Tải bản đầy đủ (.docx) (27 trang)

2 tieu luan quan điểm hồ chí minh về mục tiêu, động lực của chủ nghĩa xã hội và phương hướng vận dụng trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (216.51 KB, 27 trang )

TIỂU LUẬN
MƠN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Đề tài:
QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ MỤC TIÊU, ĐỘNG LỰC CỦA CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI VÀ PHƯƠNG HƯỚNG VẬN DỤNG TRONG XÂY
DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
NỘI DUNG.......................................................................................................2
Chương 1. QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ MỤC TIÊU, ĐỘNG LỰC
CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM....................................................2
1.1. Quan điểm Hồ Chí Minh về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội....................2
1.1.1. Về mục tiêu chung...................................................................................2
1.1.2. Về mục tiêu cụ thể...................................................................................4
1.2. Quan điểm Hồ Chí Minh về động lực của chủ nghĩa xã hội....................9
Chương 2. SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ MỤC
TIÊU VÀ ĐỘNG LỰC TRONG XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ
HỘI CHỦ NGHIA HIỆN NAY......................................................................15
2.1. Phương hướng..........................................................................................15
2.2. Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng và Nhà nước ta trong xây
dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay.....................................................................19
KẾT LUẬN....................................................................................................24
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................25


MỞ ĐẦU
Đảng ta đã khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô
giá của Đảng và dân tộc ta, là hiện thân của con đường đấu tranh và thắng lợi
của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh phản ánh những vấn đề


thuộc quy luật và có tính quy luật của cách mạng nước ta, đã được thực tiễn
thắng lợi của cách mạng Việt Nam kiểm nghiệm và xác nhận. Tư tưởng Hồ
Chí Minh khơng chỉ có giá trị trước mắt mà cịn có ý nghĩa thời đại, góp phần
vào giải quyết những vấn đề đang đặt ra cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội của Đảng và nhà nước ta hiện nay. Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh
là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của
cách mạng Việt Nam, trong đó tư tưởng của Người về chủ nghĩa xã hội và
con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam giữ vai trị quan trọng. Đó
là sự vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin
về chủ nghĩa xã hội trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu như Việt
Nam. Đặc biệt là quan điểm của Người về mục tiêu và động lực của chủ nghĩa
xã hội đã và đang soi đường cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam hiện nay.
Do đó, tiếp tục đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu giá trị tư tưởng của Người
về chủ nghĩa xã hội và vận dụng vào công cuộc đổi mới đất nước hiện nay là
một việc quan trọng hơn bao giờ hết nhằm xây dựng một nước Việt Nam dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Rõ ràng việc nghiên cứu để nắm vững “Quan điểm của Hồ Chí Minh
về mục tiêu, động lực của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và phương hướng
vận dụng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay” nhằm góp phần làm
sáng rõ tính đúng đắn của con đường Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã
lựa chọn, đồng thời góp một phần nhỏ bé vào việc đi sâu, mở rộng nghiên
cứu, giáo dục, tuyên truyền và vận dung tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng
và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.

1


NỘI DUNG
Chương 1

QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ MỤC TIÊU, ĐỘNG LỰC CỦA CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
1.1.

Quan điểm Hồ Chí Minh về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội

Trong quá trình xác định mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh ý
thức được rõ ràng giá trị của chủ nghĩa xã hội về mặt lý luận là quan trọng,
nhưng vấn đề quan trọng hơn là tìm ra con đường để thực hiện những giá trị
này. Điểm then chốt, có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng của Hồ Chí
Minh là đề ra các mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể xây dựng chủ nghĩa xã
hội trong mỗi giai đoạn cách mạng khác nhau ở nước ta. Thơng qua q trình
đề ra các mục tiêu đó, Chủ nghĩa xã hội được thể hiện với việc thỏa mãn các
nhu cầu, lợi ích thiết yếu của người lao động theo các nấc thang từ thấp đến
cao, tạo ra tính hấp dẫn, năng động của chế độ xã hội mới.
1.1.1. Về mục tiêu chung
Ở Hồ Chí Minh, mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội và mục tiêu phấn
đấu của Người là một, đó là độc lập tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân
dân; đó là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn
tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.
Từ cách đặt vấn đề này, theo Hồ Chí Minh, hiểu mục tiêu của chủ
nghĩa xã hội nghĩa là nắm bắt nội dung cốt lõi con đường lựa chọn và bản
chất thực tế xã hội mà chúng ta phấn đấu xây dựng. Tiếp cận chủ nghĩa xã hội
về phương diện mục tiêu là một nét thường gặp, thể hiện phong cách và năng
lực tư duy lý luận khái quát của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh có nhiều cách đề
cập mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Có khi Người trả lời một cách trực tiếp:
"Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì? Nói một cách đơn giản và dễ hiểu là:
không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết
là nhân dân lao động". Hoặc "Mục đích của chủ nghĩa xã hội là không ngừng
2



nâng cao mức sống của nhân dân". Có khi Người diễn giải mục tiêu tổng quát
này thành các tiêu chí cụ thể: "chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ
ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già
khơng lao động được thì nghỉ, những phong tục tập qn khơng tốt dần dần
được xóa bỏ... Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh
thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội" 3. Có khi người nói một cách gián
tiếp, khơng nhắc đến chủ nghĩa xã hội, nhưng xét về bản chất, đó cũng chính
là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội theo quan niệm của Người. Kết thúc bản Tài
liệu tuyệt đối bí mật (sau này gọi là Di Chúc), Hồ Chí Minh viết: "Điều mong
muốn cuối cùng của tơi là: Tồn Đảng, tồn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây
dựng một nước Việt Nam hịa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu
mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới".
Theo quan điểm của Người, chế độ chính trị mà chúng ta xây dựng là
chế độ do nhân dân làm chủ. “Nhà nước của ta là nhà nước dân chủ nhân dân
dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo” 1.
Trong Nhà nước đó, mọi người cơng dân đều có quyền bầu cử và ứng cử vào
các cơ quan nhà nước, có quyền kiểm sốt đối với đại biểu của mình, “có
quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những
đại biểu đó tỏ ra khơng xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân” 2. Nhân dân
thực hiện quyền làm chủ của mình chủ yếu bằng Nhà nước dưới sự lãnh đạo
của Đảng, do đó Người đòi hỏi: “Nhà nước ta phải phát huy quyền dân chủ và
sinh hoạt chính trị của tồn dân, để phát huy tính tích cực và sức sáng tạo của
nhân dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia công việc
Nhà nước, ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội”3.
Trong Nhà nước dân chủ, mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân thì
Chính phủ là gì? Người trả lời: “Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch tồn
quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ…Nếu Chính phủ làm
1


Hồ Chí Minh: Tồn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.10, tr.586
Sđd, t.9, tr.591.
3
Sđd, t.9, tr. 590.
2

3


hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”4. Vì vậy, Hồ Chí Minh địi hỏi
người cầm quyền phải khơng ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng,
thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí cơng vơ tư, phải “sửa đổi lối làm việc”,
chống tham ơ, lãng phí, quan liêu…
Mặt khác, Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh mối quan hệ giữa quyền làm
chủ với nghĩa vụ và tính năng động của người làm chủ: “Đã là người chủ Nhà
nước thì phải chăm lo việc nước như chăm lo việc nhà…Đã là người chủ thì
phải biết tự mình lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ” 5. Mọi người
công dân trong xã hội đều có nghĩa vụ lao động, nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, tôn
trọng và chấp hành pháp luật, tôn trọng và bảo vệ của công, đồng thời có
nghĩa vụ học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt để “xứng đáng vai trò của
người chủ”.
1.1.2. Về mục tiêu cụ thể
Hồ Chí Minh quan niệm mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là nâng
cao đời sống nhân dân. Theo Người, muốn nâng cao đời sống nhân dân phải
tiến lên chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu nâng cao đời sống tồn dân là tiêu chí tổng
qt để khẳng định và kiểm nghiệm tính chất xã hội chủ nghĩa của các lý luận
chủ nghĩa xã hội và chính sách thực tiễn. Trượt ra khỏi quỹ đạo đó thì hoặc là
chủ nghĩa xã hội giả hiệu hoặc khơng có gì tương thích với chủ nghĩa xã hội.
Chỉ rõ và nêu bật mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh đã

khẳng định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội so với các chế độ xã hội đã tồn
tại trong lịch sử, chỉ ra nhiệm vụ giải phóng con người một cách tồn diện,
theo các cấp độ: từ giải phóng dân tộc. Giải phóng giai cấp xã hội đến giải
phóng từng cá nhân con người, hình thành các nhân cách phát triển tự do.
Như vậy, Hồ Chí Minh đã xác định các mục tiêu cụ thể của chủ nghĩa
xã hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
a). Mục tiêu chính trị: Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, độ chính trị phải do nhân dân lao động làm chủ. Nhà
4
5

Sđd, t.5, tr. 60
Sđd, t.10, tr.310.
4


nước là của dân, do dân và vì dân. Nhà nước có hai chức năng: dân chủ với
nhân dân, chuyên chính với kẻ thù của nhân dân. Hai chức năng đó khơng
tách rời nhau, mà ln ln đi đơi với nhau. Một mặt, Hồ Chí Minh nhấn
mạnh phải phát huy quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của nhân dân: mặt
khác. tại yêu cầu phải chuyên chính với thiểu số phản động chống lại lợi ích
của nhân dân, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa.
Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Hồ Chí Minh chỉ rõ con
đường và biện pháp thực hiện các hình thức dân chủ trực tiếp, nâng cao năng
lực hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội của quần chúng , củng cố các
hình thức dân chủ đại diện, tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý của các
cơ quan lập pháp, hành phap và tư pháp, xử lý và phân định rõ chức năng của
chúng.
b). Mục tiêu kinh tế: Theo Hồ Chí Minh, chế độ chính trị của chủ nghĩa
xã hội chỉ được bảo đảm và đứng vững trên cơ sở một nền kinh tế vững mạnh.

Nền kinh tế đó là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công - nông nghiệp hiện
đại khoa học - kỹ thuật tiên tiến, cách bóc lột theo chủ nghĩa tư bản được bỏ
dần, đời sống vật chất của nhân dân ngày càng được cải thiện.
Nền kinh tế mà chúng ta xây dựng là “một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa
với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kĩ thuật tiên tiến” 6. “…
trên cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển, cách bóc lột theo chủ
nghĩa tư bản được xóa bỏ dần, đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân
ngày càng được cải thiện”7.
Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa phải được tạo lập trên cơ sở chế độ sở hữu
công cộng về tư liệu sản xuất. Tuy nhiên, ở thời kỳ q độ, nền kinh tế đó cịn
tồn tại bốn hình thức sở hữu chính:
“Sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân.
Sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động.
Sở hữu của người lao động riêng lẻ.
6
7

Sđd, t.9, tr.588.
Sđd, t.9, tr. 592.
5


Một ít tư liệu sản xuất thuộc về sở hữu của nhà tư bản”8.
Trong đó, “kinh tế quốc doanh là hình thức sở hữu của tồn dân, nó lãnh
đạo nền kinh tế quốc dân và Nhà nước phải đảm bảo cho nó phát triển ưu tiên”9.
Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể thắng được chủ nghĩa tư bản khi nó tạo ra
được một nền kinh tế phát triển cao, gắn liền với sự phát triển của sức sản
xuất, của khoa học và cơng nghệ. Khơng có một nền cơng nghiệp hiện đại
thì khơng thể có chủ nghĩa xã hội. Đối với các nước lạc hậu, chưa trải qua
chế độ tư bản thì cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quy luật tất yếu và

phổ biến, đến nay vẫn hoàn tồn đúng với tình hình nước ta, tuy cơng nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở thời đại hiện nay có thể thực hiện được bằng nhiều con
đường khác nhau.
Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta cần phát triển tồn diện các
ngành, trong đó những ngành chủ yếu là cơng nghiệp, nơng nghiệp, thương
nghiệp, trong đó "cơng nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế
nước nhà".
Kết hợp các loại lợi ích kinh tế là vấn đề được Hồ Chí Minh rất quan
tâm. Người đặc biệt nhấn mạnh: chế độ khốn là một trong những hình thức
của sự kết hợp lợi ích kinh tế.
c). Mục tiêu văn hóa - xã hội: Theo Hồ Chí Minh, văn hóa là một mục
tiêu cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Văn hóa thể hiện trong mọi sinh
hoạt tinh thần của xã hội đó là xóa nạn mù chữ, xây dựng phát triển giáo dục,
nâng cao dân trí xây dựng, phát triển văn hóa nghệ thuật, thực hiện nếp sống
mới, thực hành vệ sinh phòng bệnh, giải tri lành mạnh, bài trừ mê tín dị đoan,
khắc phục phong tục tập quán lạc hậu.
Về bản chất của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Người khẳng
định: "phải xã hội chu nghĩa về nội dung". Để có một nền văn hóa như thế ta
phải phát huy vốn cũ quý báu của dân tộc, đồng thời học tập văn hóa tiên tiến
của thế giới.
8
9

Sđd, t.9, tr.588.
Sđd, t.9, tr.588
6


Phương châm xây dựng nền văn hóa mới là: dân tộc, khoa học, đại
chúng. Hồ Chí Minh nhắc nhở phải làm cho phong trào văn hóa có bề rộng,

đồng thời phải có bề sâu. Trong khi đáp ứng mặt giải trí thì khơng được xem
nhẹ nâng cao tri thức của quần chúng, đồng thời Người luôn luôn nhắc nhở
phải làm cho văn hóa gắn liền với lao động sản xuất.
Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ
nghĩa là đào tạo con người. Bởi lẽ, mục tiêu cao nhất, động lực quyết định
nhất công cuộc xây dựng chính là con người. Trong lý luận xây dựng con
người xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh quan tâm trước hết mặt tư tưởng. Người
cho rằng: Muốn có con người xã hội chủ nghĩa, phải có tư tưởng xã hội chủ
nghĩa, tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở mỗi con người là kết quả của việc học tập,
vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, nâng cao lịng u nước, u chủ
nghĩa xã hội.
Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh đến trau dồi, rèn luyện đạo đức
cách mạng: đồng thời Người cũng rất quan tâm đến mặt tài năng, luôn tạo
điều kiện để mỗi người rèn luyện tài năng, đem tài năng cống hiến cho xã
hội. Tuy vậy, Hồ Chí Minh ln gắn tài năng với đạo đức. Theo Người. "có
tài mà khơng có đức là hỏng": dĩ nhiên, đức phải đi đôi với tài, nếu khơng có
tài thi khơng thể làm việc được. Như vậy, Người ln gắn phẩm chất chính trị
với trình độ học vấn, chun mơn, nghiệp vụ, trong đó "chính trị là tinh thần,
chun mơn là thể xác" Hai mặt đó gắn bó thống nhất trong một con người.
Do vậy, tất cả mọi người đều phải luôn luôn trau dồi đạo đức và tài năng, vừa
có đức vừa có tài, vừa "hồng" vừa "chuyên".
Chủ nghĩa xã hội gắn liền với văn hóa và là giai đoạn phát triển cao hơn
chủ nghĩa tư bản về mặt giải phóng con nguời trước hết khỏi mọi áp bức bóc
lột. Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trị của tư tưởng, văn hóa, đạo đức, lối
sống…Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, văn hóa – tư tưởng khơng phụ
thuộc một cách máy móc vào điều kiện sinh hoạt vật chất, vào mức sống mà
có khi cách mạng tư tưởng – văn hóa phải bước đi trước để dọn đường cho

7



cách mạng cơng nghiệp. Trả lời câu hỏi của phóng viên báo Luymanitê (Pháp)
về nhân tố nào sẽ biến nước Việt Nam lạc hậu thành một nước tiên tiến, Hồ
Chí Minh đã nói: “Có lẽ cần phải để lên hàng đầu những cố gắng của cố gắng
của chúng tôi nhằm phát triển văn hóa. Chủ nghĩa thực dân đã kìm hãm nhân
dân chúng tơi trong vịng ngu muội để chúng dễ áp bức.
Nền văn hóa nảy nở hiện thời là điều kiện cho nhân dân chúng tơi tiến
bộ…Chính vì vậy, chúng tơi đã đào tạo nhanh chóng các cán bộ cho tất cả các
ngành hoạt động…để cơng nghiệp hóa đất nước”10.
Người yêu cầu “cán bộ phải có văn hóa làm gốc. Nếu ta muốn dùng
máy móc mà máy móc ngày một thêm tinh xảo, thì cơng nhân cũng phải có
trình độ kỹ thuật rất cao không kém kỹ sư, phải biết tính tốn nhiều. Ở nơng
thơn cũng vậy…nơng dân phải biết văn hóa”.
Nền văn hóa mà Đảng ta và Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng là một
nền văn hóa “lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở”, “văn hóa
phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ”, “phải làm cho ai
cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do”. Nói cách khác, “văn hóa soi đường
cho quốc dân đi”. Nói tóm lại, “để phục vụ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ
nghĩa thì văn hóa phải xã hội chủ nghĩa về nội dung và dân tộc về hình
thức”11, kết hợp với tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại.
Về quan hệ xã hội: xã hội mà chúng ta xây dựng là một xã hội công
bằng, dân chủ, có quan hệ tốt đẹp giữa người với người; các chính sách xã hội
được quan tâm thực hiện; đạo đức, lối sống xã hội phát triển lành mạnh.
Nói chuyện tại lớp hướng dẫn giáo viên cấp 2, cấp 3 và Hội nghị sư
phạm, Người hỏi một đồng chí giáo viên: “Thế chủ nghĩa xã hội là gì?
Một đồng chí mạnh dạn đứng lên nói: “Chủ nghĩa xã hội là những tư
liệu sản xuất thuộc về nhân dân”12.
Người hỏi luôn: “Thế giữa người và người như thế nào?”13.
10


Sđd, t.10, tr. 392.
Sđd, t.10, tr.60.
12
Sđd, t.8, tr.226.
13
Sđd, t.8, tr.226.
11

8


Điều đó chứng tỏ một trong những mục tiêu xây dựng của chủ nghĩa xã
hội là xây dựng cho được mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người.
“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội,trước hết cần có những con người
xã hội chủ nghĩa”14. Hồ Chí Minh quan niệm chủ nghĩa xã hội là cơng trình
tập thể của nhân dân, do nhân dân tự xây dựng lấy. Nếu khơng có con người
thiết tha với lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thì khơng có chủ nghĩa xã hội được.
Vì vậy, Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu mục tiêu xây dựng con người.
Con người xã hội chủ nghĩa theo quan điểm của Hồ Chí Minh phải là
con người có tinh thần và năng lực làm chủ; có đạo đức cần kiệm liêm chính,
chí cơng vơ tư; có kiến thức khoa học kỹ thuật, nhạy bén với cái mới; có tinh
thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm,…Đó là nguồn lực quan trọng nhất để xây
dựng chủ nghĩa xã hội.
Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người, giải phóng mọi
tiềm năng sẵn có của con người để phục vụ cho cơng cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Muốn có nhiều sức lao động thì phải giải phóng sức lao động
của phụ nữ. Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò và lực lượng của phụ nữ
trong đấu tranh cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Nói phụ nữ là
phân nửa xã hội. Nếu khơng giải phóng phụ nữ thì khơng giải phóng một nửa
lồi người. Điều đó thể hiện chủ nghĩa nhân văn, tầm văn hóa và nhãn quan

chính trị rộng lớn của Hồ Chí Minh.
1.2.

Quan điểm Hồ Chí Minh về động lực của chủ nghĩa xã hội

Để hoàn thành những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, điều quan trọng
theo Hồ Chí Minh là phải nhận thức, vận dụng và phát huy tất cả các động lực
của chủ nghĩa xã hội. Động lực hiểu một cách tóm tắt là tất cả những nhân tố
góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội thông qua hoạt động của con
người. Đối lập với phát triển là kìm hãm. Vì vậy, bên cạnh phát huy động lực
còn phải biết triệt tiêu những trở lực. Để thực hiện những mục tiêu đó, cần
phát hiện những động lực và những điều kiện bảo đảm cho động lực đó thực

14

Sđd, t.10, tr.310.
9


sự trở thành sức mạnh thúc đẩy công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là
những động lực bên trong, nguồn nội lực của chủ nghĩa xã hội.
Theo Hồ Chí Minh, những động lực đó biểu hiện ở các phương diện:
vật chất và tinh thần; nội sinh và ngoại sinh. Người khẳng định, động lực
quan trọng và quyết định nhất là con người, là nhân dân lao động, nòng cốt là
cơng - nơng - tri thức. Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đến lợi ích chính
đáng, thiết thân của họ: đồng thời chăm lo bồi dưỡng sức dân. Đó là lợi ích
của nhân dân và từng cá nhân.
Xem con người là động lực của chủ nghĩa xã hội, hơn nữa là động lực
quan trọng nhất, Hồ Chí Minh đã nhận thấy ở động lực này có sự kết hợp giữa
cá nhân (sức mạnh cá thể) với xã hội (sức mạnh cộng đồng). Người cho rằng,

khơng có chế độ xã hội nào coi trọng lợi ích chính đáng của cá nhân con
người bằng chế độ xã hội chủ nghĩa. Truyền thống yêu nước của dân tộc, sự
đoàn kết cộng đồng, sức lao động sáng tạo của nhân dân - đó là sức mạnh
tổng hợp tạo nên động lực quan trọng của chủ nghĩa xã hội.
Nhà nước đại diện cho ý chí và quyền lực của nhân dân dưới sự lãnh
đạo của Đảng thực hiện chức năng quản lý xã hội, đưa sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội đến thắng lợi. Người đặc biệt quan tâm đến hiệu lực của tổ
chức, bộ máy, tính nghiêm minh của kỷ luật, pháp luật, sự trong sạch, liêm
khiết của đội ngũ cán bộ. công chức các cấp từ trung ương tới địa phương.
Hồ Chí Minh rất coi trọng động lực kinh tế, phát triển kinh tế, sản xuất,
kinh doanh, giải phóng mọi năng lực sản xuất, làm cho mọi người, mọi nhà trở
nên giàu có, ích quốc lợi dân, gắn liền kinh tế với kỹ thuật, kinh tế với xã hội.
Cùng với động lực kinh tế, Hồ Chí Minh cũng quan tâm tới văn hóa,
khoa học, giáo dục coi đó là động lực tinh thần không thể thiếu của chủ nghĩa
xã hội.
Tất cả những nhân tố động lực nêu trên là những nguồn lực tiềm tàng
của sự phát triển. Làm thế nào để những khả năng, năng lực tiềm tàng đó trở
thành sức mạnh và khơng ngừng phát triển. Hồ Chí Minh nhận thấy sự lãnh
10


đạo đúng đắn của Đảng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của chủ
nghĩa xã hội. Đã là hạt nhân trong hệ động lực của chủ nghĩa xã hội.
Ngồi các động lực bên trong theo Hồ Chí Minh, phải kết hợp được với
sức mạnh thời đại, tăng cường đoàn kết quốc tế, chủ nghĩa yêu nước phải gắn
liên với chủ nghĩa quốc tế-của giai cấp công nhân, phải sử dụng tới những
thành quả khoa học - kỹ thuật thế giới
Nét độc đáo trong phong cách tư duy biện chứng Hồ Chí Minh là ở chỗ
bên cạnh việc chỉ ra các nguồn động lực phát triển của chủ nghĩa xã hội.
Người còn lưu ý cảnh báo và ngăn ngừa các yếu tố kìm hãm, triệt tiêu nguồn

lực vốn có của chủ nghĩa xã hội, làm cho chủ nghĩa xã hội trở nên trì trệ., xơ
cứng, khơng có sức hấp dẫn đó là chủ nghĩa cá

nhân và Người coi nó là

"bệnh mẹ" đẻ ra hàng loạt bệnh khác, đó là tham ơ, lãng phí, quan liêu... mà
Người gọi đó là : "giặc nội xâm"; đó là các căn bệnh chia rẽ bè phái, mất đồn
kết, vơ kỷ luật, chủ quan, bảo thủ, giáo điều, V.V..
Giữa nội lực và ngoại lực, Hồ Chí Minh xác định rất rõ nội lực là
quyết định nhất. ngoại lực là rất quan trọng. Chính vì thế Người thường đề
cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực cánh sinh là chính, nhưng ln ln chú
trọng tranh thủ sự giúp đỡ, hợp tác quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh quốc tế tạo thành sức mạnh tổng hợp để xây dựng thành công chủ nghĩa
xã hội, trên cơ sở bảo đảm các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, không
can thiệp vào cơng việc nội bộ của nhau, chung sống hịa bình và phát triển.
Hệ thống động lực của chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh
rất phong phú. Xét đến cùng, các động lực muốn phát huy được tác dụng đều
phải thơng qua con người, do đó bao trùm lên tất cả vẫn là động lực con
người – con người trên cả hai bình diện: cộng đồng và cá nhân.
Phát huy sức mạnh đoàn kết của cả cộng đồng dân tộc – động lực chủ
yếu để phát triển đất nước.
Con người trên bình diện cộng đồng bao gồm tất cả các tầng lớp nhân
dân: công nhân, nông dân, trí thức,…các tổ chức và đồn thể, các dân tộc và
11


tôn giáo, đồng bào trong nước và kiều bào ở nước ngồi,…Người cũng khơng
qn nhắc: giai cấp tư sản dân tộc cũng là một lực lượng tham gia xây dựng
chủ nghĩa xã hội, vì giai cấp tư sản dân tộc ở ta “có xu hướng chống đế quốc,
có xu hướng yêu nước”. Theo Hồ Chí Minh, để xây dựng thành công chủ

nghĩa xã hội phải ra sức phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, bởi
xây dựng chủ nghĩa xã hội không phải chỉ là vấn đề giai cấp mà cịn là vấn đề
dân tộc, khơng phải là sự nghiệp riêng của công nông mà là sự nghiệp chung
củ tồn dân tộc, có xây dựng thành cơng chủ nghĩa xã hội mới tăng cường
được sức mạnh của dân tộc, mới giữ vững được độc lập dân tộc.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta chỉ rõ: “Động lực
chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh
giữa cơng nhân với nơng dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hịa
các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực
các thành phần kinh tế, của tồn xã hội”15.
Đó là sự kế thừa và qn triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về huy động sức
mạnh tổng lực của tồn dân tộc trong tình hình mới.
Phát huy sức mạnh của con người với tư cách cá nhân người lao động.
Sức mạnh cộng đồng được hình thành từ sức mạnh của cá nhân, thông
qua sức mạnh của từng cá nhân. Do đó, muốn phát huy được sức mạnh của cộng
đồng, phải tìm ra các biện pháp khơi dậy, phát huy động lực của mỗi cá nhân.
Hồ Chí Minh đã đề cập một hệ thống nội dung, biện pháp, vật chất và
tinh thần, nhằm tác động vào đó, tạo ra sức mạnh thúc đẩy hoạt động của con
người cho chủ nghĩa xã hội.
+ Tác động vào nhu cầu và lợi ích của con người.
Sinh thời Hồ Chí Minh, vấn đề lợi ích vật chất chưa phải là nhân tố có
sức kích thích như trong cơ chế thị trường hiện nay. Tuy nhiên, là nhà duy vật
mác xít, Hồ Chí Minh hiểu hành động của con người luôn luôn gắn liền với
nhu cầu và lợi ích của họ. Trong đấu tranh giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã
15

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2001, tr.86.
12



huy động được sức mạnh lý tưởng (lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, chủ nghĩa
anh hùng…) cũng như đem lại lợi ích vật chất (ruộng đất, cơm áo, nhu cầu vật
chất hàng ngày) cho cả cộng đồng cũng như mỗi cá nhân. Đi vào chủ nghĩa xã
hội là đi vào một trận tuyến mới, do đó theo Người cũng phải biết kích thích
những động lực mới, đó là lợi ích cá nhân chính đáng của người lao động.
Hồ Chí Minh phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa cá nhân nhưng hơn ai hết,
Người rất quan tâm đến con người, khuyến khích lợi ích cá nhân chính đáng,
coi trọng động lực cá nhân, tìm tịi cơ chế, chính sách để kết hợp hài hịa lợi
ích xã hội và lợi ích cá nhân, như khoán, thưởng, phạt trong kinh tế.
+ Tác động vào các động lực chính trị - tinh thần.
Coi trọng động lực của các đòn bẩy kinh tế, nhưng Hồ Chí Minh cũng
cho thấy đó khơng phải là phương thuốc bách bệnh có thể giải quyết được tất
cả. Có những lĩnh vực hoạt động xã hội – tinh thần đòi hỏi những hy sinh,
thiệt thịi mà khơng mà lợi ích vật chất nào bù đắp được. Trong những hồn
cảnh khó khăn của cách mạng và kháng chiến, khi các điều kiện vật chất cịn
thiếu, Hồ Chí Minh đề lên hàng đầu việc phát huy các động lực chính trị - tinh
thần của nhân dân ta.
Phát huy quyền làm chủ và ý thức làm chủ của người lao động, bao
gồm quyền làm chủ sở hữu, làm chủ quá trình sản xuất và phân phối. Người
nhắc nhở các hợp tác xã phải cho làm cho người nơng dân xã viên thấy “mình
là người chủ của tập thể của hợp tác xã, có quyền bàn bạc và quyết định
những công việc của hợp tác xã. Có như thế thì xã viên sẽ đồn kết chặt chẽ,
phấn khởi sản xuất và hợp tác xã sẽ tiến bộ không ngừng”16. Muốn như thế,
người cán bộ lãnh đạo khơng được chun quyền, độc đốn, “Cái gì cũng
dùng mệnh lệnh. Ép dân chúng làm. Đóng cửa lại mà đặt kế hoạch, viết
chương trình rồi đưa ra cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo….”17. Nói
cách khác là phải thực hành dân chủ mà theo Hồ Chí Minh đó là “cái chìa
16
17


Sđd, t.12, tr.195.
Sđd, t.5, tr.293.
13


khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn” 18. Người nói, nếu quần chúng
thật sự có quyền dân chủ, cán bộ, đảng viên xung phong gương mẫu thì mọi
kế hoạch sản xuất sẽ được thực hiện thắng lợi.
Đồng thời với phát huy quyền làm chủ, Người nhắc nhở phải quan tâm
bồi dưỡng ý thức làm chủ, tâm lý làm chủ cho người lao động mới. Đã là
người làm chủ thì phải coi “hợp tác xã là nhà, xã viên là chủ”, “yêu xe như
con, quý xăng như máu”, “quý trâu như bạn”,…Người làm chủ là người biết
tự lực, biết lo toan, gánh vác, không ỷ lại, trông chờ; người làm chủ phải là
người biết quản lý, biết kinh doanh giỏi, biết sử dụng hợp lý sức lao động,…
Thực hiện cơng bằng xã hội.
Hồ Chí Minh đã thấy do thiếu công bằng và dân chủ mà dẫn tới hậu
quả bùng nổ những xung đột xã hội căng thẳng. Vì vậy, Người nhắc nhở
trong công tác phân phối, lưu thông, có hai điều phải ln ln nhắc nhở:
Khơng sợ thiếu, chỉ sợ khơng cơng bằng.
Khơng sợ nghèo, chỉ sợ lịng dân khơng n.
Cơng bằng, theo Hồ Chí Minh, khơng phải là cào bằng một cách bình
quân, giỏi kém như nhau, làm triệt tiêu mất động lực kinh tế, xã hội.
Sử dụng vai trò điều chỉnh của các nhân tố tinh thần khác: chính trị,
văn hóa, đạo đức, pháp luật.
Sức mạnh của con người được huy động vào sự nghiệp cách mạng bao
gồm cả chính trị, văn hóa, đạo đức, pháp luật. Để tác động vào tính tích cực
xã hội của con người Hồ Chí Minh nhắc nhở cũng phải biết tác động một cách
toàn diện.
Chương 2

SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ MỤC TIÊU VÀ
ĐỘNG LỰC TRONG XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI
CHỦ NGHIA HIỆN NAY

18

Sđd, t.12, tr.249.
14


2.1. Phương hướng
Kế thừa và phát triển những nội dung cốt lõi về vấn đề mục tiêu và
động lực trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về con
người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, Đại hội XIII của Đảng đã khái quát và đề ra những phương hướng cụ
thể về xây dựng, phát triển con người Việt Nam toàn diện, đáp ứng yêu cầu
phát triển bền vững kinh tế - xã hội đất nước.
Trước hết, lấy con người làm trung tâm và kiên định phát triển con
người Việt Nam toàn diện. Đảng ta chủ trương: “Khơi dậy khát vọng phát
triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí tự cường và phát huy sức mạnh
khối đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy tối
đa nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan
trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển; lấy giá trị văn hóa, con người Việt
Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm phát triển bền vững;
phải có cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước; mọi
chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải hướng vào nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần và hạnh phúc của Nhân dân”1 19. Tại Đại hội XIII, tư tưởng
“lấy dân làm gốc” đã được đúc kết thành bài học, với những nguyên tắc cơ
bản, định hướng mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong giai
đoạn tới. Nghị quyết Đại hội tiếp tục khẳng định các giá trị, nội dung cốt lõi

của bài học “lấy dân làm gốc”, đó là: Phải luôn quán triệt sâu sắc và thực hiện
nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”. Bài học “lấy dân làm gốc” càng trở nên
sâu sắc và có ý nghĩa hơn khi được thực thi một cách hiệu quả cùng với phát
huy tối đa nguồn lực con người Việt Nam. Quan điểm về nguồn lực con
người, đề cao nhân tố con người, đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến
lược phát triển là tư tưởng nhất quán của Đảng. Thực hiện chủ trương trên,
Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ, cần: Xây dựng con người Việt Nam phát triển
toàn diện, có sức khỏe, năng lực, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với
19

Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện đại hội toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, tập 1, tr. 215 216.
15


bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc”; thực hiện phương châm: “Đào tạo con
người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công
dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông
tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế (cơng dân tồn cầu)”.
Nhấn mạnh thêm về con người là động lực của sự phát triển, Đảng ta khẳng
định con người và nền văn hóa Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh,
động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng, tạo môi trường,
điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy tinh thần yêu nước, niềm tự hào
dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển, tài năng, phẩm chất của con người
Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của
đất nước.
Để phát huy sức mạnh nguồn lực con người cần phải hết sức quan tâm
cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, thực hiện
đầy đủ các quyền con người, quyền lợi của người dân được ghi nhận trong
Hiến pháp. Bảo đảm quyền con người phải là khâu kết nối cần thiết, không
thể thiếu giữa khâu lấy con người làm trung tâm và phát triển con người tồn

diện.
Đi đơi với đường lối tiếp tục đổi mới phát triển kinh tế, Đại hội XIII
của Đảng nhấn mạnh việc phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt
Nam. Trong đó, Đại hội nêu bật chủ trương: “Tập trung nghiên cứu, xác định
và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực
con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời
kỳ mới. Quan tâm chăm lo công tác giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ em,
thiếu niên, nhi đồng. Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân
tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng
lớp nhân dân, nhất là thanh niên. Thực hiện những giải pháp đột phá nhằm
ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã
hội và các tệ nạn xã hội. Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững
trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận
16


thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ mơi trường, giữ gìn bản
sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ. Từng bước
vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam; xây dựng con
người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền
thống và giá trị hiện đại”4.
Đồng thời, coi trọng giáo dục, đào tạo để phát triển con người đáp ứng
yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng đất nước, đặc biệt giáo dục thế hệ trẻ.
Bên cạnh đó, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh vấn đề phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới với chủ trương: “Đẩy
mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng
yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế.
Phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành; chú trọng đội ngũ
nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công nghệ, nhân lực quản

lý, quản trị doanh nghiệp; nhân lực quản lý xã hội và tổ chức cuộc sống,
chăm sóc con người”5. Định hướng: “ưu tiên nguồn nhân lực cho công tác
lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước
chuyển biến căn bản, mạnh mẽ, toàn diện về chất lượng giáo dục, đào tạo
gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ người tài; đẩy mạnh nghiên
cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ; khơi dậy
khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí phấn đấu vươn
lên, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Bên cạnh chủ trương, biện pháp về kinh tế - xã hội, giáo dục - đào tạo,
Đại hội XIII của Đảng còn khẳng định vai trò của khoa học trong phát triển
nguồn lực con người. Đảng chỉ rõ: “Khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý
luận chính trị góp phần tích cực cung cấp luận cứ cho việc xây dựng đường
lối, chính sách; bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng; xây dựng, phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội, con người Việt Nam và bảo vệ Tổ quốc”7; thực
17


hiện “Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học y học, phát triển các ngành
khoa học phục vụ bảo vệ, chăm sóc sức khỏe con người”8.
Đại hội cũng chỉ ra cần bảo vệ quyền và lợi ích của con người, của
công dân, đặc biệt đề cập đến bảo vệ an ninh con người - bảo đảm và thực thi
đầy đủ các quyền con người, quyền cơ bản của công dân được quy định trong
Hiến pháp năm 2013. Tại Đại hội XIII của Đảng, lần đầu tiên xác định “an
ninh con người”, bảo vệ “an ninh con người”, đặt nhân tố con người, an ninh
con người làm trung tâm của mọi hoạt động. Bảo vệ an ninh con người vừa là
mục tiêu phấn đấu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định chính trị xã hội
và xây dựng, phát triển đất nước trường tồn, thịnh vượng. Đại hội lần thứ XIII
đề ra phương hướng: “Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên
nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc,

phục vụ nhân dân. Hoạt động tư pháp phải có trọng trách bảo vệ công lý, bảo
vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá
nhân”9. Nhân tố con người chỉ được khai thác và phát huy tối đa khi con
người thực sự làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân. Để phát
huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của con người trong mọi hoạt động thì nhất
thiết phải xây dựng và thực hiện một cơ chế thực sự dân chủ; trong đó ngày
càng quan tâm đến dân chủ trực tiếp nhằm hiện thực hóa những giá trị dân
chủ xã hội chủ nghĩa trong đời sống xã hội. Việc phát huy dân chủ không chỉ
tạo cơ hội thuận lợi cho tất cả mọi người có thể cống hiến năng lực của mình
cho xã hội, mà cịn có ý nghĩa tạo điều kiện cho việc thực hiện cơ chế phản
biện xã hội với tinh thần lành mạnh, xây dựng và phát huy trách nhiệm công
dân. Thông qua q trình dân chủ hóa, nguồn lực con người, trí tuệ của tồn
dân được huy động và đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội.
Có thể thấy rằng, quan điểm tại Đại hội XIII của Đảng về con người và
phát triển con người sau hơn 90 năm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng và phát
triển đất nước của Đảng ngày càng trở nên hồn thiện. Trong mơ hình phát
18



×