Tải bản đầy đủ (.docx) (25 trang)

Tiểu luận tư tưởng chính trị tam quyền phân lập của môngtexkiơ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (185.88 KB, 25 trang )

TIỂU LUẬN
MƠN: LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ

Đề tài:
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TAM QUYỀN PHÂN LẬP CỦA
MƠNGTEXKIƠ `


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU.......................................................................................................1
NỘI DUNG...................................................................................................5
Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TAM
QUYỀN PHÂN LẬP CỦA MƠNGTEXKIƠ...............................................5
1.1. Cơ sở thực tiễn hình thành tư tưởng chính trị tam quyền phân lập của
Mơngtexkiơ................................................................................................5
1.2. Cơ sở lý luận hình thành tư tưởng chính trị tam quyền phân lập của
Mơngtexkiơ................................................................................................7
Chương 2 NỘI DUNG HỌC THUYẾT TAM QUYỀN PHÂN LẬP CỦA
MÔNGTEXKIƠ..........................................................................................11
2.1. Cơ sở luận chứng cho lý thuyết phân quyền.....................................11
2.2. Phân chia các nhánh quyền lực.........................................................12
2.3. Kiểm soát các nhánh quyền lực........................................................15
Chương 3 GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TAM
QUYỀN PHÂN LẬP CỦA MƠNGTEXKIƠ.............................................18
3.1. Giá trị trong tư tưởng chính trị tam quyền phân lập của Môngtexkiơ
..................................................................................................................18
3.2. Hạn chế trong tư tưởng chính trị tam quyền phân lập của
Mơngtexkiơ..............................................................................................19
KẾT LUẬN.................................................................................................22
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................23




MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử tư tưởng chính trị, Mơngtexkiơ được xem là người
hồn thiện học thuyết tam quyền phân lập. Tư tường chính trị tam quyền
phân lập của Môngtexkiơ đã được vận dụng thành công trong việc thiết lập
bộ máy nhà nước của rất nhiều quốc gia phương Tây, điển hình là nước
Mỹ, một nhà nước được xây dựng dựa trên mơ hình tam quyền phân lập
một cách triệt để nhất. Mặc dù còn tồn tại một số hạn chế nhất định nhưng
tư tưởng chính trị tam quyền phân lập vẫn có giá trị lịch sử dài lâu trong
kho tàng tư tưởng của nhân loại và cho đến ngày hôm nay, trong thực tiền
đời sống chính trị đương đại, nó vẫn ln khẳng định ý nghĩa tích cực.
Tư tưởng chính trị tam quyền phân lập của Môngtexkiơ là một trong
những trào lưu tư tưởng cần được nghiên cứu rộng rãi trong công tác lý
luận ở Việt Nam hiện nay. Giá trị của tư tưởng chính trị tam quyền phân
lập của Mơngtexkiơ khơng chỉ có ý nghĩa đối với các nước tư bản chủ
nghĩa ở phương Tây và một số quốc gia ở phương Đông mà cịn có ý nghĩa
đặc biệt đối với các quốc gia thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa như Việt
Nam.
Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam hiện nay, tư tưởng chính trị tam
quyền phân lập có được nghiên cứu nhưng do tâm lý còn né tránh trước
những tư tưởng của các học giả tư sản nên chưa có cái nhìn khách quan,
khoa học. Vi thế, việc phân tích sâu sắc tư tưởng chính trị tam quyền phân
lập của Mơngtexkiơ để thấy được những hạt nhân hợp lý trong xây dựng và
tổ chức bộ máy nhà nước vẫn rất hạn chế.
Hiện nay, trong xu hướng chung của sự nghiệp đổi mới toàn diện ở
Việt Nam, vấn đề đổi mới và đi đến hồn thiện thể chế chính trị đạt các tiêu
chuẩn: toàn diện, đồng bộ, khoa học và thực tiễn đang được coi trọng đặc


1


biệt và là một trong những nhiệm vụ vô cùng cấp thiết đang đặt ra cho
Đảng và Nhà nước Việt Nam để hướng tới xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Vậy nên, việc
phát hiện ra những giá trị tích cực đồng thời loại bỏ những hạn chế nhất
định để học tập và kế thừa tư tưởng chính trị tam quyền phân lập của
Mơngtexkiơ trong q trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề nghiên cứu mang tính
cấp thiết.
Xuất phát từ những yêu cầu trên, em lựa chọn thực hiện đề tài “Tư
tưởng chính trị tam quyền phân lập của Môngtexkiơ” để làm tiểu luận
kết thúc học phần lịch sử tư tưởng chính trị
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tư tưởng chính trị tam quyền phân lập của Môngtexkiơ đã được một
số học giả nghiên cứu với các cơng trình tiểu biểu như:
Dương Xuân Ngọc (chủ biên) (2001), Lịch sử tư tưởng chính trị,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Trần Văn Phịng, Dương Minh Đức (2003), Lịch sử triết học phương
Tây trước Mác, Nxb Đại học Sư Phạm Hà Nội, Hà Nội.
Lê Tuấn Huy (2006), Triết học chính trị Montesquieu với việc xây
dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, Nxb Tp Hồ Chí Minh.
Lưu Kiến Thanh, Phạm Hồng Thái (dịch), Lịch sử các học thuyết
chính trị trên thế giới, Nxb Văn hóa Thơng tin, Hà Nội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: trên cơ sở làm rõ sự hình thành của tư tưởng
chinh trị tam quyền phân lập trong lịch sử tư tưởng chính trị thời kỳ trước
Mơngtexkiơ để làm rõ nội dung từ đó phân tích cụ thề những giá trị, hạn
chế trong tư tưởng chính trị tam quyền phân lập của Mòngtexkiơ.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

2


Thứ nhất, phân tích làm sáng tỏ cơ sờ hình thành tư tưởng chính trị
tam quyền phân lập của Mơngtexkiơ trên phương diện lý luận và thực tiền.
Thứ hai, trinh bày nội dung tư tưởng chính trị tam quyền phân lập
của Môngtexkiơ.
Thứ ba, bước đầu đánh giá nhưng giá trị và hạn chế trong tư tưởng
chính trị tam quyền phân lập của Môngtexkiơ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiêu cứu
Đối tượng nghiên cứu: tư tưởng chính trị tam quyền phàn lập
Môngtexkiơ.
Phạm vi nghiên cứu: trong tác phẩm “Bàn về tinh thần pháp luật”
của Mơngtexkiơ do Dịch giả Hồng Thanh Đạm biên dịch.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan
điềm, đường lối của Đãng Cộng sàn Việt Nam và chính sách và pháp luật
của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử
Phương pháp cụ thể: Sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp diễn dịch - quy nạp, phương pháp đọc và nghiên
cứu tài liệu...
6. Đóng góp mới của đề tài
Đề tài đã bước đầu tập trung nghiên cứu sâu về mối quan hệ cơ bản
giữa các cơ quan quyền lực trong bộ máy nhà nước theo hướng tiếp cận
Chính trị học, trước hết là từ lý do vì sao phải phân chia quyền lực nhà
nước cho đến sự phân phối giữa các cơ quan quyền lực đảm bảo sự độc lập,

kiềm chế và kiểm soát quyền lực để tránh sự tập trung quá mức dẫn đến
quyền lực bị tha hóa.

3


7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận: đề tài đã hệ thống hóa được chiều dài lịch sử của sự
phát triển tư tưởng chính trị tam quyền phán lập và chỉ ra nội dung của tư
tưởng chính trị, đặc biệt là bước đầu phân tích được những giá trị lý luận và
thực tiễn cùng những đánh giá được một số hạn chế trong tư tưởng chính trị
tam quyền phân lập của Mơngtexkiơ.
Ý nghĩa thực tiễn: đề tài là tài liệu chuyên khảo khoa học nghiên cứu
cơ bản, tồn diện, có hệ thống về tư tưởng chính trị tam quyền phân lập của
Mơngtexkiơ dưới góc độ Chính trị học, nhất là trong nghiên cứu và giảng
dạy mơn học Lịch sử tư tưởng chính trị.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mờ đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của đề tài gồm 3 chương 7 tiết.

4


NỘI DUNG

Chương 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ
TAM QUYỀN PHÂN LẬP CỦA MƠNGTEXKIƠ

1.1. Cơ sở thực tiễn hình thành tư tưởng chính trị tam quyền

phân lập của Mơngtexkiơ
Thực tiễn châu Âu cuối thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XVIII
Cuối thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XVIII là thời kỳ gắn với sự ra đời
của chủ nghĩa tư bản với nền kinh tế hàng hóa phát triển nhanh chóng đặc
biệt là các ngành cơng thương nghiệp ở các nước Tây Âu như Pháp có
bước phát triển vượt bậc. Tuy nhiên, do q trình cơng nghiệp hóa diễn ra
mạnh mẽ ở châu Âu đã làm thay đổi căn bản tư cách thức sản xuất cho đến
đời sống xã hội cũng như trong đời sống chính trị.
Đời sống xã hội ở châu Âu thời kỳ này có nhiều biến động lớn, diễn
ra hết sức phức tạp từ việc gia tăng dân số, phát triển đơ thị, hình thành giai
cấp mới - giai cấp tư sản công thương và giai cấp vô sản công nghiệp đến
những cuộc đấu tranh giữa hai giai cấp mới trong một quốc gia đã châm
ngòi cho những cuộc chiến tranh liên miên bùng nổ bên ngoài phạm vi của
một quốc gia.
Thực tiễn nước Pháp cuối thế kỹ XVII đến giữa thế kỷ XVIII
Thế kỳ XVII-XVIII, nước Pháp là quốc gia điển hình cho nền quân
chủ chuyên chế phong kiến ở châu Âu lúc bấy giờ, với những đặc trưng cơ
bản:

5


Về kinh tế, nước Pháp thời kỳ này có sự phát triển vượt bậc bắt
nguồn từ sự vươn lên mạnh mẽ của 2 ngành công nghiệp và thương nghiệp
với các mặt hàng cụ thể như: tơ lụa, thuộc da, thảm hoa, thủy tinh, xà
phịng, luyện thép. Thương nghiệp thì nổi bật với ngoại thương phát triển
mạnh. Vì thế, đã tạo nên sự phồn vinh cho nước Pháp trong suốt thế kỷ
XVIII. Tuy nhiên, trong lĩnh vực nông nghiệp lại vô cùng lạc hậu và kém
phát triển, khi người nông dân vẫn lao động với các dụng cụ sản xuất thô
sơ nên ruộng đất chủ yếu bị bỏ hoang do năng suất lao động kém và thường

xuyên xảy ra mất mùa đói kém. Trong khi đó, tiền thuế mà người nơng dân
phải đóng là hết sức nặng nề, mặc dù thời kỳ này ở Pháp vẫn chưa có đơn
vị tiền tệ hay đo lường. Thu nhập của người nông dân Pháp chi còn 15%
sau khi đã nộp thuế cho lãnh chúa khoảng 25%, nộp thuế cho nhà thờ
khoảng 10% và 50% cịn lại người nơng dân phải nộp thuế cho nhà nước
phong kiến.
Về chính trị, Vua Louis XIV và vua Louis XV là người đại diện cho
chế độ quân chủ chuyên chế ở Pháp trong thế kỳ XVII-XVIII, cũng là
người quyết định mọi việc đối nội, đối ngoại, bổ nhiệm và cách chức các
bộ trưởng, các quan chức nhà nước từ trung ương đến địa phương đồng
thời ơng cũng có quyền hủy bỏ các đạo luật, độc quyền trong việc trừng
phạt và ân xá. Đối với những người nông dân thuộc tầng lớp thứ ba trong
xã hội Pháp lúc đó, vua có quyền bắt giam vơ cớ cả khi họ vơ tội và giam
giữ bao lâu tùy ý mà không cần đưa ra xét xử. Ngồi ra, vua cịn có quyền
cử những người thân cận của mình làm đại thần, tổng quản các địa phương
nên những người này cũng hết sức độc đoán và khắc nghiệt trong việc
trừng phạt.
Về xã hội, xã hội Pháp bấy giờ tồn tại ba đẳng cắp. Đẳng cấp thứ
nhất là quý tộc có mọi quyền và khơng phải đóng thuế. Đẳng cấp thứ hai là
tăng lữ cũng được hưởng mọi quyền lợi và khơng phải đóng thuế. Đẳng cấp

6


thứ ba gồm tư sản, bình dân, thợ thủ cơng, nông dân, là đẳng cấp đông đảo
nhất trong xã hội nhưng khơng hề có quyền hành lại phải chịu đóng thuế
nặng nề và phải làm cả nghĩa vụ đối với nhà nước phong kiến Pháp. Vì thế,
trong xã hội Pháp lúc này luôn tồn tại mâu thuẫn giữa muốn duy trì chế độ
phong kiến với nền quân chủ chuyên chế để được hưởng mọi đặc quyền,
đặc lợi của hai đẳng cấp bên trên là quý tộc và tăng lữ với một bên là muốn

xóa bỏ chế độ phong kiến khi phải chịu mọi thứ thuế má nặng nề và phải
thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước chuyên chế đó của đẳng cấp thứ ba.
Với những mâu thuẫn nội tại cùng những căng thẳng với bên ngoài đã làm
cho nước Pháp trước cách mạng tư sản hết sức biến động về xã hội nhưng
ngược lại nền kinh tế vẫn đang trên đà phát triển.
1.2. Cơ sở lý luận hình thành tư tưởng chính trị tam quyền phân
lập của Mơngtexkiơ
Những tư tường phân quyền thời kỳ cổ đại ở phương Tây
Khi nhà nước ra đời bắt nguồn từ những mẫu thuẫn giai cấp khơng
thể điều hịa được, cũng là lúc nhà nước trờ thành chủ thể trung tâm của
quyền lực chính trị. Vì thế, trong lịch sử tư tưởng chính trị, các chính trị gia
cũng thừa nhận rằng khi đã có quyền lực, đã tập trung và thống nhất quyền
lực trong tay thì tất yếu sẽ dẫn đến việc lạm dụng quyền lực làm cho quyền
lực bị tha hóa. Do đó, cần phải có sự phân chia quyền lực để hạn chế sự
lạm dụng quyền lực đặc biệt là quyền lực nhà nước.
Vì lý do đó nên tư tường về phân chia quyền lực chính trị đã ra đời
từ rất sớm ngay sau khi những tư tưởng về nhà nước pháp quyền đầu tiên
trong lịch sử tư tưởng chính trị ở phương Tây ra đời, gắn liền với tên tuổi
của các nhà tư tưởng tiêu biểu như là: nhà cải cách Xơlơng (638 - 559
tr.CN), nhà triết học: Hêraclít (530 - 470 tr.CN), Xôcrat (496 - 399 tr.CN),
Đêmôcrit (khoảng 460 - 370 tr.CN)....

7


Khởi nguồn cho tư tưởng phân chia quyền lực là nhà tư tưởng, nhà
triết học duy tâm lỗi lạc, nhà chính trị Hy Lạp cổ đại Platơn, người đã có
rất nhiều đóng góp trong sự hình thành tư tưởng chính trị phương Tây về
nhà nước, pháp luật và mối quan hệ giữa chúng.
Sau Platôn, Arixtốt (384 - 322 tr.CN) là một triết gia Hy Lạp nhưng

ơng lại có những đóng góp đặc biệt xuất sắc cho Chính trị học, cho học
thuyết về nhà nước pháp quyền nói chung và cho học thuyết về phân chia
quyền lực nhà nước nói riêng.
Arixtốt đã khảo sát các thiết chế của pháp quyền hiện thực, từ đó ơng
đã phân loại các cơ quan nhà nước thành ba bộ phận: nghị luận, chấp hành,
xét xử; phân tích cơ cấu và cách thức vận hành của các cơ quan hành chính
và tư pháp. Đối với bộ phận thứ nhất, bộ phận nghị luận về các việc công
cộng, bộ phận thứ hai là gắn liền với các pháp quan thực thi quyền lực và
phương thức lựa chọn ra họ, bộ phận thứ ba đó là những người có thầm
quyền xét xử. Tùy thuộc vào các loại cơng việc trên do lực lượng nào nắm
giữ sẽ hình thành nên các mơ hình tồ chức thực thi quyền lực khác nhau
(các chính thể quân chủ, quý tộc, dân chủ).
Như vậy, có thể nói Arixtốt mới chính là nhà tư tưởng đầu tiên và
trực tiếp nhất đặt nền móng cho tư tưởng tam quyền phân lập bằng những
nghiên cứu và phân loại cụ thể nhất về quyền lực nhà nước trong bối cảnh
chế độ thành bang của Hy Lạp đang suy tàn, chế độ chiếm hữu nô lệ đã
lung lay đến gốc rề. Arixtốt đã kế thừa sự phân chia quyền lực nhà nước
của Platơn, nhưng cách phân chia có sự khác biệt cà về số lượng và tên gọi.
Arixtốt cho rằng đề tránh độc tài, quyền lực nhà nước cần được phân ra ba
quyền: lập pháp, hành pháp và phân xử.
Tuy nhiên, cả Platôn - người đưa ra ý tường đầu tiên về phân chia
quyền lực nhà nước và Arixtốt - được xem là người khởi xướng tư tưởng
này mới chi dừng lại ở việc phân biệt các lĩnh vực hoạt động của nhà nước

8


chứ chưa chỉ rõ phương thức vận hành và mối quan hệ bên trong giữa
những thành tố này mặc dù sự phân chia quyền lực hồn tồn có mục đích
nhằm chống độc quyền nhà nước.

Những tư tưởng đầu tiên về phân chia quyền lực nhà nước đã xuất
hiện rất sớm, từ thời kỳ cồ đại trong lịch sử tư tưởng chính trị ở phương
Tây. Tuy nhiên, trải qua một thời gian rất dài hàng trăm năm của đêm
trường Trung cồ, dưới ách thống trị của chế độ chuyên chế, ngập tràn trong
bóng đêm của tơn giáo, của thần quyền và thế quyền, những tư tưởng về
phân chia quyền lực nhà nước đã khơng có điều kiện để tiếp tục phát triển.
Vì thế, phải đến khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hình thành và
phát triển thì cùng với vần đề nhà nước, pháp luật, quyền lực, pháp quyền
và vấn đề phân chia quyền lực mới được tập trung giải quyết về mặt lý luận
một cách khoa học.
Những tư tưởng phân quyền thời cận đại ở phương Tây
Mở đầu cho những nghiên cứu, kế thừa một cách sáng tạo và phân
tích tương đối cụ thể nhưng tư tưởng về phân chia quyền lực của các nhà tư
tưởng từ thời kỳ Hy Lạp cổ đại đó là “người cha của chủ nghĩa tự do” - nhà
triết học duy vật người Anh J.Lốccơ (1632 - 1704).
Ngoài những quan điểm hết sức sâu sắc về nhà nước, tư tưởng về
phân chia quyền lực cũng là nét đặc trưng trong tư tưởng chính trị của
J.Lốccơ, tư tưởng này đã từng được đưa vào thời kỳ cách mạng 1640-1660
trong học thuyết của những người theo phái bình quân. J.Lốccơ phân chia
quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền liên
hiệp của cộng đồng quốc gia, trong đó, ơng cho rằng, quyền lập pháp là
quyền lực cao nhất trong nhà nước.
Quyền lập pháp phải thuộc về nghị viện: nghị viện phải họp định kỳ
để thông qua các đạo luật, nhưng không thể can thiệp vào việc thực hiện
chúng. Quyền hành pháp phải thuộc về nhà vua. Nhà vua lãnh đạo việc thi

9


hành pháp luật, bổ nhiệm các bộ trưởng, chánh án và các quan chức khác.

Hoạt động của nhà vua phụ thuộc vào pháp luật và vua khơng có đặc quyền
nào đối với nghị viện (như quyền phủ quyết, quyền bài miền...) để nhằm
khơng cho phép nhà vua thâu tóm tồn bộ quyền lực về tay minh và xâm
phạm các quyền tự nhiên của công dân. Nhà vua cùng thực hiện quyền liên
minh, tức là giải quyết các vấn đề chiến tranh, hòa binh và đối ngoại.
So với tư tưởng phân chia quyền lực của các nhà chính trị thời kỳ Hy
Lạp cồ đại, ta thấy quan điểm của nhà tư tưởng lớn người Anh đã hết sức
tiến bộ, ông không chỉ phân chia quyền lực nhà nước ra thành các cơ quan
khác nhau mà đã có những phân tích tương đối cụ thể về việc phân chia
quyền lực đó. Nhưng cũng giống như những nhà tư tưởng đi trước, tư
tưởng chính trị về phân chia quyền lực nhà nước của J.Lốccơ cũng không
tránh khỏi hạn chế nhất định khi ông ln muốn biện minh và cố duy trì
vĩnh viền chế độ tư bản chủ nghĩa dựa trên bản tính “mn đời và bất biến”
của con người.
Tuy nhiên, nhưng tư tưởng về phân chia quyền lực nhà nước đầu tiên
trong lịch sử tư tưởng chính trị của nhân loại kể từ thời cồ đại cho đến thời
cận đại, mặc dù còn tồn tại những mặt hạn chế do những điều kiện khách
quan và chủ quan nhưng đó chính là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đối
với các nhà tư tưởng về sau tiếp cận hướng nghiên cứu này.

10


Chương 2
NỘI DUNG HỌC THUYẾT TAM QUYỀN PHÂN LẬP CỦA
MÔNGTEXKIƠ

2.1. Cơ sở luận chứng cho lý thuyết phân quyền
Môngtexkiơ lấy tiền đề xuất phát điểm để xây dựng lý thuyết này
như sau: “Tôi muốn phân biệt các luật tạo ra tự do chính trị trong quan hệ

với hiến pháp khác với các luật tự do chính trị trong quan hệ với công dân”.
Với tư cách là nhà luật học, Môngtexkiơ đã đưa ra quan niệm về
niệm về tự do còn tồn tại tới ngày nay như sau: “Tự do là được làm tất cả
những điều mà luật pháp cho phép”. Và rõ ràng ngay trọng định nghĩa về tự
do này, Môngtexkiơ vẫn coi pháp luật như là hệ quy chiếu của tự do cơng
dân. Hay nói cách khác tự do trong quan niệm của Môngtexkiơ “không tồn
tại ở đâu khác bên ngồi địa hạt chính trị, nhà nước. Nhà nước và các cá
nhân xã hội là hai chủ thể chính trị. Chính trong mối quan hệ giữa hai chủ
thể chính trị này, phạm trù tự do, bình đẳng được biểu hiện rõ”.
Trên cơ khái niệm tự do ở trên, Môngtexkiơ đã đưa ra quan niệm về
tự do chính trị. Theo ông “Tự do chính trị của công dân là sự yên tâm của
mỗi người nghĩ rằng mình được an định. Muốn đảm bảo tự do chính trị như
vậy thì Chính phủ phải làm thế nào để một công dân này không phải sợ một
công dân khác”.
Từ những định nghĩa thế nào là tự do và tự do chính trị, Mơngtexkiơ
cho rằng chỉ có thể có được tự do và cao hơn là tự do chính trị khi tuân thủ
nghiêm minh pháp luật, tức là chi được làm tất cả những điều mà luật pháp
cho phép và tuyệt đối không được làm những điều luật pháp cấm.

11


Hơn nữa, Mơngtexkiơ cho rằng chi có thề có được tự do chính trị
trong một chính phủ vừa phải, ơn hịa và điền này khơng phải ln ln dễ
dàng tìm thấy được. Tự do chính trị chỉ có được khi khơng có sự lạm dụng
quyền lực. Thế là, theo Mơngtexkiơ nếu trong một quốc gia có sự lạm dụng
quyền lực thì sẽ khơng thể tồn tại tự do chính trị. Do đó, tự do chính trị và
lạm dụng quyền lực khơng bao giờ đồng hành với nhau. Nếu có được tự do
chính trị thì tất yếu sẽ khơng có sự lạm dụng quyền lực và ngược lại, khi sự
lạm dụng quyền lực xuất hiện, tự do chính trị sẽ khơng cịn nữa. Nhưng

trong thực tiễn chính trị, kinh nghiệm liên tục cho thấy rằng: bất kỳ ai khi
được trao quyền lực đều có khuynh hướng lạm dụng quyền lực ấy và sẽ
tăng quyền lực của anh ta lên đến hết mức. Điều này khơng phải là lạ, nó
thực sự đúng và bản thân nó là một ưu điểm, một thói quen nên quyền lực
cần phải có sự giới hạn. Từ đó, Mơngtexkiơ đã đưa ra lời khun: Để ngăn
chặn sự lạm dụng quyền lực, điều cần thiết rất tự nhiên là quyền lực phải
được kiểm tra bời quyền lực.
Như vậy, trước hết để có được tự do chính trị và ngăn chặn được sự
lạm dụng quyền lực chỉ có thể giải quyết được bằng con đường phân chia
quyền lực, cụ thể là quyền lực nhà nước. Vì thế, dựa trên sự kế thừa tư
tưởng phân chia quyền lực của các học giả đi trước cùng với thực tiễn lịch
sử châu Âu và nước Pháp lúc bấy giờ, Môngtexkiơ đã tiếp tục đề cập đến
việc phân chia quyền lực nhà nước đề đảm bảo tự do và đặc biệt là tự do
chính trị thực sự cho cơng dân bằng con đường tơn trọng và tn thủ pháp
luật. Do đó. lý do cần thiết phải phân chia quyền lực nhà nước theo
Môngtexkiơ là để mang lại tự do chính trị cho cơng dân đồng thời cũng là
giải pháp hữu hiệu để ngăn cản sự lạm dụng quyền lực dẫn đến làm tha hóa
quyền lực nhà nước.

12


2.2. Phân chia các nhánh quyền lực
Kế thừa các nhà tư tưởng đi trước, Môngtexkiơ cho rằng “Trong một
quốc gia đều có ba thứ quyền: quyền lập pháp, quyền thi pháp, những điều
hợp với quốc tế công pháp và quyền thi hành những điều trong luật dân
sự”. Mơngtexkiơ giải thích bên dưới đó là quyền hành pháp và quyền tư
pháp. Ông xem xét từng nhánh quyền lực và mối quan hệ giữa chúng để
khảo sát những tiêu chí của một nền cai trị vừa phải, một chính thể hợp lý
nhất cho mọi người. Nội hàm các quyền này được Môngtexkiơ hiểu như

sau:
Quyền lập pháp là quyền làm ra, sửa đổi, hủy bỏ các luật và giám sát
thi hành các luật. Quyền này biểu hiện ý chí chung của quốc gia, nó thuộc
về tồn thể nhân dân nên phải trao vào cơ quan đại diện cho nhân dân.
Môngtexkiơ cho rằng dân chúng mỗi địa phương nên tự chọn lấy đại biểu
của mình chứ khơng nên bầu chung cả nước. Ơng khẳng định “Quyền lập
pháp thể hiện ý chí chung của quốc gia”. Theo ông quyền lập pháp được
trao cho hai cơ cấu “một bên là đại biểu quý tộc, bên kia là đại biểu dân
chúng. Mỗi bên có nghị viện thảo luận riêng theo quan điểm và quyền lợi
của mình”. Hai cơ cấu này có quyền đình chỉ các dự định của nhau, và nhờ
đó pháp luật được hai bên biểu quyết sẽ có lợi cho mọi người. Đối với cơ
quan lập pháp, ông quan niệm chỉ nên làm ra luật và xem xét người ta làm
như thế nào. Về điều này, tư tưởng của Montesqueiu có điểm tương đồng
với quan niệm ngày nay của chúng ta về chức năng lập pháp và giám sát
của Quốc hội.
Quyền hành pháp là quyền chăm sóc an ninh, đối nội, đối ngoại, lãnh
đạo dân chung sinh sống trong thời bình cũng như thời chiến trong khn
khổ pháp luật. Theo Mơngtexkiơ vì quyền này cần tới hành động nhất thời
nên quyền này không thể trao cho các thành viên của Quốc hội mà nên giao

13


cho một người thì tốt hơn. Ơng cho rằng “Quyền hành pháp thì phải nằm
trong tay một vị vua chúa”. Và để cho cơ quan hành pháp không áp bức
dân chúng thì theo Mơngtexkiơ “Qn đội trong tay cơ quan hành pháp
phải mang tính nhân dân, cùng lịng với dân như là ở Rome xưa dưới thời
Marius”. Và nếu như quyền lập pháp thể hiện ý chí chung của quốc gia thì
quyền hành pháp có nhiệm vụ thực hiện ý chí chung đó. Nếu như Rousseau
sau này ủng hộ một chính thể cộng hồ như một hình mẫu thể chế lý tưởng

thì Mơngtexkiơ ủng hộ mơ hình qn chủ lập hiến.
Quyền tư pháp là quyền trừng phạt người tội phạm và phân xử khi có
tranh tụng giữa các cá nhân. Các thẩm phán chọn từ dân và xử án chỉ tuân
theo pháp luật. Môngtexkiơ cho rằng “Quyền phán xét không nên giao cho
viện nguyên lão thường trực, mà phải do những người trong đoàn thể dân
chúng được cử ra từng thời gian trong một năm, do luật quy định, lập thành
tòa án, làm việc kéo dài bao lâu tùy theo sự cần thiết”. Và với cách làm như
vậy thì quyền tư pháp khơng cịn đáng sợ với người đời, nó “không gắn với
một cơ quan hay một chức vụ nào đó, nó trở thành vơ hình, như con số
khơng. Người ta khơng ln ln nhìn thấy quan tịa trước mắt mình, nên
người ta chỉ sợ cơ chế cai trị chứ không sợ các quan cai trị”. Rõ ràng ở đây
vấn đề được Môngtexkiơ đặc biệt quan tâm là xây dựng pháp luật (cơ chế
cai trị) như thế nào. Ông cũng lưu ý sự công bằng là yếu tố quan trọng
trong quyền tư pháp nên “Các thẩm phán cũng cần ngang địa vị như bị cáo
hoặc đồng đẳng với bi cáo, để người bị cáo khơng nghĩ rằng mình đang
nằm trong tay những kẻ sẵn sàng làm hại mình”. Với các vụ án lớn, người
bị cáo tranh chấp với luật pháp theo Montesqueiu “cần được chọn thẩm
phán cho mình, hoặc ít ra là có quyền từ chối người thẩm phán đã được chỉ
định mà bị cáo khơng thích”.
Có thể nói Mơngtexkiơ đã bổ sung những nội hàm về quyền tư pháp
khá tiến bộ so với những người đi trước và đương thời. Mặc dù có ý định

14


hạn chế quyền lực của quý tộc song trong tư tưởng của Mơngtexkiơ đơi lúc
vẫn chưa hồn tồn thốt khỏi sự thảo hiệp, ưu đãi nhất định đối với quý
tộc khi cho rằng: Không nên để dân chúng xét xử các ông lớn mà “chỉ nên
đưa ra trước bộ phận của cơ quan lập pháp chỉ gồm các nhà quý tộc mà
thôi”. Nhận xét về quyền tư pháp trong Bàn về tinh thần pháp luật, nhiều

nhà nghiên cứu cho rằng: Sự bổ sung thêm quyền tư pháp chính là điểm
mới của Môngtexkiơ làm cho học thuyết phân quyền của ông hoàn hảo hơn
so với các bậc tiền bối như J.Locke, T.Hosbbes.
2.3. Kiểm soát các nhánh quyền lực
Sau khi phân biệt ba quyền lực nhà nước, Mơngtexkiơ phân tích mối
quan hệ của các cơ quan này và có thể nói đây là điểm cốt lõi trong quan
điểm của Môngtexkiơ. Theo Môngtexkiơ ba quyền lực này cần độc lập với
nhau nhưng phải có cơ chế đảm bảo cho cả ba quyền ràng buộc lẫn nhau
tạo nên sự vận động chung của toàn bộ nhà nước. Mơngtexkiơ đã trình bày
cơ chế ngăn cản, chế ước và đối trọng lẫn nhau giữa ba quyền lực nhằm
mục đích sao cho khơng có nhánh nào vượt lên hay hợp nhất với nhánh
nào, mặt khác chúng cũng không thể tách rời nhau.
Môngtexkiơ cho rằng nếu quyền lập pháp và quyền hành pháp nhập
làm một thì sẽ khơng cịn tự do nữa, nó phù hợp với chế độ độc tài chuyên
chế. Và như thế người ban hành pháp luật và người thực thi pháp luật là
một hay nói cách khác ý chí của người làm luật đồng nhất với hành động
mà anh ta hướng tới. Mặt khác, nếu quyền tư pháp không tách khỏi quyền
lập pháp và quyền hành pháp thì “khơng cịn gì là tự do”. Ơng giải thích
như sau: “Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp thì người ta sẽ
độc đốn với quyền sống và quyền tự do của cơng dân, quan tịa sẽ là người
đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì ơng quan
tịa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp”. Phạm vi giới hạn của nhánh lập pháp

15


và hành pháp được quy định rõ ràng, không nhánh nào hoàn toàn độc lập
hay phụ thuộc nhau. Bởi lẽ, nếu như lập pháp đề ra luật, hành pháp khơng
có quyền thơng qua luật nhưng có quyền ngăn chặn lập pháp thơng qua
những đạo luật có hại cho quốc gia. Cơ quan hành pháp và nhà vua có

quyền ngăn chặn các dự định của cơ quan lập pháp. Môngtexkiơ cho rằng
nếu khơng như vậy thì quyền lập pháp sẽ trở nên chun chế, tự ban cho
mình quyền hạn xóa bỏ các quyền lực khác. Theo Môngtexkiơ không nên
để cho cơ quan lập pháp ngăn chặn quyền hành pháp nhưng ở một giới hạn
nào đó nó phải có nhiệm vụ kiểm sốt cơ quan hành pháp. Và có thể thấy ở
đây, mặc dù về mặt nguyên tắc hai quyền này khá độc lập với nhau nhưng
giữa chúng có sự ràng buộc khá chặt chẽ với nhau. Môngtexkiơ đề nghị cơ
quan tư pháp cần phải tách rời khỏi hai quyền kia, có như vậy thì mới đảm
bảo được tự do dân chủ. Bởi lẽ theo ông “trong ba quyền mà chúng ta nói
tới thì quyền tư pháp dường như khơng là cái gì cả”. Do đó, xét về mặt lý
thuyết, tư pháp vận hành khá độc lập với hai nhánh quyền lực cịn lại. Tuy
nhiên trên thực tế, ba quyền lực đó lại có mối liên hệ khá mật thiết. Quyền
tư pháp thực hiện hành pháp một cách nghiêm chỉnh nhất vì nó tuân thủ
theo pháp luật, nó có quyền xét xử các cá nhân trong cơ quan hành pháp
khi các các nhân này không tuân thủ theo pháp luật. Nếu như lập pháp tạo
cơ pháp lý cho tư pháp thì hành pháp thực hiện những phán quyết của tư
pháp của tư pháp. Do đó, quyền tư pháp khơng thực hiện được nếu thiếu
hai quyền kia.
Nhận xét về cơ chế vận động của ba quyền lực này, Môngtexkiơ
viết: “Cả ba quyền lực này do ràng buộc lẫn nhau mà dường như nghỉ ngơi
hay bất động. Tuy nhiên, vì tính tất yếu của mọi sự vật là vận động nên cả
ba quyền lực vẫn buộc phải đi tới, mà đi tới một cách nhịp nhàng”. Như
vậy, đối với Môngtexkiơ vấn đề không chỉ là phân biệt các quyền tách bạch
giao cho các cá nhân, cơ quan khác nhau thực hiện mà còn dùng quyền này

16


để hạn chế quyền kia song về nguyên tắc vẫn phải đảm bảo sự vận động
nhịp nhàng của bộ máy nhà nước. Mơngtexkiơ đã coi cơ chế kìm chế đối

trọng giữa ba quyền lực nhà nước này là một phương án nhằm bảo vệ
quyền tự do của công dân. Nhận xét về sự phân chia quyền lực nhà nước
của Môngtexkiơ trong Bàn về tinh thần pháp luật hầu hết giới nghiên cứu
triết học chính trị đều khẳng định rằng: Tư tưởng của Mơngtexkiơ đều
nhằm mục đích nhằm bảo về tự do cho con người, chống lại sự lạm dụng
quyền lực nhà nước của bất kể nhánh quyền lực nào. Và tự do cơng dân
theo Mơngtexkiơ hồn tồn có thể đạt được bằng con đường phân chia
quyền lực thành lập pháp, hành pháp và tư pháp theo cơ chế kìm chế đối
trọng nhau.

17


Chương 3
GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ
TAM QUYỀN PHÂN LẬP CỦA MÔNGTEXKIƠ

3.1. Giá trị trong tư tưởng chính trị tam quyền phân lập của
Mơngtexkiơ
Giá trị lý luận
Thứ nhất, tư tưởng chính trị tam quyền phân lập của Môngtexkiơ ra
đời đã đánh dấu sự chấm dứt về mặt tư tưởng của các lý thuyết tập quyền
chuyên chế phong kiến mở đường cho sự hình thành các thể chế tự do, dân
chủ.
Thứ hai, giá trị mà tư tưởng chính trị tam quyền phân lập của
Môngtexkiơ để lại trên phương diện lý luận đó chính là nội dung sâu sắc
của tư tưởng chính trị.
Thứ ba, điểm đặc sắc trong tư tưởng chính trị tam quyền phân lập
của Mơngtexkiơ là đã thiết lập được một cơ chế dùng quyền lực nhà nước
để hạn chế quyền lực nhà nước.

Thứ tư, tư tưởng chính trị tam quyền phân lập ra đời đã khẳng định
vai trò quan trọng của pháp luật trong đời sống xã hội cũng như mục đích
cuối cùng pháp luật hướng đến là đem lại sự tự do chính trị, đem lại nền
dân chủ thực sự cho con người.
Giá trị thực tiễn
Thứ nhất, tư tưởng chính trị tam quyền phân lập của Mơngtexkiơ
ngay sau khi ra đời đã góp phần chống lại chế độ quân chủ chuyên chế
phong kiến ờ Pháp bấy giờ, mở đường cho cách mạng tư sản lật đổ chế độ
phong kiến, mang lại quyền tự do cho con người.

18



×