MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học
công nghệ đã tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển một cách nhanh
chóng. Lồi người đã đạt được sự tăng trưởng kinh tế không ngừng, đời sống
vật chất và tinh thần của con người ngày càng được nâng cao. Song, bên cạnh
những thành tựu to lớn mà con người đã đạt được thì hiện nay con người đang
phải đối mặt với những vấn đề hết sức nghiêm trọng có tính tồn cầu. Một
trong những vấn đề đó là vấn đề ô nhiễm môi trường. Đây là một vấn đề cấp
thiết, đang đe doạ trực tiếp đến chính sự tồn tại của con người. Việc con
người khai thác các tài nguyên thiên nhiên một cách bừa bãi, sự phát triển của
sản xuất không gắn liền với những giá trị đạo đức và nhân văn đã khiến môi
trường bị huỷ hoại một cách trầm trọng. Hàng loạt các hiện tượng biến đổi
môi trường sinh thái như: hiệu ứng nhà kính, lỗ thủng tầng ơzơn, mưa axit, sa
mạc hố... xuất hiện. Tất cả các điều này đặt con người trước những hiểm hoạ
mơi trường do chính con người gây ra. Như Ăngghen trong tác phẩm “Biện
chứng của tự nhiên” đã cảnh báo: “Tuy vậy, chúng ta khơng nên q khối trí
về những thắng lợi của chúng ta đối với tự nhiên. Giới tự nhiên sẽ trả thù
chúng ta về mỗi thắng lợi đó” [4,tr.72]. Như vậy, nếu con người khơng có
những hành động phù hợp, khơng coi mơi trường như cơ thể sống của mình,
“thống trị giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác” thì
con người sẽ phải gánh chịu những hậu quả do việc làm của mình vì con
người và giới tự nhiên có mối liên hệ mật thiết với nhau. Điều này đã được
triết học Mác - Lênin khẳng định và chứng minh. Theo triết học Mác - Lênin,
con người và tự nhiên thống nhất với nhau. Chính tính thống nhất vật chất của
thế giới là cơ sở cho mối liên hệ này. Trong mối quan hệ với môi trường tự
nhiên, con người vừa là chủ thể, vừa là một bộ phận của giới tự nhiên. Chính
1
vì vậy tất cả những hoạt động của con người đều có sự tác động mạnh mẽ
đến mơi trường.
Nhận thức rõ vai trị quan trọng của mơi trường đối với hoạt động sống
của con người, các quốc gia đặc biệt là các nước đang phát triển trên thế giới nơi phải gánh chịu những hậu quả nặng nề do ô nhiễm môi trường gây ra đều nhận định: phát triển bền vững đi đôi với bảo vệ môi trường vừa là mục
tiêu, vừa là nguyên tắc phát triển của mỗi quốc gia. Và ở Việt Nam vấn đề
này được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm, và đến Đại hội Đảng Cộng
Sản Việt Nam lần thứ X đã nêu thành quan điểm phát triển hàng đầu là: “Đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với từng bước phát triển
kinh tế tri thức, phát triển kinh tế với nhịp độ cao, có chất lượng hơn, bền
vững hơn và gắn kết với sự phát triển con người đi đôi với việc bảo vệ tài
nguyên và cải thiện môi trường sinh thái” [13, tr.142].
Hồ Bình là một tỉnh miền núi nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, có
nhiều dân tộc anh em cùng chung sống. Với một bề dày lịch sử, truyền thống
yêu thương, cố kết cộng đồng và một nền văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc
dân tộc Hịa bình ngày càng khẳng định được vị trí, vai trị và bản sắc của
mình so với các tỉnh ở trong khu vục cũng như cả nước . Đặc biệt, đây là nơi
có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú với nhiều lâm sản quý giá, môi
trường không khí trong lành và mát mẻ. Nhưng hiện nay, do tình trạng khai
thác tài nguyên thiên nhiên một cách bừa bãi, đồng thời với sự phát triển của
các khu công nghiệp đã làm cho mơi trường Hồ Bình bị ơ nhiễm một cách
nghiêm trọng. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển bền vững của
tỉnh. Do vậy cần có những biện pháp tích cực bảo vệ mơi trường để bảo đảm
phát triển bền vững.
Vì những lí do trên, em chọn đề tài: “Vận dụng nguyên lý mối liên hệ
phổ biến trong việc đánh giá sự tác động của ô nhiễm môi trường đến sự phát
triển bền vững ở tỉnh Hồ Bình”. Mong muốn là với những nghiên cứu lý
2
luận và thực tiễn của mình sẽ đánh giá được một cách khách quan thực trạng
ô nhiễm môi trường ở tỉnh Hồ Bình, giúp mọi người thấy được mối liên hệ
giữa mơi trường và con người để từ đó đưa ra được một số giải pháp thích
hợp.
2. Tình hình nghiên cứu
Về vấn đề ảnh hưởng của môi trường đến cuộc sống của con người xét
dưới góc độ triết học, đã có rất nhiều cơng trình của các nhà khoa học và môi
trường trên thế giới cũng như trong nước nghiên cứu. Điển hình, ở trong
nước có sách: ‘Mơi trường và con người” của giáo sư Mai Đình n (1995),
“Mơi trường sinh thái vấn đề và giải pháp” của tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm
(1997), “Sinh thái học môi trường” của tác giả Trần Kiên và Phan Nguyên
Hồng (2000), “Môi trường và phát triển bền vững” của tác giả Hà Thị Thành
và Hà Thị Minh Thu (2008).
Tất cả các cơng trình nghiên cứu trên đều trình bày một cách rõ nét mối
liên hệ giữa con người và môi trường, đều đề cập đến những vấn đề cấp thiết
của môi trường, chỉ ra thực trạng của tình hình ơ nhiễm mơi trường cũng như
nguyên nhân và giải pháp về vấn đề môi trường ở Việt Nam nói chung, cịn
vấn đề ơ nhiễm mơi trường cũng như sự tác động của nó đến sự phát triển bền
vững của tỉnh Hồ Bình thì chưa có một đề tài nào đề cập đến.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu
Thông qua việc vận dụng nguyên lý mối liên hệ phổ biến của triết học
Mác – Lênin, giúp chúng ta thấy được mối liên hệ mật thiết, sự tác động qua
lại biện chứng giữa mơi trường và con người. Từ đó đánh giá được một cách
khách quan tình hình thực tế của vấn đề ô nhiễm môi trường cũng như sự tác
động của nó đến sự phát triển bền vững ở tỉnh Hồ Bình và đưa ra một số giải
pháp cơ bản để khắc phục tình trạng này, đảm bảo sự phát triển bền vững của
tỉnh Hồ Bình.
3
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được những mục tiêu đã nêu thì khố luận phải đi sâu
nghiên cứu và thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:
Một là: nghiên cứu một cách sâu sắc nguyên lý mối liên hệ phổ biến
của triết học macxit. Từ đó thấy được cơ sở của mối liên hệ biện chứng giữa
con người và mơi trường.
Hai là: phân tích và đánh giá được thực trạng, nguyên nhân ô nhiễm
môi trường và sự tác động của nó đến sự phát triển bền vững ở tỉnh Hồ Bình.
Ba là: đưa ra một số giải pháp cơ bản để bảo vệ môi trường, đảm bảo
sự phát triển bền vững ở tỉnh Hồ Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Khoá luận nghiên cứu tình hình ơ nhiễm mơi trường ở tỉnh Hồ Bình,
cụ thể là ở các vùng sản xuất nơng nghiệp, các khu khai thác tài ngun,
khống sản, khu cơng nghiệp mới xây dựng trong toàn tỉnh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Với thời gian nghiên cứu và trình độ của người nghiên cứu cịn hạn chế
trong phạm vi khố luận tốt nghiệp của cử nhân, nên trong khoá luận này em
chỉ đặc biệt chú trọng và đi sâu vào việc vận dụng nguyên lý mối liên hệ phổ
biến của triết học Mác - Lênin để đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường và
tác động của nó đến sự phát triển bền vững ở tỉnh Hồ Bình.
5. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Khoá luận được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận là các quan điểm của
triết học duy vật biện chứng đặc biệt là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của
phép biện chứng duy vật. Đồng thời, khố luận cịn dựa trên các quan điểm
của Đảng Cộng Sản Việt Nam về vấn đề môi trường và sự phát triển bền
vững.
4
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Một là: phương pháp logic - lịch sử trên cơ sở của phép biện chứng duy
vật.
Hai là: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để đánh giá vấn đề và
đưa ra kết luận.
5.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Một là: phương pháp thu thập tài liệu để thống kê.
Hai là: phương pháp xử lý số liệu.
6. Đóng góp mới của đề tài
Đề tài khố luận có những đóng góp mới nhất định: bước đầu đề tài đã
đánh giá vấn đề ơ nhiễm mơi trường dưới góc độ triết học. Vận dụng nguyên
lý mối liên hệ phổ biến để làm rõ mối quan hệ giữa con người và tự nhiên từ
đó tìm ra ngun nhân cũng như giải pháp của thực trạng này.
Đề tài cung cấp thêm những số liệu cụ thể, mới nhất về vấn đề mơi
trường và tình hình phát triển bền vững ở tỉnh Hồ Bình.
7. Bố cục của đề tài
Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận thì được chia làm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nguyên lý mối liên hệ phổ biến
Chương 2: Tác động của ô nhiễm môi trường đến sự phát triển bền
vững ở tỉnh Hồ Bình
Chương 3: Phát triển bền vững và vấn đề bảo vệ môi trường ở tỉnh Hồ Bình
5
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
1.1. Khái quát sự ra đời phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng xuất hiện từ thời cổ đại. Người đầu tiên sử dụng thuật
ngữ “phép biện chứng” là Xôcrát với nghĩa là nghệ thuật tranh luận, đàm
thoại để tìm ra chân lý. Cho đến nay, trong lịch sử triết học đã xuất hiện ba
hình thức của phép biện chứng đó là: phép biện chứng tự phát thời cổ đại,
phép biện chứng duy tâm thời cận đại và phép biện chứng duy vật macxit.
Thời kỳ cổ đại đã bắt đầu xuất hiện những tư tưởng biện chứng. Điển
hình là những tư tưởng của Hêraclit, ơng được coi là ơng tổ của phép biện
chứng. Ơng đã đưa ra tư tưởng về vận động, về các mặt đối lập cũng như sự
chuyển hố giữa chúng. Theo ơng vật chất luôn vận động, biến đổi và thế giới
như vậy không ngừng phát triển “Không ai bước xuống cùng một dịng chảy
hai lần được, bởi vì, dịng chảy thường xun chảy, nó đã thay đổi... Các vật
thể của chúng ta cũng chảy như những dịng sơng và vật chất ở trong chúng
được đổi mới thường xuyên giống như nước trong dòng chảy” [2, tr.18] . Hay
tư tưởng về âm dương - ngũ hành của người Trung Quốc... Những tư tưởng
biện chứng này đã bác bỏ những quan điểm tôn giáo đương thời, lấy chính thế
giới để giải thích thế giới. Tuy nhiên, đây mới chỉ là những tư tưởng biện
chứng mang tính chất sơ khai, tự phát khơng đứng vững khi khoa học tự
nhiên phát triển.
Thời kỳ cận đại, phép biện chứng đã có những bước phát triển mới
nhưng các nhà triết học hầu hết đều đứng trên lập trường duy tâm để nghiên
cứu vấn đề này. Điển hình như Kant, ông đã nghiên cứu lịch sử vận động của
mặt trời, đưa ra giả thuyết tinh vân, từ đó khẳng định mối liên hệ giữa các sự
vật, hiện tượng trong thế giới. Ông đưa ra các tư tưởng về các Antinomi, thừa
6
nhận khả năng nhận thức thế giới của con người nhưng ông cũng cho rằng
con người không thể nhận thức được thế giới “vật tự nó” tức là bản chất của
sự vật. Nhưng đại biểu tiêu biểu cho phép biện chứng thời kỳ này phải kể đến
Hêghên, ông cho rằng ý niệm tuyệt đối luôn vận động, phát triển không
ngừng do mâu thuẫn bên trong bản thân nó quy định và các lĩnh vực của đời
sống liên hệ với nhau chứ không tách rời nhau. Những tư tưởng biện chứng
của ông đã không mang tính sơ khai, tự phát mà ngược lại nó rất sâu sắc.
Nhưng đây là phép biện chứng duy tâm vì đây là phép biện chứng của ý niệm
tuyệt đối.
Đến thế kỷ thứ XIX, khoa học tự nhiên phát triển một cách mạnh mẽ,
đặc biệt với sự ra đời của ba phát minh vạch thời đại đó là: định luật bảo tồn
và chuyển hố năng lượng, học thuyết tế bào và học thuyết tiến hoá đã tạo
điều kiện cho phép biện chứng có bước tiến vượt bậc mà đỉnh cao của nó
chính là phép biện chứng duy vật macxit. Đây là hình thức phép biện chứng
cách mạng và khoa học nhất, ra đời dựa trên sự kế thừa và có phát triển các
hình thức của phép biện chứng trước đó, đặc biệt là phép biện chứng duy tâm
của Hêghen. Phép biện chứng duy vật, như Ph.Ăngghen đã chỉ ra "là môn
khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự
nhiên, của xã hội loài người và của tư duy" [4, tr.201].
Phép biện chứng duy vật được tạo thành từ một loạt những phạm trù,
những nguyên lý và những quy luật được khái quát từ hiện thực, phù hợp với
hiện thực. Cho nên nó có khả năng phản ánh đúng đắn những liên hệ, sự vận
động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Tùy theo nhu cầu thực tiễn
và trình độ nhận thức của con người mà phạm vi các vấn đề được bao quát
trong phép biện chứng duy vật ngày càng được phát triển cả về bề rộng lẫn
chiều sâu. Nhưng ở bất kỳ cấp độ phát triển nào của nó, nguyên lý về mối liên
hệ phổ biến vẫn được xem là nguyên lý có ý nghĩa khái quát nhất.
1.2. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
1.2.1. Các khái niệm
7
Liên hệ - trong bách khoa triết học Liên Xô định nghĩa: “Liên hệ là một
quan hệ đặc biệt, trong đó sự xuất hiện, tồn tại, vận động, phát triển và mất đi
của của khách thể này là điều kiện cho sự xuất hiện, tồn tại, vận động, phát
triển và mất đi của khách thể khác”.
Như vậy, trong vô vàn những quan hệ phong phú của thế giới chỉ
những quan hệ mà các khách thể nương tựa vào nhau, ràng buộc nhau, là điều
kiện, tiền đề tồn tại cho nhau thì được coi là liên hệ. Với ý nghĩa đó liên hệ
chính là sự tác động qua lại, quy định và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật,
hiện tượng hoặc giữa các mặt của sự vật, hiện tượng.
Liên hệ phổ biến: là liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng của toàn bộ thế
giới khách quan bao gồm cả tự nhiên, xã hội và tư duy. Đó là liên hệ của
những mặt đối lập biện chứng, nó tạo ra một cấu trúc tuyệt đối cho sự ra đời,
tồn tại, vận động và phát triển của mọi sự vật và hiện tượng trong thế giới.
Như Lênin đã từng khẳng định: “tất cả liên hệ với tất cả”.
1.2.2. Nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Về mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đã
có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Một số nhà triết học theo
quan điểm siêu hình đã phủ nhận sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng. Cho
rằng các sự vật, hiện tượng tồn tại một cách cơ lập, tách rời khơng có mối liên
hệ gì với nhau, chúng đều có nguồn gốc và sự vận động riêng của nó. Hay
cũng có một số người thừa nhận sự tồn tại của mối liên hệ nhưng lại cho rằng
đó là những mối liên hệ ngẫu nhiên, các sự vật liên hệ với nhau nhưng khơng
có sự chuyển hố cho nhau.
Chủ nghĩa duy vật macxit đã phê phán và bác bỏ những quan điểm sai
lầm này, đồng thời khẳng định: các sự vật, hiện tượng trong thế giới cho dù
khác nhau nhưng luôn tác động qua lại và chuyển hoá cho nhau. Sự tồn tại và
vận động của sự vật, hiện tượng này là cơ sở cho sự tồn tại và vận động của
sự vật khác.
8
Đồng thời đứng trên quan điểm duy vật, khoa học, phép biện chứng
duy vật cũng chỉ ra một cách đúng đắn cơ sở để các sự vật, hiện tượng liên hệ
với nhau đó chính là tính thống nhất vật chất của thế giới. Theo quan điểm
này, các sự vật, các hiện tượng trên thế giới dù có đa dạng, khác nhau như thế
nào chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một
thế giới duy nhất là thế giới vật chất. Ngay cả tư tưởng, ý thức của con người
vốn là những cái phi vật chất, cũng chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có
tổ chức cao là bộ óc con người, nội dung của chúng cũng chỉ là kết quả phản
ánh của các quá trình vật chất khách quan. Do vậy, các sự vật, hiện tượng
trong thế giới đó đều có nguồn gốc vật chất, kết cấu vật chất, và liên hệ vật
chất với nhau. Quan điểm này đã được Mác và Ăngghen khẳng định trong tác
phẩm “Chống Đuy-rinh”. Khi phê phán Đuy-rinh cho rằng thế giới thống nhất
ở tính tồn tại của nó, Ăngghen đã chỉ rõ “ Thế giới thống nhất ở tính vật chất
của nó, sự thống nhất ấy không phải được khẳng định bởi vài ba lời lẽ khéo
léo của kẻ làm trị ảo thuật mà nó được chứng minh lâu dài và khó khăn của
triết học và khoa học tự nhiên” [5, tr.74].
Tuy nhiên, các sự vật, hiện tượng mặc dù có mối liên hệ với nhau,
nhưng nó khơng đơn thuần là các mối liên hệ đồng nhất, giản đơn mà các mối
liên hệ rất đa dạng và phong phú do vậy mối liên hệ có những tính chất khác
nhau. Cụ thể, mối liên hệ có ba tính chất chủ yếu:
Thứ nhất: mối liên hệ mang tính khách quan. Các sự vật, hiện tượng
trong thế giới đều là các dạng khác nhau của thế giới vật chất, chúng đều tồn
tại khách quan do vậy mối liên hệ giữa chúng cung mang tính khách quan,
khơng phụ thuộc vào suy nghĩ, ý muốn của con người.
Thứ hai: mối liên hệ mang tính phổ biến. Mối liên hệ diễn ra cả trong
tự nhiên, xã hội và tư duy.
Thứ ba: mối liên hệ mang tính đa dạng. Bao gồm mối liên hệ bên trong,
mối liên hệ bên ngoài; mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ thứ yếu; mối liên hệ
9
bản chất và mối liên hệ khơng bản chất... Tính đa dạng của sự liên hệ do tính
đa dạng trong sự tồn tại, vận động và phát triển của chính sự vật và hiện
tượng quy định. Các loại liên hệ khác nhau thì cũng có vai trị khác nhau đối
với sự vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng trong đó mối liên hệ bên
trong, mối liên hệ bản chất bao giừ cũng giữ vai trò quyết định. Tuy nhiên, sự
phân loại các mối liên hệ chỉ mang tính chất tương đối, chúng có thể chuyển
hố cho nhau.
Như vậy, sự liên hệ tác động qua lại của sự vật, hiện tượng trên thế giới
không những là vô cùng, vơ tận mà cịn rất phong phú, đa dạng và phức tạp.
Chính vì vậy nhận thức và phân loại đúng đắn các mối liên hệ trong xã hội vơ
cùng khó khăn và có ý nghĩa cự kỳ to lớn
1.2.3. ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong những cơ sở, nền tảng
của phép biện chứng duy vật. Đồng thời nó cũng là cơ sở lý luận của quan
điểm toàn diện. Đây một quan điểm mang tính phương pháp luận khoa học
trong nhận thức và thực tiễn.
Quan điểm tồn diện địi hỏi trong hoạt động nhận thức phải thể hiện
một số yêu cầu cơ bản:
Một là: phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ với sự vật,
hiện tượng khác. Vì bản chất của sự vật, hiện tượng được hình thành, biến đổi
và bộc lộ thông qua mối liên hệ giữa chúng với các sự vật, hiện tượng khác, vì
vậy để nhận thức đúng đắn sự vật, hiện tượng không chỉ xem xét bản thân nó,
mà cịn phải xem xét tất cả các mối liên hệ của nó. Khẳng định yêu cầu này,
V.I.Lênin viết: "Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và
nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và "quan hệ gián tiếp” của sự
vật đó" [3, tr.364]. Tuy nhiên, như nguyên lý mối liên hệ phổ biến đã chỉ ra:
sự vật, hiện tượng tồn tại trong vô vàn các mối liên hệ, do đó trong mỗi điều
kiện lịch sử nhất định con người không thể nhận thức được tất cả các mối liên
10
hệ. Vì vậy, tri thức đạt được về sự vật cũng chỉ là tương đối. Ý thức được điều
này sẽ giúp chúng ta tránh được việc tuyệt đối hóa những tri thức đã có về sự
vật, xem xét sự vật một cách đầy đủ, toàn diện hơn.
Hai là: phải xem xét sự vật có trọng tâm, trọng điểm từ đó phát hiện ra
những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, bên trong của sự vật, hiện tượng.
Ba là: Phải nhận thức sự vật trong tính chỉnh thể của nó. Phải thấy được
tính nhiều mặt của các yếu tố, thuộc tính bên trong bản thân sự vật, hiện
tượng cũng như sự tác động qua lại, quy định và chi phối lẫn nhau giữa
chúng. Có như vậy thì mới nhận thức được sự vật, nhận thức được bản chất
của sự vật.
Vận dụng quan điểm tồn diện vào hoạt động thực tiễn địi hỏi phải sử
dụng đồng bộ nhiều biện pháp, phương tiện tác động để nhằm thay đổi đối
tượng. Đồng thời, quan điểm toàn diện cũng chống lại quan điểm phiến diện,
chủ nghĩa chiết trung và thuật nguỵ biện. Đây là những quan điểm sai lầm
nhìn nhận sự vật trong trạng thái cô lập, tách rời với các sự vật khác, kết hợp
một cách vô nguyên tắc những mối liên hệ và đánh tráo một cách có chủ đích
vị trí của các mối liên hệ, biến mối liên hệ không cơ bản thành cơ bản và
ngược lại.
Đảng ta đã nắm vững và vận dụng một cách sáng tạo quan điểm toàn
diện của chủ nghĩa Mác vào trong công cuộc đổi mới đất nước và đây chính là
một trong những nguyên nhân dẫn tới thắng lợi. Đảng ta đã khẳng định, Đổi
mới đất nước là đổi mới toàn diện, đổi mới mọi mặt của đời sống xã hội
nhưng bên cạnh đó, đổi mới cũng phải có trọng tâm và trọng điểm. Và tại Đại
hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI, trong khi nhấn mạnh sự cần thiết
phải đổi mới cả lĩnh vực kinh tế lẫn lĩnh vực chính trị, Đảng ta đã xem đổi
mới kinh tế là trọng tâm. Và sau hơn 10 năm đổi mới chúng ta đã "khắc phục
khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo tiền đề cần thiết về vật chất và tinh thần để
11
giữ vững ổn định chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân, tạo
thuận lợi để đổi mới các mặt khác của đời sống xã hội” [11, tr.71].
Như vậy, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đã khẳng định mọi sự vật,
hiện tượng trong thế giới khách quan đều có sự tác động qua lại, ảnh hưởng
lẫn nhau. Con người và môi trường đều là những dạng tồn tại khác nhau của
thế giới vật chất và như vậy con người và môi trường cũng không nằm ngồi
mối liên hệ đó mà ngược lại giữa con người và mơi trường cịn có mối liên hệ
gắn bó với nhau. Môi trường đã cung cấp cho con người những yếu tố quan
trọng cần thiết để tồn tại và phát triển, ngược lại con người đã cải tạo môi
trường để phục vụ cho nhu cầu của bản thân. Nhưng chính những hoạt động
của con người đã và đang gây ảnh hưởng tiêu cực đến mơi trường và con
người cũng chính là chủ thể phải gánh chịu những hậu quả đó. Con người
đang ngày càng đặt mình đối lập với tự nhiên. Với tư cách là một bộ phận hợp
thành của tự nhiên, hơn nữa con người còn được coi là con đẻ của tự nhiên thì
về mặt cấu trúc và chức năng thực chất con người không mâu thuẫn với tự
nhiên mà ngược lại, con người và tự nhiên luôn thống nhất với nhau. Sự đối
lập giữa con người và tự nhiên chỉ xuất hiện trong quá trình con người lao
động sản xuất cải tạo tự nhiên phục vụ cho sự sống của con người. Trước
những hành động khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách bừa bãi, sự phát
triển lực lượng sản xuất không gắn với những vấn đề môi trường đã khiến con
người phải chịu những tác động tiêu cực từ môi trường. Đây là một điều tất
yếu, khách quan.
12
CHƯƠNG 2
TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG Ở TỈNH HỒ BÌNH
2.1. Một số khái niệm cơ bản
2.1.1. Khái niệm mơi trường
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về môi trường:
Về mặt tự nhiên, môi trường chính là sinh quyển, là khoảng khơng gian
của trái đất mà ở đó có sinh vật cư trú và sinh sống thường xuyên.
Về mặt xã hội, Thuật ngữ môi trường được xem như là một hệ sinh thái
nhân văn (là khoa học nghiên cứu tổng thể môi trường liên quan đến đời sống
phát triển kinh tế, xã hội của con người).
Theo chương trình mơi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP): “Môi
trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học, kinh tế - xã hội, tác
động lên từng cá thể hay cả cộng đồng” [6, tr.6].
Trong từ điển Bách khoa tồn thư: “Mơi trường là tổng thể các thành tố
sinh thái tự nhiên, xã hội - nhân văn và các điều kiện tác động trực tiếp hoặc
gián tiếp lên phát triển, lên đời sống và hoạt động của con người trong thời
gian bất kỳ” [10, tr.65]. Môi trường ở đây bao gồm tất cả các điều kiện, yếu tố
tác động lên con người; bao gồm cả mơi trường tự nhiên (đất, nước, khơng
khí...) và mơi trường xã hội (kinh tế, chính trị, văn hố...). Vì với tư cách là
một động vật xã hội, sự sống của con người không chỉ gắn với môi trường tự
nhiên mà cịn gắn bó rất chặt chẽ với mơi trường xã hội, chỉ trong môi trường
xã hội con người mới mang bản chất người. các yếu tố này tác động qua lại
lẫn nhau đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người.
Luật bảo vệ môi trường Việt Nam sửa đổi (2006) định nghĩa về môi
trường: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo
13
bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại và phát
triển của con người và sinh vật” [17].
Như vậy, có rất nhiều định nghĩa về môi trường nhưng theo một cách
chung nhất môi trường chính là tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội xung
quanh con người, có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự tồn tại, phát triển
của con người. Do vậy, mơi trường và con người có mối liên hệ rất gắn bó,
chặt chẽ với nhau trong đó mơi trường giữ vai trị vơ cùng quan trọng đối với
sự sống của con người, ảnh hưởng đến sự tồn tại của con người.
2.1.2. Khái niệm ơ nhiễm mơi trường
Ơ nhiễm môi trường là một khái niệm rất rộng, cũng giống như thuật
ngữ mơi trường có rất nhiều định nghĩa khác nhau về ô nhiễm môi trường:
Về mặt sinh học, ô nhiễm môi trường là tình trạng của môi trường
trong đó những chỉ tiêu sinh lý, hố sinh của nó bị thay đổi theo hướng xấu đi
như làm suy thoái, và huỷ hoại mơi trường. Suy thối mơi trường chính là sự
suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh
hưởng xấu đến con người và sinh vật. Như vậy, ô nhiễm môi trường được
hiểu đó chính là sự có mặt của một số chất ngoại lai trong môi trường tự
nhiên, khi vượt quá giới hạn cho phép thì chất đó trở nên có hại cho con
người và sinh vật.
Về mặt pháp lý, khái niệm ô nhiễm môi trường đã được đề cập ở trong
đạo luật của rất nhiều nước. Cụ thể: Đạo luật bảo vệ môi trường năm 1986
của bang Western - Australia định nghĩa: “Ơ nhiễm mơi trường là bất cứ sự
thay đổi trực tiếp hay gián tiếp của môi trường theo chiều hướng xấu đi hay
sự suy thối của nó” [6, tr.184].
Luật mơi trường sửa đổi (2006) của nước Cộng hồ xã hội chủ nghĩa
Việt Nam định nghĩa: “Ơ nhiễm mơi trường là sự làm biến đổi tính chất của
mơi trường, vi phạm các tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đối với
con người và sinh vật” (khoản 2, điều 6) [17]. Sự biến đổi tính chất của mơi
14
trường chính là sự thay đổi tính chất lý học, hố học và sinh học của mơi
trường cụ thể: đó là sự thay đổi nồng độ CO 2 trong không khí, nồng độ O2
trong nước... đã làm cho tính chất của mơi trường bị thay đổi. Cịn tiêu chuẩn
của mơi trường được hiểu là các chuẩn mực, giới hạn cho phép nhằm đánh giá
những tính chất hay trạng thái của mơi trường.
Như vậy, dù có hiểu theo cách nào thì ô nhiễm môi trường vẫn là tình
trạng môi trường gây ảnh hưởng xấu và trực tiếp đến không chỉ con người mà
cịn tồn bộ giới sinh vật. Và ngun nhân gây ơ nhiễm mơi trường đó chính
là do hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người. Con người trong mối
liên hệ khăng khít với mơi trường đã và đang phá hoại chính mơi trường sống
của bản thân mình, đe doạ đến sự tồn tại của toàn nhân loại.
2.1.3. Khái niệm phát triển bền vững
Thứ nhất: khái niệm phát triển. Đây là một phạm trù rất rộng, được tiếp
cận theo nhiều góc độ khác nhau:
Về tự nhiên, phát triển được hiểu là sự gia tăng thuần tuý cả về mặt số
lượng và chất lượng của vật chất sống.
Về mặt xã hội, phát triển được hiểu toàn diện hơn bao gồm sự tăng lên,
tiến lên về mọi mặt trong đời sống kinh tế, xã hội của con người. Và theo như
triết học, phát triển chính là sự vận động theo chiều hướng đi lên, đây là một
thuộc tính bản chất, phổ biến, vốn có của mọi sự vật, hiện tượng trong thế
giới bao gồm cả tự nhiên, xã hội và tư duy.
Thứ hai: Khái niệm phát triển bền vững
Khái niệm phát triển bền vững là một khái niệm mới nảy sinh sau cuộc
khủng hoảng về môi trường và cho đến nay chưa có một định nghĩa nào đầy
đủ và thống nhất về vấn đề này. Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện
đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm “Chiến lược bảo tồn thế giới” của Hiệp
hội Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế (IUCN) với nội
dung rất đơn giản: sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát
15
triển kinh tế mà cịn phải tơn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác
động đến mơi trường sinh thái học.
Khái niệm này chính thức được sử dụng và trở nên rộng rãi trên toàn
thế giới thông qua báo cáo của Uỷ ban quốc tế về môi trường và phát triển
của Liên Hiệp Quốc (WCED) vào năm 1987. Báo cáo đã chỉ rõ: “Phát triển
bền vững là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu của hiện tại, nhưng không
làm tổn hại khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng nhu cầu của họ”
[6, 9]. Nói cách khác, phát triển bền vững đó chính là phải đảm bảo sự phát
triển kinh tế có hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn
giữ.
Đến năm 1992, tại Rio de Janeiro - Brazin, các đại biểu tham dự Hội
nghị về Môi trường và phát triển của Liên Hiệp Quốc đã xác định: “Phát triển
bền vững là sự phát triển kết hợp cả ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường ,
nhằm sung túc hoá nhu cầu của đời sống con người trong hiện tại mà tổn hại
đến khả năng thoả mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai” [6, 9].
Tiếp tục thực hiện chiến lược phát triển bền vững, năm 2002, Hội nghị
thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững họp tại Nam Phi với sự tham gia
của các nhà lãnh đạo cũng như các chuyên gia về kinh tế, xã hội và môi
trường của gần 200 quốc gia đã đưa ra hai văn kiện quan trọng đó là: “Tuyên
bố chính trị” và “Kế hoạch thực hiện” với tên gọi là ba trụ cột để phát triển
bền vững: “Phát triển kinh tế phải đi kèm với bảo vệ môi trường và công bằng
xã hội ở các cấp độ địa phương, quốc gia, khu vực và toàn cầu” [6, 10]
Ở Việt Nam, phát triển bền vững đã trở thành quan điểm của Đảng và
được thể hiện trong nghị quyết Đại hội lần thứ IX (2001) và được cụ thể hoá
trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010 là: “Phát triển
bền vững bao trùm các mặt của đời sống xã hội nghĩa là phải gắn kết sự phát
triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và cơng bằng xã hội, giữ gìn và cải thiện
16
mơi trường, giữ vững và ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo an ninh quốc
phòng” [12, 18].
Như vậy, mặc dù chưa có một định nghĩa chính xác và thống nhất về
phát triển bền vững, song về thực chất phát triển bền vững là sự phát triển
phải đảm bảo được cả ba yếu tố đó là: kinh tế, xã hội và mơi trường. Ba yếu
tố này có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau, do vậy Phát triển
bền vững phải “là sự xoá bỏ đói nghèo và bóc lột, là sự gìn giữ và tăng cường
các nguồn tài nguyên, là sự tăng trưởng kinh tế và văn hoá xã hội, là sự thống
nhất giữa bảo vệ môi trường sinh thái với tăng trưởng kinh tế và hoạch định
chính sách”. Có Đảm bảo được những yếu tố này thì con người mới có thể tồn
tại và phát triển được.
2.2. Thực trạng ô nhiễm môi trường ở tỉnh Hồ Bình
2.2.1. Ơ nhiễm mơi trường đất
Tài ngun đất là một trong những thành phần quan trọng nhất của mơi
trường, là mơi trường sống của nhiều lồi sinh vật, là chỗ dựa cho tất cả hệ
sinh thái. Nhưng hiện nay, môi trường đất ở Việt Nam đang bị ô nhiễm
nghiêm trọng, Ô nhiêm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm
nhiễm bẩn môi trường đất bởi các tác nhân gây ô nhiễm, là hậu quả của hoạt
động con người.
Hồ Bình là một tỉnh có diện tích đất tự nhiên tương đối lớn, diện tích
tồn tỉnh là 466.252, 86 ha, chiếm 1,41% diện tích cả nước, bao gồm 1 thành
phố và 10 huyện. Trong đó: diện tích đất nơng nghiệp là 66.759 ha, chiếm
14,32%; diện tích đất lâm nghiệp là 194.308 ha, chiếm 41,67%. Bình quân
diện tích đất tính theo đầu người là 1,7 ha/ người. Do đặc điểm về địa hình, vị
thế địa lý nên dân cư ở Hồ bình phần đơng là sản xuất nông nghiệp, trồng
các loại cây lương thực ngắn ngày như: ngô, khoai, sắn.. để đảm bảo mức
sống, phát triển kinh tế. Nhưng ngày nay, đất nơng nghiệp ở Hồ Bình đang
liên tục bị giảm mạnh do việc chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất phi
17
nơng nghiệp. Cụ thể, chỉ tính tiêng năm 2009, tổng diện tích đất nơng nghiệp
chuyển sang đất phi nơng nghiệp là 113,47 ha, trong đó diện tích đất sản xuất
nơng nghiệp chuyển sang phi nơng nghiệp là 64,68 ha (có 15,86 ha đất
chuyên trồng lúa nước), đất lâm nghiệp chuyển sang đất phi nông nghiệp là
44,15 ha [14, tr.3]. Sự suy giảm đất nông nghiệp đã khiến người dân mất đi tư
liệu sản xuất chính, cuộc sống trở nên khó khăn, chất lượng cuộc sống thấp
cùng với sự thiếu hiểu biết, họ đã tàn phá rừng, khai thác một cách bừa bãi
các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác vì mục đích trước mắt.
Theo nghiên cứu, mất rừng là thủ phạm chiếm 30% trong tổng số các
nguyên nhân làm ô nhiễm suy thoái đất, khai thác rừng quá mức là nguyên
nhân chiếm 7%, cịn ơ nhiễm đất do cơng nghiệp hố chỉ chiếm 1%. Mất rừng
dẫn đến đất không được bảo vệ và tái tạo, là nguyên nhân làm cho đất bị rửa
trơi, bạc màu, xói mịn... Sự suy giảm tài nguyên rừng đã khiến cho đất ở
nhiều địa phương trong tỉnh trở nên khô cằn, hàm lượng chất dinh dưỡng
trong đất giảm, đất mất khả năng trao đổi, tự phục hồi...
Bên cạnh đó, cũng do việc khai thác rừng một cách khơng hợp lý, đã
dẫn đến diện tích đất canh tác bị thu hẹp, kéo theo đó người nơng dân phải
tăng cường việc sử dụng các phân bón hố học, thuốc trừ sâu, thuốc kích
thích tăng trưởng...để tăng năng suất, đáp ứng đủ nguồn lương thực, điều này
tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng đất bị ơ nhiễm. Đây là nguồn ô nhiễm chiếm
28% trong tổng số các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất. Do sự thiếu
hiểu biết của người dân địa phương về tác hại lâu dài của các loại phân, thuốc
hoá học cùng với việc muốn thu được lợi nhuận cao, nên đa số nông dân ở
đây đều sử dụng các loại thuốc trừ sâu như: clo hữu cơ, DDT, aldrin, photpho
hữu cơ...; phân bón: N, P... với số lượng quá lớn làm cho đất bị thối hố, bạc
màu, mất khả năng canh tác. Điển hình như ở Kim Bơi, Tân Lạc, Lạc sơn đã
có rất nhiều đất trước kia là sản xuất nông nghiệp bây giờ phải bỏ trống, hoặc
sản xuất nhưng không đem lại hiệu quả kinh tế cao.
18
Ngoài ra, việc sử dụng các phân hữu cơ chưa qua ngâm ủ, xử lý cũng là
một tình trạng diễn ra phổ biến ở đây, gần 90% hộ nông dân trong tỉnh sử
dụng loại phân này trong hoạt động nông nghiệp của mình. Việc bón trực tiếp
phân, nước tiểu của người và động vật vào môi trường đất đã mang theo rất
nhiều vi trùng, ấu trùng làm cho đất bị nhiễm bẩn, ô nhiễm. Đặc biệt, các loại
vi trùng, trứng giun sán...có thể tồn tại trong đất rất lâu gây nguy hiểm cho
sức khoẻ con người.
Tài nguyên đất ở Hoà bình đang bị suy thối và cạn kiệt. Tình trạng đất
bị xói mịn, bạc màu, thối hố mất khả năng canh tác ngày càng trở nên phổ
biến ở đây, làm suy giảm độ đa dạng sinh học, gây khó khăn, ảnh hưởng đến
cuộc sống của người dân địa phương.
2.2.2. Ô nhiễm môi trường nước
Cũng giống như tài nguyên đất, nước cũng có một vai trị vơ cùng quan
trọng. Trong tự nhiên, nước tham gia vào thành phần cấu trúc của sinh quyển,
là môi trường sống của nhiều loại sinh vật; là nơi chứa chất thải, xử lý làm
sạch môi trường. Luật bảo vệ tài nguyên nước đã chỉ rõ: “Nước là tài nguyên
đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết
định sự tồn tại và phát triển bền vững của đất nước; mặt khác nước cũng gây
ra tai hoạ cho con người và môi trường”. So với thế giới, Việt Nam là một
nước có hệ thống sơng, suối dày đặc với tổng chiều dài trên 52.000 km, tài
nguyên nước dồi dào cả nước mặt lẫn nguồn nước ngầm. Nhưng hiện nay
chất lượng nước của Việt Nam cũng đang trong tình trạng suy giảm mạnh,
nước ngày càng thay đổi theo chiều hướng xấu đi, với sự xuất hiện ngày càng
nhiều các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con
người và sinh vật. Xét về tốc độ lan truyền và quy mơ ảnh hưởng thì ơ nhiễm
nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất.
Tỉnh Hồ Bình có nguồn tài ngun nước rất dồi dào. Nằm trong vùng
khí hậu nhiệt đới gió mùa, Hồ Bình có lượng mưa bình qn lớn khoảng từ
19
1.500 - 2.500m3, tập trung chủ yếu vào mùa mưa, chiếm 85 - 90%. Hồ Bình
có diện tích nước mặt tương đối lớn; mạng lưới sông suối phân bố tương đối
đều, đặc biệt có Sơng Đà lớn nhất bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua các
huyện Mai Châu, Đà Bắc, Tân Lạc, Kỳ Sơn, thành phố Hồ Bình với tổng
chiều dài là 151 km, tổng lưu vực là 51.800km 2. Ngồi ra, cịn có các con
sơng lớn khác như: Sơng Bôi dài 60km, Sông Bưởi dài 55 km, Sông Bùi dài
32 km... Như vậy, Hồ Bình nằm trong khu vực của ba hệ thống sơng chính:
Sơng Đà, Sơng Mã và Sông Đáy với khoảng 400 con sông, suối lớn nhỏ chảy
trên địa bàn tồn tỉnh. Trong đó có khoảng 5 sơng có lưu lượng dịng chảy
trên 31m3/s. Tổng lưu lượng dịng chảy trung bình hàng năm trên tồn tỉnh
khoảng 5 tỷ m3, trong đó hệ thống sơng đà chiếm tỷ trọng chủ yếu. Ngồi
nước mặt, Hồ Bình cịn có nguồn nước ngầm rất phong phú. Tài nguyên
nước khoáng dồi dào như mỏ nước khống ở Kim Bơi, Lạc Sơn và hiện nay
ngồi mỏ nước khống Mớ đá đang được khai thác thì trong tỉnh cịn phát
hiện trên 4 điểm nước khống, nước nóng đang được nghiên cứu.
Lượng nước dồi dào của tỉnh đủ để phục vụ hoạt động công nghiệp và
nơng nghiệp cho tồn tỉnh. Mặc dù là nước đầu nguồn nhưng cùng với q
trình cơng nghiệp hố, phần lớn các sơng, suối ở Hồ Bình đều rơi vào tình
trạng bị ô nhiễm, nồng độ các chất ô nhiễm vượt quá giới hạn cho phép ngày
càng tăng, nghiêm trọng có rất nhiều mẫu nước ở quanh khu công nghiệp
Lương Sơn và thành phố Hồ Bình đã phát hiện có các chất độc hại như
phenol, asen, xyanua, chì, các hợp chất của nitơ...cực kỳ độc hại cho sức khoẻ
con người, ảnh hưởng đến chất lượng phát triển. Phần lớn các khu, cụm công
nghiệp tập trung và các nhà máy công nghiệp ở trên địa bàn tỉnh khơng có hệ
thống xử lý nước thải đúng tiêu chuẩn hoặc có những khơng sử dụng. Điển
hình như cơng ty sản xuất giấy Hapaco Đơng Bắc ở Huyện Mai Châu, xả
nước thải với lưu lượng 200 m3/ ngày vào môi trường, chỉ tiêu BOD (lượng
oxy cần thiết cho q trình phân huỷ hiếu khí chất hữu cơ trong nước trong
khoảng thời gian nhất định) vượt 1,8 lần mức cho phép, COD (lượng oxy cần
20