúc vơ tận. Hồ Chí Minh rất coi trọng việc nâng cao
7


dân trí. đào tạo và sử dụng nhân tài, khẳng định vai trị to lớn của văn hóa
trong đời sống
Về xã hội, mấu chốt của vấn đề xã hội là đảm bảo công bằng xã hội,
thực hiện sự phân phối theo lao động, thi hành chính sách xã hội vì tồn dân,
bình đẳng. Ngồi ra Người cịn chủ trương hướng vào phát triển con người,
bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài, coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động của sự
phát triển xã hội.
Về bước đi, biện pháp trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Hồ Chí Minh đã
xác định bước đi, cách làm phù hợp, Người khẳng định: Chúng ta cũng phải
có phương pháp xây dựng CNXH của riêng mình, gắn với thực tiễn và lịch sử
của Việt Nam. Bước đi trong xây dựng XHCN ở nước ta là “phải làm dần
dần”, ai nói dễ là chủ quan và sẽ thất bại, phải thực hiện “đi bước nào vững
chắc bước ấy”.
Hồ Chí Minh cịn chỉ ra những biện pháp hết sức quan trọng để xây
dựng CNXH, đó là: Cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp cải tạo
với xây dựng, lấy xây dựng làm chính; kết hợp thực hiện hai nhiệm vụ xây
dựng và bảo vệ, đồng thời tiến hành hai chiến lược cách mạng; xây dựng
CNXH phải có kế hoạch, biện pháp và quyết tâm. Đặc biệt, Người xác định
biện pháp cơ bản, lâu dài quyết định nhất trong xây dựng CNXH ở nước ta là
phát huy sức mạnh toàn dân, đem của dân, tài dân, sức dân dưới sự lãnh đạo
của Đảng để làm lợi cho dân.
2. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ
MINH VỀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY
2.1. Kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng được tiến hành tại Hà
Nội từ ngày 5/12/1986. Cùng với việc đánh giá đúng những thành tích đã đạt
được, ở Đại hội này sẽ chú trọng kiểm điểm những mặt yếu kém, vạch rõ
nguyên nhân, nêu ra biện pháp khắc phục, xác định nhiệm vụ và mục tiêu
8


phấn đấu trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên trong thời kỳ
quá độ. Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, nhân
dân ta tiếp tục nhận được sự giúp đỡ ta lớn của sự hợp tác nhiều mặt của Liên
Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác, sự ủng hộ của nhiều nước bầu bạn của
nhân dân yêu thương tự do trên thế giới. Chúng ta tranh thủ các cơ hội thuận
lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng lợi thế của nước ta để rút ngắn
quá trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Chủ trương đẩy mạnh hơn nữa cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa nơng
nghiệp và nơng thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề về nông nghiệp, nông
thôn và nông dân.
Trong công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Nước ta bước vào thế kỷ XXI trên
con đường xã hội chủ nghĩa đã lựa chọn với tất cả những thuận lợi và khó
khăn, cơ hội và thách thức trong bối cảnh quốc tế và đất nước đang biến đổi
không ngừng. Đánh giá thành tựu 20 năm đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ X của Đảng đã khẳng định: “Công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt
những thành tựu to lớn và có ý nghĩa trong lịch sử”, “Nhận thức về chủ nghĩa
xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn, hệ thống
quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con
đường đi lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ
bản”. Đây là những cơ sở tư tưởng, lý luận cơ bản quan trọng của Đảng ta,
nhân dân ta kiên định con đường đã lựa chọn, độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội.

Trước những biến động và những khó khăn của tình hình quốc tế,
những khuyết điểm yếu kém của bản thân chúng ta trong tiến hành đổi mới đã
làm nảy sinh những ý nghĩ cho rằng: dân tộc ta có nên đi tiếp con đường xã
hội chủ nghĩa đã lựa chọn hay khơng? Hiện nay ở nước ta có sự dao động
niềm tin trong một số người về con đường xã hội chủ nghĩa. Một số người có
ý định ngả sang con đường khác để phát triển đất nước bằng những hình thức
9


cơng khai hoặc kín đáo…vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải kiên định con
đường xã hội chủ nghĩa đã lựa chọn, đấu tranh khắc phục sự dao động niềm
tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Theo logic có thể thấy rằng: ý định trong các quan điểm tư tưởng đã
nêu trên là muốn chúng ta đưa đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ
nghĩa. Phải thừa nhận rằng, những thành tựu về kinh tế, khoa học công nghệ
và quản lý mà chủ nghĩa tư bản đạt được trong những thập niên cuối thế kỷ
XX nhờ ứng dụng nhanh những tiến bộ của cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ hiện đại là to lớn, là khơng thể phủ nhận, đó là những đóng góp
mới của chủ nghĩa tư bản vào lịch sử phát triển của nhân loại mà trong sự
nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa chúng ta
phải tiếp thu, kế thừa và sử dụng có chọn lọc. Trong khi còn khả năng tạo ra
những điều “thần kỳ mới” thì mặt phản phát triển của chủ nghĩa tư bản cũng
ngày càng lộ rõ. Sự vận động của “xã hội tiêu dùng” kiểu phương Tây gắn với
những lãng phí về của cải và nguồn lực xã hội làm gay gắt thêm tình trạng
cạnh tranh, tác động xấu đến đạo đức, môi trường. Các nước tư bản phát triển
đều công khai thừa nhận không thể giải quyết được vấn đề đạo đức, văn hóa
gia đình do sự thống trị của chủ nghĩa cá nhân cực đoan và lối sống thực
dụng. Bởi vậy, sống trong sự đầy đủ về vật chất mà con người vẫn không thấy
hạnh phúc. Trong một xã hội đầy ắp thông tin và nhộn nhịp đến chóng mặt
mà con người nhiều khi vẫn cảm thấy cơ đơn. Trước đây, nhà bác học vĩ đại

Anbe Anhxtanh đã từng lên án chủ nghĩa tư bản luôn phạm phải một tội ác là
hủy hoại con người, biến con người thành nô lệ của chủ nghĩa vị kỷ trong một
cuộc tìm kiếm sự yên ổn của tâm hồn mình-> điều này vẫn còn đúng trong xã
hội tư sản ngày nay. Vì thế ơng Gc-Xơrơc một nhà tư bản tài chính vào
“hàng cá mập” cũng phải thừa nhận sự bất ổn của chủ nghĩa tư bản hiện đại.
Trên phạm vi thế giới, chủ nghĩa tư bản ngày nay là kẻ thống trị, bóc lột, nơ
dịch các nước đang phát triển bằng các loại thực dân kinh tế, công nghệ,
thông tin trong q trình tồn cầu hóa và bằng cả các biện pháp bạo lực của
10


chủ nghĩa cường quyền vô liêm sỉ và trắng trợn nhất như đối với Irăc và Nam
Tư. Do đó, chủ nghĩa tư bản không thể là con đường mà chúng ta lựa chọn.
Trong sự dao động về niềm tin vào con đường xã hội chủ nghĩa, có
những trào lưu muốn đi tìm một “con đường thứ 3” mà theo ho không phải là
tư bản chủ nghĩa cũng không phải là xã hội chủ nghĩa, một con đường đứng
giữa hai con đường, mà điển hình là con đường xã hội dân chủ. Thực chất con
đường xã hội dân chủ chỉ là một biến dạng của con đường tư bản chủ nghĩa
chứ không phải là con đường thứ ba nào cả. Ở một số nước tư bản Tây Âu,
các Đảng xã hội dân chủ cầm quyền đã có những chính sách phù hợp làm
thay đổi bộ mặt của chủ nghĩa tư bản đem lại cho nhân dân lao động những
cải thiện đáng kể về đời sống kinh tế, các quyền tự do dân chủ…Cách làm của
họ có nhiều điểm cho chúng ta nghiên cứu, học tập và áp dụng với tinh thần
phê phán và có chọn lọc. Nhưng tất cả những cải cách đó vẫn khơng vượt ra
khỏi khn khổ chế độ tư bản. Thực tế, các mơ hình xã hội dân chủ dù ở Bắc
Âu hay ở Pháp, Anh, Đức cũng chỉ là sự tìm tịi cứu vãn chủ nghĩa tư bản
khỏi mâu thuẫn của nó. Hơn nữa chủ nghĩa xã hội dân chủ chỉ có thể ra đời và
phát triển khi có những điều kiện cần thiết như: nền kinh tế tư bản đã phát
triển cao, sự tồn tại của giai cấp trung lưu làm cơ sở xã hội, có mơi trường dân
chủ tư sản, có sự tồn tại của Đảng xã hội dân chủ lãnh đạo hoặc cầm quyền ->

Do đó những mong muốn tìm con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội dân chủ
trên đất nước ta là khơng có cơ sở.
Dù trong bối cảnh hiện nay, việc đi trên con đường xã hội chủ nghĩa có
gặp nhiều trở ngại, thì chúng ta vẫn khẳng định tiếp tục đưa đất nước quá độ
lên chủ nghĩa xã hội, đó vẫn là con đường đúng đắn duy nhất xét theo bản
chất, nội dung của cuộc cách mạng ở nước ta: mục tiêu, lý tưởng của Đảng,
nhân dân ta.
Khi phân tích về mặt chính trị thực tiễn, chúng ta thấy rằng Đảng và
nhân dân ta chỉ có thể đi con đường xã hội chủ nghĩa chứ khơng có con đường
nào khác. Để xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
11


dân chủ, văn minh thì đất nước phải ổn định về chính trị-xã hội. Hiện nay đất
nước ta đang có ổn định chính trị-xã hội tốt so với nhiều nước quanh ta và
trên thế giới. Đó là tiền đề và điều kiện thuận lợi hết sức quan trọng để xây
dựng đất nước. Sự ổn định đó chính là được tạo ra trong khuôn khổ của con
đường xã hội chủ nghĩa. Do vậy, giữ vững và củng cố sự ổn định theo hướng
phát triển xã hội chủ nghĩa là con đường đúng đắn nhất, có lợi nhất cho đất
nước, cho dân tộc.
Xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh
hiện nay là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn, phức tạp và lâu dài nhưng đó
cũng là con đường đi thuận lợi nhất và nhanh nhất để có được một nước Việt
Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Sự nghiệp đó
địi hỏi Đảng ta và nhân dân ta phải kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa, có
một quyết tâm rất cao và phải rất sáng tạo vì chúng ta có đủ cơ sở để vững tin
ở tương lai của con đường chúng ta đi. Bởi chúng ta có chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, cách mạng và khoa học soi đường, hướng dẫn để tổng
kết thực tiễn, phát triển lý luận một cách sáng tạo, có thực tiễn phong phú xây
dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở nước ta và trên thế giới. Chính sự hình

thành và phát triển của những nhân tố, những giá trị xã hội chủ nghĩa trong
công cuộc đổi mới hôm nay, những tìm tịi thử nghiệm sẽ giúp chúng ta nhận
thức đầy đủ hơn về con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Mặt khác, chúng ta
cũng có cả thực tiễn của chủ nghĩa tư bản thế giới ngày nay, một hệ thống
kinh tế đã đạt đến trình độ xã hội hóa rất cao, đã tạo ra những tiền đề mà nếu
tước bỏ cái bản chất tư sản đi thì cịn lại những tiền đề của chủ nghĩa xã hội. ở
đó những cái hay chúng ta tiếp thu học tập, cũng như những cái dở mà chúng
ta cần biết đánh giá một cách có phê phán, tránh rơi vào bệnh giáo điều rập
khuôn mới.
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta khơng chỉ có những khó
khăn, thách thức mà cịn có nhiều thuận lợi và cơ hội mới. Với đường lối đổi
mới đúng đắn sáng tạo của Đảng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết
12


toàn dân, Đảng ta và nhân dân ta sẽ tận dụng được những thuận lợi và thời cơ,
khắc phục và vượt qua được các khó khăn, thử thách, nguy cơ để đi đến mục
tiêu xã hội chủ nghĩa - con đường mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa
chọn.
2.2. Một số nhận thức mới về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam
hiện nay
Có thể nói, thực tiễn hơn 30 năm đổi mới càng làm sáng tỏ lý luận về
thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Đó là những tiêu chí đánh giá đúng sự
kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về thời kỳ quá độ của Đảng ta, đồng thời là những cơ sở, điều kiện đảm bảo
cho sự nghiệp xây dựng CNXH đi tới thành cơng.
Thứ nhất, nhận thức sâu sắc hơn những khó khăn còn tồn tại lâu dài
trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Trong thời kỳ quá độ, chúng ta dễ có những
nhận thức khơng tồn diện, lệch lạc: Một là, xem nhẹ, khơng tính đến đầy đủ
chiều hướng suy tàn, tiêu vong của hình thái kinh tế - xã hội cũ, từ đó khơng

thấy hết tính chất khó khăn, phức tạp của sự đan xen và đấu tranh giữa cái cũ,
lỗi thời, lạc hậu với những cái mới đang hình thành, có xu hướng tiến bộ và
phải trải qua một quá trình lâu dài, cái mới tiến bộ khẳng định xu hướng phát
triển hợp với điều kiện mới. Hai là, ngộ nhận về thắng lợi, chỉ có phát triển đi
lên của những nhân tố mới, nhất là khi nó đang trong giai đoạn hình thành,
đang phải trải qua những bước “q độ”, khơng thấy những khó khăn, thối
trào, thậm chí có thể thụt lùi tạm thời để củng cố và phát triển các lĩnh vực
đời sống xã hội.
Thứ hai, nhận thức đúng đắn, cụ thể hơn về “con người mới xã hội chủ
nghĩa” trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Việt Nam đang trong giai đoạn đầu
của thời kỳ quá độ, con người Việt Nam, dù ở địa vị nào cũng cịn mang dấu
vết của thời kỳ q độ. Vì thế, không thể đưa ra yêu cầu quá cao đối với họ,
nhưng những yếu tố vượt trước và với vai trị là chủ thể của lịch sử, thì cần
phải tạo lập những yêu cầu, tiêu chí phù hợp với sự nghiệp đổi mới và thời
13


đại. Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có
con người mới xã hội chủ nghĩa”.
Trên thực tế, với nhiều nước trên thế giới và cả ở khu vực Đông Nam
Á, con người và lao động Việt Nam hiện tại còn thấp về nhiều chỉ số: thể
chất, sức khỏe, tay nghề, trình độ đào tạo, khả năng hội nhập, ý thức pháp
luật.... Nguồn nhân lực chất lượng cao nước ta hiện nay đang thiếu hụt về số
lượng, hạn chế về chất lượng và bất cập về cơ cấu. Cơ cấu “dân số vàng” nếu
không được sử dụng, phát huy tốt sẽ là gánh nặng cho kinh tế và xã hội. Vì
thế, con người mới trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam cần phải được
nhìn nhận một cách tồn diện, cụ thể hơn. Đó là những con người đang trong
quá trình hồn thiện từng bước, từng mặt, đáp ứng u cầu từng lĩnh vực, địa
vị xã hội từng người. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng khẳng định: “con người là

trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể của phát triển(7).
Đảng và Nhà nước ta cũng đã có nhiều chủ trương, chính sách về giáo dục
đào tạo; chăm sóc sức khỏe; phát triển văn hóa; phát triển nguồn nhân lực và
nguồn nhân lực chất lượng cao; phát triển khoa học công nghệ; xây dựng đội
ngũ cán bộ... nhằm hướng tới mục tiêu: “con người có cuộc sống ấm no, tự
do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.
Thứ ba, nhận thức bổ sung về thực hiện cơng bằng, bình đẳng trong
thời kỳ q độ lên CNXH. Cơng bằng xã hội và bình đẳng xã hội là hai khái
niệm có nội hàm quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng không thể đồng nhất là
một. Trong CNXH, nhất là thời kỳ quá độ, bình đẳng xã hội hoàn toàn là chưa
thể thực hiện được; cái mà xã hội có thể đạt được là cơng bằng xã hội. Tuy
nhiên, dù có diễn đạt cụm từ “cơng bằng” hay “bình đẳng” một cách độc lập,
hoặc nối tiếp nhau, cũng đều thể hiện hàm ý, đó là sự ngang nhau giữa người
và người trên các phương diện của xã hội XHCN, hoặc ngang nhau trong
phân phối sản phẩm, đảm bảo sự tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ,
lao động và trả công, trách nhiệm, nghĩa vụ với quyền lợi. Hồ Chí Minh chỉ ra

14


“CNXH là bình đẳng”, “CNXH là cơng bằng, ai làm nhiều hưởng nhiều, làm
ít hưởng ít, khơng làm, khơng hưởng”. Tuy nhiên, trong thời kỳ quá độ,
những người thuộc nhóm xã hội yếu thế, người khơng cịn khả năng lao động,
hay bị bệnh tật bẩm sinh, tai nạn không thể lao động để ni sống bản thân,
thì xã hội phải có trách nhiệm đảm bảo lợi ích thiết thân cho họ, đó mới là
CNXH. Vì thế, “bình đẳng” theo nghĩa “sự ngang nhau hoàn toàn” trên mọi
phương diện trong thời kỳ quá độ là chưa thể thực hiện được.
Thứ tư, nhận thức bổ sung, phát triển luận điểm “dân chủ mới” trong
thời kỳ quá độ lên CNXH. Luận điểm “dân chủ mới” được Hồ Chí Minh sử
dụng 120 lần trong các tác phẩm của mình. Trong đó, nhiều lần Người sử

dụng các cụm từ: “thời kỳ dân chủ mới”, “tinh thần dân chủ mới”, “chế độ
dân chủ mới”, “nền nếp dân chủ mới”, “chúng ta phải thực hiện dân chủ mới
để chuẩn bị đi đến chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản” 7... Theo đó, cần
nhận thức sâu sắc hơn về “Dân chủ mới” trong thời kỳ quá độ với tính cách là
một chế độ chính trị - xã hội đang được xây dựng theo những nguyên tắc và
mục tiêu xã hội chủ nghĩa. “dân chủ mới” có sự ẩn chứa những thuộc tính xã
hội chủ nghĩa đang được hình thành, khẳng định, trên cơ sở kế thừa những giá
trị của “dân chủ cũ”, đồng thời từng bước bồi đắp những giá trị dân chủ mới
ưu việt, tạo tiền đề để đi đến CNXH.
2.3. Sự vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam hiện nay
Một là, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền
tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
- Kiên định con đường phát triển của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, độc
lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa lên chủ nghĩa xã hội – “phát triển rút ngắn” và “quá độ gián tiếp”.
- Giữ vững nền tảng tư tưởng của đổi mới và đổi mới thể chế chính trị ở
Việt Nam là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là cơ sở ý
thức hệ của đổi mới. Trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ
7

Hồ Chí Minh: Tồn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H, 2011, t.6, tr. 13.

15


Chí Minh một cách sáng tạo chứ khơng giáo điều, biệt phái. Muốn vậy phải
đổi mới nhận thức và phát triển lý luận bằng cách giữ vững ngun tắc, tìm
tịi sáng tạo về phương pháp, biện pháp xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, thực
tiễn thế giới và thời đại.

- Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách
một Đảng cầm quyền, duy nhất cầm quyền, trong điều kiện lịch sử hệ thống
chính trị nhất ngun, khơng đa ngun, đa đảng, càng khơng có Đảng đối
lập. Muốn vậy, Đảng phải tự đổi mới chính mình để thúc đẩy đổi mới xã hội;
Đảng phải làm kiểu mẫu về thực hành dân chủ, bảo đảm lãnh đạo và cầm
quyền phù hợp với Hiến pháp, luật pháp của Nhà nước pháp quyền và xã hội
dân chủ; Đảng phải tiên phong về lý luận và thực sự trong sạch vững mạnh,
có uy tín và ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội cũng chính là mục tiêu cao cả, bất biến của toàn Đảng, toàn dân ta. Dưới
sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đấu tranh giành được độc lập dân tộc,
từng bước quá độ dần lên chủ nghĩa xã hội. Trong điều kiện nước ta, độc lập
dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sau khi giành được độc lập dân tộc
phải đi lên chủ nghĩa xã hội, vì đó là quy luật tiến hóa trong q trình phát
triển của xã hội lồi người. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đáp ứng được khát
vọng của toàn dân tộc. Thực tiễn phát triển đất nước cho thấy độc lập dân tộc
là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và xã hội chủ nghĩa là cơ
sở đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộc.
Hiện nay, chúng ta đang tiến hành đổi mới tồn diện đất nước vì mục
tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, là tiếp tục
con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Hồ
Chí Minh đã lựa chọn. Đổi mới, vì thế, là quá trình vận dụng và phát triển tư
tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
chứ khơng phải là thay đổi mục tiêu.
Trong q trình phát triển kinh tế thị trường vẫn phải giữ vững định
hướng xã hội chủ nghĩa, biết cách sử dụng các thành tựu của loài người phục
16


vụ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là thành tựu khoa học công
nghệ hiện đại làm cho tăng trưởng kinh tế luôn đi liền với sự tiến bộ, công

bằng xã hội, sự trong sạch, lành mạnh về đạo đức, tinh thần. Nếu Đảng ta
không kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thì chúng ta sẽ
mắc phải sai lầm như các nước Đông âu và Liên Xô.
Hai là, Phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động
Khơi dậy mạnh mẽ tất cả các nguồn lực, trước hết là nội lực để đẩy
mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri
thức.
Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức là con
đường tất yếu phải đi của đất nước ta. Chúng ta phải tranh thủ thành tựu của
cách mạng khoa học và công nghệ, điều kiện giao lưu, hội nhập quốc tế để
nhanh chóng biến nước ta thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại,
sánh vai với các cường quốc năm châu như mong muốn của Hồ Chí Minh. Hồ
Chí Minh đã chỉ dẫn: xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp của toàn dân do
Đảng lãnh đạo, phải đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân, nghĩa là
phải biết phát huy mọi nguồn lực vốn có trong dân để xây dựng cuộc sống ấm
no, hạnh phúc cho dân. Theo tinh thần đó, ngày nay, cơng nghiệp hóa, hiện
đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức phải dựa vào nguồn lực trong nước
là chính, có phát huy mạnh nội lực mới có thể tranh thủ sử dụng hiệu quả các
nguồn lực bên ngoài.
Ba là, Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Ngày nay, sức mạnh của thời đại tập trung ở cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ, xu thế tồn cầu hóa. Chúng ta cần ra sức tranh thủ tối đã các cơ
hội do xu thế đó tạo ra để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phải có cơ chế,
chính sách đúng để thu hút vốn đầu tư kinh nghiệm quản lý hiện đại, thực
hiện sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Do
vậy, phải giáo dục cho nhân dân có được niềm tin về lý tưởng xã hội chủ
nghĩa trong điều kiện thế giới có nhiều biến đổi. Cần phải xử lý nghiêm minh,
công bằng đối với những hành vi vi phạm pháp luật làm suy thoái tư tưởng,
17



băng hoại đạo đức xã hội. Hội nhập quốc tế mà không được chệch hướng xã
hội chủ nghĩa, bảo đảm mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hịa bình,
thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào cách
mạng thế giới.
Không ngừng bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân
tộc, làm cho bản sắc văn hóa được giữ vững và phát triển. Giữ vững tinh thần
độc lập tự chủ trong tiếp thu sức mạnh bên ngoài, kết hợp sức mạnh trong
nước. Việc giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc chính đáng, ý
thức bảo vệ văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc văn hóa nước ngoài là
những yêu cầu cấp thiết được đặt ra đối với việc “mở cửa”. Công tác đối
ngoại được xác định có vai trị quan trọng đối với việc kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh của thời đại.
Bốn là, chăm lo xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
Đất nước ta đang đứng trước thời cơ lớn và thách thức lớn của sự phát
triển. Để lãnh đạo đất nước trong điều kiện mới, Đảng phải tiếp tục tự đổi
mới, tự chỉnh đốn, nâng cao được năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, nắm
bắt thời cơ, chấp nhận và vượt qua thách thức, nguy cơ, nâng cao tầm trí tuệ.
Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức đảng, cấp ủy đảng phải quán triệt tư
tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, chung tay xây dựng Đảng ta thực sự
trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”. Trong sự nghiệp đổi mới
đất nước, sự suy yếu thối hóa, biến chất của tổ chức Đảng, làm cho vai trò
cầm quyền của Đảng bị suy giảm, dẫn đến mất ổn định chính trị - xã hội là
một nguy cơ lớn. Chăm lo xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là điều kiện
tối cần thiết và là điều kiện tiên quyết để giữ vững ổn định chính trị - xã hội,
phát triển kinh tế, văn hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Toàn đảng phải
quán triệt đầy đủ quan điểm xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Tính chất
then chốt của nhiệm vụ xây dựng Đảng thể hiện: Thứ nhất, Đẩy mạnh và nâng
cao hiệu quả của nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, thu hút và phát huy
tiềm năng trí tuệ của tồn dân tộc. Trong thực hiện nhiệm vụ này, cần quán


18



×