Tải bản đầy đủ (.docx) (26 trang)

Tiểu luận vận động hành lang trong thương mại quốc tế giữa việt nam và mỹ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (209.48 KB, 26 trang )

TIỂU LUẬN
MÔN: VẬN ĐỘNG HÀNH LANG
Đề tài:
VẬN ĐỘNG HÀNH LANG TRONG THƯƠNG MẠI VIỆT MỸ VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU..................................................................................................................3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẬN ĐỘNG HÀNH LANG TRONG
THƯƠNG MẠI VIỆT MỸ........................................................................................5
1.1. Khái niệm vận động hành lang...................................................................................................5

1.2. Cơ sở của vận động hành lang trong thương mại quốc tế...................................8
1.3. Vận động hành lang trong thương mại quốc tế...................................................9
1.4. Vai trò của vận động hành lang........................................................................10
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ VÀ ĐỀ XUẤT VẬN ĐỘNG HÀNH LANG
TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY...........................13
2.1. Thực trạng hoạt động vận động hành lang trong thương mại quốc tế ở Việt Nam
13
2.2. Đề xuất xây dựng chính sách về vận động hành lang ở Việt Nam....................16
KẾT LUẬN............................................................................................................24
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................26


MỞ ĐẦU
Đối với Việt Nam, vận động hành lang còn là một khái niệm khá mới
mẻ, nhưng lại rất quen thuộc ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới. Vận
động hành lang giữ một vai trò tất yếu trong đời sống xã hội tại một số quốc
gia bởi lẽ không phải ở đâu hoạt động này cũng được coi là hợp pháp. Nhiều


nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển, vận động hành lang được
xem là một ngành công nghiệp “tỷ đô”, ngành “công nghiệp không khói” đem
lại lợi nhuận cao nên lĩnh vực này ln được xem là mảnh đất béo bở, thu hút
được nhiều người tham gia và lựa chọn nó để gắn bó và theo đuổi như một
đam mê, nghề nghiệp1.
Thực tiễn xã hội tại nước ta hiện nay, vận động hành lang thường
được hiểu gắn kèm với những ý nghĩa khá tiêu cực: dưới nhận thức của nhiều
người vận động hành lang là một hoạt động đi đêm, phi pháp với mục đích sử
dụng tiền bạc mua chuộc các cơ quan, người có thẩm quyền để họ ban hành
những văn bản pháp luật, hoạch định chính sách cho phù hợp với lợi ích của
một nhóm người trong xã hội.
Trong những năm vừa qua, Việt Nam đang trên đà hội nhập kinh tế
quốc tế theo chiều sâu và chiều rộng nên thương mại đã có phần khởi sắc, đạt
được những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi nhất định,
Việt Nam cịn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức: rất ít doanh
nghiệp Việt Nam có được một tầm nhìn và chiến lược dài hạn, hoạt động kinh
doanh theo thói quen cũ, chưa tìm ra hướng mới, năng lực nghiệp vụ của các
doanh nghiệp còn hạn chế. Một khó khăn khác mà các doanh nghiệp Việt Nam
thường xuyên gặp phải khi mở rộng thị trường ra nước ngoài chính là việc một
vài thị trường xuất khẩu đã dựng lên một vài rào cản kỹ thuật kiểm soát chặt
chẽ hàng hóa nhập khẩu vào quốc gia nước sở tại. Bên cạnh đó, các doanh
nghiệp Việt Nam cịn gặp điêu đứng, thua lỗ nặng vì các vụ kiện tụng được
thực hiện bởi các doanh nghiệp nước ngoài và bị áp các mức thuế chống bán
1

(truy cập ngày 26/06/2013)

1



phá giá, gây thiệt hại đáng kể cho các doanh nghiệp Việt Nam. Có rất nhiều
nguyên nhân dẫn đến việc kém ưu thế của doanh nghiệp nước ta tại thị trường
nước ngồi nhưng một trong những ngun nhân chính được sử dụng để lý giải
cho sự thất bại của các doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường nước ngồi chính
là chúng ta chưa làm quen và áp dụng vận động hành lang để tác động đến cơ
quan, người có thẩm quyền của các nước sở tại nhằm chiếm được những ưu thế
nhất định trong vụ kiện. Trong khi đó, các đối tác làm ăn với các doanh nghiệp
nước ta chủ yếu là những nước được xem là quê hương, là miền đất hứa, là
thiên đường của vận động hành lang. Tại các quốc gia nêu trên, người dân đã
rất quen thuộc và ưa chuộng hoạt động vận động hành lang và họ xem đó là
một điều tất yếu, khơng thể thiếu trong đời sống chính trị xã hội. Cho đến thời
điểm hiện tại, sau thực tiễn của nhiều vụ tranh chấp trong thương mại quốc tế
thì vận động hành lang được xem là một trong những yếu tố quan trọng mà các
doanh nghiệp Việt Nam dành mối quan tâm hàng đầu trước khi thực hiện hoạt
động kinh doanh nhằm mục đích bảo vệ tối đa lợi ích của mình.
Tuy nhiên, nước ta đến tại thời điểm này vẫn chưa thừa nhận vận động
hành lang và cũng chưa có những quy định mang tính pháp lý để hợp thức hố
hoạt động này nên các doanh nghiệp thường vướng phải những khó khăn khi
tiếp xúc với các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để đề đạt nguyện vọng, đóng
góp ý kiến nhằm bảo vệ tối đa lợi ích. Trong tương lai, cùng với xu hướng hội
nhập kinh tế quốc tế, sức mạnh của tồn cầu hố thì Việt Nam có thể tiếp thu
những điểm tiến bộ một cách chọn lọc của các nước phát triển và thừa nhận vận
động hành lang là hoạt động hợp pháp, xây dựng khung pháp lý để điều chỉnh,
vận động hành lang là vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính tất yếu. Từ những
lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Vận động hành lang trong thương mại
quốc tế và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam” để nghiên cứu cho mơn học của
mình.

2



CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẬN ĐỘNG HÀNH LANG TRONG
THƯƠNG MẠI VIỆT MỸ
1.1. Khái niệm vận động hành lang
Khái niệm vận động hành lang được nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích và
định nghĩa dưới nhiều góc độ. Vận động hành lang được khám phá dưới góc
độ đa chiều, theo đó, vấn đề này được nhìn nhận từ các chun gia vận động
hành lang, các nhà nghiên cứu và theo từ điển. Theo từ điển, khái niệm này
được nhìn nhận dưới hai góc độ: danh từ và động từ. Hành lang (lobby) được
hiểu dưới hình thức danh từ nghĩa hành lang ở Nghị viện, người hoạt động
chính trị ở hành lang hoặc người hoạt động chính trị ở hậu trường. Vận động
hành lang (lobby) hiểu với hình thức động từ với nghĩa vận động ở hành lang,
đưa ra hoặc thông qua một đạo luật ở Nghị viện, hoặc lui tới hành lang Nghị
viện tranh thủ lá phiếu của nghị sĩ2.
Theo đó, vận động hành lang là việc thuyết phục người được vận động
ban hành chính sách theo ý muốn của người vận động, phục vụ cho lợi ích
của khách hàng hay cho chính bản thân của họ. Vấn đề cần vận động có thể là
một dự luật hoặc đơn giản chỉ để yêu cầu nghị sĩ tiếp xúc thường xuyên hơn
với một nhóm cử tri nào đó. Nói một cách khái qt thì vận động hành lang là
đưa ra chính kiến của một nhóm lợi ích đối với một chính sách của Nhà nước
và tác động để biến đổi chính sách đó theo nhu cầu của nhóm lợi ích.
Bên cạnh cách hiểu vận động hành lang theo từ điển thì vận động hành
lang cịn được nhìn nhận theo quan điểm của các chuyên gia. Theo tác giả
Bryan Cassidy, vận động hành lang là “q trình thơng tin đến các cơng chức
và nhà lập pháp để các biện pháp được cân nhắc tốt hơn với hy vọng giảm
những tác động không mong muốn đến các chính sách, pháp luật”3. Bên cạnh
đó, vận động hành lang còn được hiểu là “hoạt động thuyết phục mà các chủ
2
3


( truy cập 03/05/2013)
Bryan Cassidy, European Lobbying Guide- A guide on whom and how to lobby, Thorogood (1999).

3


thể thực hiện nhằm gây ảnh hưởng đến quá trình ban hành chính sách của cơ
quan Nhà nước”4. Vận động hành lang cịn là “q trình nhằm gây ảnh
hưởng lên chính phủ và các thiết chế nhằm mục tiêu gây ảnh hưởng đến tác
động của các cơ quan Nhà nước”5 hay vận động hành lang là “các hoạt động
thông tin, bằng văn bản hoặc lời nói, cho một cơng chứ để gây tác động đến
chính sách, pháp luật hay các quyết định hành chính”6 .
Vận động hành lang, một khái niệm nhìn tưởng chừng đơn giản nhưng
lại được nghiên cứu dưới nhiều góc độ cùng với những cách cảm nhận khác
nhau. Sở dĩ, vận động hành lang được nghiên cứu một cách nghiêm túc và
mang tính khoa học vì vai trò, sự ảnh hưởng ngày một cao của vận động hành
lang đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Dưới góc độ của
các chuyên gia vận động như Bryan Cassidy, Kosteck, Charles Miller… thì
vận động hành lang là hoạt động gây ảnh hưởng đến tiến trình hình thành,
hoạch định chính sách. Bên cạnh đó, vận động hành lang cịn là “hoạt động
có hệ thống và được thực hiện một cách khơng chính thức để tác động đến
những người có thẩm quyền ra quyết định”7. Như vậy, hoạt động vận động
hành lang không phải là một hoạt động riêng rẻ, mang tính bộc phát mà mang
tính hệ thống. Mục đích của vận động hành lang là tác động lên những người
có thẩm quyền ban hành một dự án luật, một chính sách có ảnh hưởng đến lợi
ích của một nhóm người, một hiệp hội hay là một liên minh. Tính khơng
chính thức của hoạt động trên thể hiện vận động hành lang không phải là một
thủ tục cần phải có theo luật định khi ban hành một dự án luật hay một chính
sách. Mặc dù vậy nhưng vận động hành lang đóng góp một vai trị to lớn

trong việc hình thành nên những bản dự luật hay những chính sách phù hợp
với lợi ích của xã hội, tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
Pháp luật của nhiều quốc gia cũng có những cách tiếp cận riêng về vận
động hành lang. Theo đó, vận động hành lang “là một trong những hoạt động
Kostecki, Business Advocacy in the global trading system – How business organisation may shape trade
policy, Tecgnical Paper June ITC (2005)
5
Charles Miller, Practical techniques for afective lobbying, Thorogood, (1998).
6
Lobbyist, Government and Pulic Trust, OECD, (2009)
7
BBO, Hướng dẫn vận động hành lang, Dự án Mitowa, (2006), tr 4/41.
4

4


hợp pháp được pháp luật ghi nhận, với mục đích tiếp cận với Quốc hội, các
cơ quan của Chính phủ và chính quyền địa phương vì lợi ích của cơng dân” 8.
Vận động hành lang là hoạt động được thừa nhận hợp pháp tại đất nước
Canada và được Nhà nước bảo vệ bằng những quy phạm pháp luật của đạo
luật vận động hành lang năm 1985. Mục đích của vận động hành lang là tiếp
cận với những cơ quan Nhà nước để thực hiện việc gây ảnh hưởng đến họ
trong việc đưa ra những chính sách, pháp luật phục vụ cho lợi ích của cơng
chúng.9 Bên cạnh đó, pháp luật Hoa Kỳ cũng có cách tiếp cận vận động hành
lang, theo đó đây là hoạt động cố gắng ảnh hưởng đến việc thông qua hoặc
bãi bỏ bất kỳ dự thảo luật nào của cơ quan lập pháp của bang Washington hay
sự chấp nhận hoặc chối bỏ bất kỳ luật lệ, tiêu chuẩn, thuế địa phương hay văn
bản của bất kỳ cơ quan chính quyền nào theo đạo luật thủ tục hành chính Nhà
nước, chương 34.05 RCW.

Như vậy, mục đích cuối cùng của vận động hành lang theo quy định
pháp luật của các quốc gia là quá trình gây ảnh hưởng của các cá nhân, tổ
chức làm công việc vận động hành lang đến các cơ quan, người có thẩm
quyền trong việc ban hành hoặc không ban hành một dự thảo luật, một chính
sách nhằm phục vụ lợi ích cho các nhóm người trong xã hội.
Vận động hành lang ngày càng có vai trị quan trọng đối với sự phát triển
kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Thông qua vận động hành lang, các nhà lập
pháp, các quan chức Chính phủ và những người có thẩm quyền khác sẽ nắm
bắt được nhu cầu của các nhóm lợi ích trong xã hội để kịp thời ban hành
những văn bản pháp luật, các chính sách phù hợp với mong muốn, nguyện
vọng của cơng chúng. Chính điều này, vận động hành lang cần được nghiên
cứu một cách sâu rộng trên tất cả các khía cạnh có liên quan, trong đó khái
niệm vận động hành lang cũng là một trong những yếu tố được các nhà
nghiên cứu tìm hiểu một cách nghiêm túc. Vận động hành lang tiếp cận theo
nhiều hướng khác nhau: theo từ điển, ý kiến của các nhà phân tích, ý kiến của
các chuyên gia vận động hành lang và quy định của pháp luật. Mặc dù cách
8
9

Điều 1 Luật về đạo đức và tính minh bạch trong vận động hành lang của Quebec, Canada
( truy cập ngày 17/06/2013)

5


thể hiện có sự khác nhau về từ ngữ, cách sắp xếp các câu chữ nhưng tất cả
đều có sự thống nhất về bản chất, mục đích của vận động hành lang.
Tóm lại, từ những phân tích ở trên, tác giả tạm thời đề xuất khái niệm về
vận động hành lang “là những hoạt động có hệ thống với mục đích tiếp cận,
thuyết phục, gây ảnh hưởng và cuối cùng là tác động đến quá trình ra quyết

định của cơ quan lập pháp, hành pháp, các nghị sĩ, quan chức và những
người có thẩm quyền khác trong bộ máy Nhà nước để họ ủng hộ hoặc phản
đối chính sách, dự luật, chương trình, kế hoạch… vì lợi ích của cộng đồng,
các nhóm lợi ích hoặc của cá nhân”
1.2. Cơ sở của vận động hành lang trong thương mại quốc tế
Thứ nhất, trong một nền kinh tế thị trường, một xã hội dân sự “nhà nước
nhỏ, xã hội lớn”, việc ban hành các đạo luật, chính sách hay các quyết định
của các cơ quan công quyền cần được cân nhắc trên cơ sở thực trạng, ý kiến
và nguyện vọng của nhân dân.
Thứ hai, kinh tế thị trường phát triển không ngừng, các hoạt động kinh tế
diễn ra một cách mau lẹ và nhậy cảm thì mỗi một chính sách của cơ quan
cơng quyền đều có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp tới lợi ích và
sự phát triển của các chủ thể kinh doanh. Bản thân riêng rẽ các chủ thể kinh
doanh khó có thể đề đạt một cách trực tiếp tới các cơ quan cơng quyền ý chí
và nguyện vọng của mình. Các hiệp hội kinh tế, với tiềm lực kinh tế và sức
ảnh hưởng lớn, là một trong những kênh truyền thông và tác động hiệu quả
nhất ý chí và nguyện vọng của các thành viên tới các cơ quan công quyền.
Thứ ba, các hiệp hội kinh tế đóng vai trị như những chủ thể trung gian
trong việc chuyển tải thông tin từ doanh nghiệp tới các cơ quan công quyền
một cách trực tiếp, minh bạch, liên tục và nhanh chóng.
Những lợi ích mà vận động hành lang mang lại
Thứ nhất, đối với các cơ quan công quyền. Các cơ quan này thường
mang tính xơ cứng và quan liêu, khó có thể tiếp cận và thấu hiểu được các
hoạt động kinh doanh của xã hội. Thông qua các hoạt động vận động hành
lang, họ có thể tiếp nhận được một cách cụ thể, rõ ràng, chính xác và nhanh

6


chóng các ý chí và nguyện vọng của giới kinh doanh. Vì thế mà các chính

sách của các cơ quan công quyền gắn liền hơn đối với đời sống kinh doanh.
Thứ hai, đối với giới kinh doanh. Vận động hành lang là chiếc cầu nối
giữa cơ quan công quyền và giới kinh doanh. Một mặt, nó đóng vai trị như
một kênh thơng tin tích cực về hoạt động kinh doanh, ý chí nguyện vọng của
các tổ chức kinh tế tới cơ quan công quyền. Mặt khác, vận động hành lang có
tác dụng thúc đẩy các cơ quan cơng quyền phải đưa ra các chính sách phù hợp
với lợi ích của người kinh doanh nói chung và của các chủ thể vận động hành
lang nói riêng.
Thứ ba, về khả năng thực thi của các chính sách. Khi chính sách của cơ
quan công quyền đưa ra phù hợp với thực tiễn kinh doanh thì sự tiếp nhận và
thực thi của các quy định này cũng được dễ dàng và nhanh chóng hơn. Hay
một nhóm khách hàng nhất định. Người vận động hành lang có thể dùng
nhiều phương pháp, thậm chí thủ đoạn để đạt được mục đích, làm sai lệch và
ảnh hưởng đến ý nghĩa tích cực của vận động hành lang đó là phát huy dân
chủ, giúp cho ý nguyện của cử tri đến được với các cơ quan nhà nước và nhà
trức trách có thẩm quyền một cách nhanh chóng và hiệu quả, góp phần phát
hiện và giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, quan trọng về vấn đề chính
trị, kinh tế, văn hố xã hội … Để phát huy được những mặt tích cực và hạn
chế những tiêu cực của vận động hành lang, thì các quá trình vận động hành
lang phải được tiến hành một cách cơng khai, minh bạch, trong đó vấn đề cần
phải cơng khai và minh bạch hố về tài chính
1.3. Vận động hành lang trong thương mại quốc tế
Vận động hành lang trong thương mại quốc tế là một dạng của vận động
hành lang nói chung, do vậy mang đầy đủ các đặc điểm, tính chất giống như
vận động hành lang. Hoạt động này là sự tổng hợp các hoạt động có mục đích
của các tổ chức kinh tế hoặc các cá nhân đại diện cho các tổ chức này nhằm
tác động, gây ảnh hưởng đến q trình hoạch định chính sách thương mại và
đàm phán thương mại quốc tế. Theo khái niệm trên thì các chính sách thương
mại quốc tế được hiểu là các chính sách, pháp luật của quốc gia có liên quan
đến hoạt động thương mại của các đối tác nước ngồi tại chính quốc gia đó;

7


các quy định thương mại quốc tế như các điều ước, thoả ước song phương
hoặc đa phương giữa các quốc gia có ảnh hưởng hoặc liên quan tới hoạt động
thương mại. Cũng như mục đích của vận động hành lang, vận động hành lang
trong thương mại quốc tế nhằm: (i) tác động đến q trình hoạch định, ban
hành các chính sách, pháp luật trong lĩnh vực thương mại quốc tế, bảo đảm
cho lợi ích của chủ thể tiến hành vận động hoặc cho các chủ thể mà họ làm
đại diện; (ii) là một cơng cụ hữu ích để bảo hộ các tổ chức kinh tế khỏi sự
cạnh tranh quốc tế; (iii) để ủng hộ tự do cạnh tranh, dễ dàng thâm nhập vào
thị trường nước ngoài đối với những tổ chức kinh tế có thế lực kinh doanh,
muốn mở rộng thị trường ra nước ngồi.
Tóm lại, từ những phân tích ở trên, tác giả tạm thời đề xuất khái niệm
vận động hành lang trong thương mại quốc tế “là một dạng đặc biệt của hoạt
động vận động hành lang, theo đó, đây là tổng hợp các hoạt động mang tính
hệ thống được thực hiện bởi các tổ chức kinh tế, hoặc đại diện của các tổ
chức này nhằm tiếp cận, thuyết phục, gây ảnh hưởng và tác động đến quá
trình hoạch định chính sách thương mại và đàm phán thương mại của các cơ
quan và người có thẩm quyền trong việc ban hành, ra quyết định có liên
quan, ảnh hưởng đến hoạt động thương mại nói chung và thương mại quốc tế
nói riêng”.
1.4. Vai trị của vận động hành lang
Vận động hành lang là hoạt động của các nhà vận động hành lang nhằm
gây ảnh hưởng, tác động đến quá trình ban hành các dự thảo luật, các chính
sách của cơ quan lập pháp, các quan chức Chính phủ hay những người có
thẩm quyền nhằm tạo ra thuận lợi cho nhóm lợi ích mà mình đại diện hoặc
cho chính họ. Hoạt động vận động hành lang được ghi nhận trong các đạo luật
của nhiều quốc gia khác nhau: Đạo luật công khai vận động hành lang của
Hoa Kỳ năm 1995, Đạo luật vận động hành lang của Canada năm 1985…

Vận động hành lang được ghi nhận trong các văn bản pháp luật là hoạt động
hợp pháp, có ý nghĩa trong sáng, có vai trị trong q trình hoạch định chính
sách cho phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội. Vận động hành lang ngày càng

8


khẳng định tầm quan trọng và vai trò to lớn của mình trên nhiều các lĩnh vực
trong đời sống về chính trị, kinh tế, xã hội- nghề nghiệp.
Vận động hành lang là một bộ phận chính đáng, hợp pháp của thiết chế
dân chủ, giúp đưa các ý nguyện của cử tri đến được với chính quyền một cách
nhanh chóng, hiệu quả nhất; giúp chuyển tải những vấn đề quan trọng đến với
bàn họp của Nghị viện... Thông qua vận động hành lang, cơng dân sẽ tham
gia vào hoạt động chính trị, được bày tỏ tiếng nói, nguyện vọng của mình
thơng qua các nhà vận động hành lang về một dự thảo luật, một chính sách
đang được thảo luận nhằm đem lại lợi ích cho bản thân họ. Bên cạnh đó, vận
động hành lang cũng là con đường nhanh, có hiệu quả nhất trong việc mang
lại tiếng nói, nguyện vọng của cơng chúng đến q trình hoạch định chính
sách, ban hành dự thảo luật. Đối với nhiều quốc gia, việc thừa nhận quyền
được đóng góp ý kiến, trình bày tâm tư nguyện vọng của công dân về một vấn
đề nảy sinh trong đời sống xã hội đối với các quan chức, người đại diện cho
bộ máy Nhà nước là quyền cơ bản của công dân. Tuy nhiên, trên thực tế,
quyền này ít khi được thực hiện vì cơng việc của các nghị sỹ là vô cùng bận
rộn, các cuộc tiếp xúc công dân cũng diễn ra với tần suất hiếm hoi cộng với
sự nhanh chóng về mặt thời gian nên điều này sẽ tạo ra sự hạn chế cho người
dân khi thực hiện quyền này trên thực tế. Bên cạnh đó, khơng phải cơng dân
nào cũng có khả năng trình bày vấn đề một cách thuyết phục để biến lợi ích
của một nhóm người nào đó trở thành lợi ích chung của một địa phương, một
Nhà nước. Chính những bất cập nêu trên, thực tế đặt ra những yêu cầu, đòi
hỏi họ phải cần đến sự có mặt của các nhà vận động hành lang. Hoạt động

vận động hành lang ngày càng đi theo hướng chun mơn hố với đội ngũ
nhân viên có trình độ cao, khả năng thuyết phục, lập luận tốt. Ngồi mức độ
chun mơn về nguồn nhân lực thì tổ chức của các văn phịng vận động hành
lang ngày một chặt chẽ và mang tính chuyên nghệp. Các nhà vận động hành
lang thông thường là các nghị sỹ đã về hưu hay là những người có mối quan
hệ với các nghị sỹ nên họ sẽ có những ưu thế nhất định khi đại diện cho nhóm
lợi ích tác động đến các nhà hoạch định chính sách ban hành các dự thảo luật,
các chính sách nhằm đáp ứng cho nhóm lợi ích mà mình làm đại diện. Trong
9


xu thế tồn cầu hố, các doanh nghiệp của nhiều quốc gia thực hiện hoạt động
thương mại với nhau ngày càng tăng thì vận động hành lang là một cơng cụ
hữu hiệu được sử dụng để bảo vệ lợi ích cho các doanh nghiệp đặc biệt khi
các doanh nghiệp làm ăn với đối tác đến từ Hoa Kỳ. Cùng với sự đa dạng các
hoạt động thương mại trên phạm vi tồn cầu thì số lượng các vụ tranh chấp
thương mại quốc tế diễn ra ngày càng cao. Khi tranh chấp xảy ra khơng cịn là
phạm vi trong nước mà đã trở thành tranh chấp thương mại quốc tế thì vận
động hành lang sẽ giúp cho các doanh nghiệp đầu tư hoạt động vận động hành
lang có thế mạnh hơn đối tác xem nhẹ hoạt động này. Bởi lẽ, xuất phát từ bản
chất của vận động hành lang là một quá trình có tính hệ thống, nhằm tác động
lên những nhà hoạch định chính sách: cơ quan lập pháp, các quan chức chính
phủ, người có thẩm quyền trong việc ban hành một dự thảo luật hay một
chính sách nhằm thoả mãn lợi ích cho mình. Vậy nên, nếu một trong các bên
tranh chấp thuyết phục được các nhà hoạch định ban hành những văn bản luật
hay các chính sách phù hợp với mục đích của mình thì sẽ chiếm ưu thế hơn
trong quá trình giải quyết tranh chấp.

10



CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VÀ VÀ ĐỀ XUẤT VẬN ĐỘNG HÀNH LANG TRONG
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Thực trạng hoạt động vận động hành lang trong thương mại
quốc tế ở Việt Nam
Tại các nước phát triển, vận động hành lang là một khái niệm đã tồn tại
từ lâu, được quy định trong các văn bản pháp luật thì tại Việt Nam vận động
hành lang là một khái niệm mới mẻ và trên thực tế hoạt động này vẫn chưa
được thừa nhận trên bình diện pháp luật. Nếu các quốc gia thừa nhận vận
động hành lang là hoạt động hợp pháp và được luật hố thì vận động hành
lang trở thành một ngành công nghiệp hái ra tiền và số lượng nhà vận động
hành lang cũng tăng lên đáng kể. Tại Việt Nam, vận động hành lang được
nhìn nhận từ mặt trái của nó bởi theo ý thức của đa số người, họ vẫn tâm niệm
rằng vận động hành lang là một điều không tốt, là hoạt động “đi đêm”, mang
tính chất tiêu cực, mua chuộc các quan chức có thẩm quyền để phục vụ cho
lợi ích của một hay nhiều nhóm người trong xã hội, là nguồn gốc của tham
nhũng, hối lộ. Tuy nhiên, Việt Nam đã và đang trên đà phát triển nền kinh tế
thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và tham gia vào các sân chơi chung
mang tầm cỡ quốc tế nên Việt Nam cần phải làm quen với loại hình vận động
này. Về mặt pháp lý, nước ta chưa thừa nhận vận động hành lang là hoạt động
hợp pháp nhưng chúng ta vẫn có thể thấy sự hiện diện của các quan hệ vận
động hành lang tồn tại trong thực tiễn đời sống. Tuy nhiên, vận động hành
lang ở nước ta chỉ tồn tại một cách riêng rẻ, tự phát và mang tính chất lợi ích
cá nhân, đơn lẻ.
Cùng với sự phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế kết hợp với sự
hoàn thiện hơn về hệ thống pháp luật thì số lượng các hiệp hội doanh nghiệp
của nước ta đã tăng lên đáng kể. Theo thống kê chưa đầy đủ của VCCI, tính
đến thời điểm cuối năm 2004, số lượng hiệp hội doanh nghiệp trên cả nước
có gần 300 hiệp hội doanh nghiệp. Trong đó chủ yếu tập trung tại các trung


11


tâm kinh tế lớn của cả nước như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa Vũng Tàu, Đà Nẵng, Hải Phòng. Chỉ riêng tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh số lượng hiệp hội doanh nghiệp đã chiếm đến hơn 42% tổng số hiệp
hội doanh nghiệp trong cả nước.10 Có nhiều tiêu chí để phân chia các loại
hiệp hội nhưng hiện nay cách phân chia chủ yếu được sử dụng là căn cứ vào
ngành nghề kinh doanh của hiệp hội. Nếu dựa vào tiêu chí nêu trên thì hiệp
hội được phân thành 2 loại:
(i) Các hiệp hội doanh nghiệp đa ngành như VCCI, Liên minh Hợp tác
xã Việt Nam, Hiệp hội Công thương, Hội đồng các nhà doanh nghiệp trẻ
Việt Nam…
(ii) Các hiệp hội doanh nghiệp cùng một ngành hàng, lĩnh vực hoạt
động như Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam, Hiệp hội Lương thực Việt
Nam, Hiệp hội Ngân hàng… Hiện nay, theo điều tra của VCCI khoảng gần
30% các doanh nghiệp của Việt Nam tham gia làm thành viên của một hiệp
hội doanh nghiệp cụ thể11. Tỷ lệ các doanh nghiệp Nhà nước và doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi tham gia làm thành viên hiệp hội thông
thường nhiều hơn so với các doanh nghiệp do người dân thành lập.
Hiện tại, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của WTO, các
doanh nghiệp của Việt Nam không chỉ thực hiện hoạt động thương mại trong
phạm vi nội địa mà đã có những bước đi xa hơn là hội nhập vào sân chơi
chung của các quốc gia trên thế giới. Hoạt động thương mại, tự thân đã là
hoạt động mang tính rủi ro nhưng giờ đây, nó khơng cịn ở phạm vi của một
quốc gia mà đã vượt qua biên giới và thâm nhập vào thị trường các quốc gia
khác. Hoạt động thương mại quốc tế luôn tiềm ẩn những rủi ro cao, vậy nên
các doanh nghiệp Việt Nam cần phải có cái nhìn kịp thời, tồn diện hơn về
vận động hành lang để tránh việc bị yếu thế tại thương trường quốc tế. Nắm
bắt được ý nghĩa của vận động hành lang, trong những năm vừa qua VASEP

Trần Hữu Huỳnh, Đậu Anh Tuấn, Báo cáo nghiên cứu: “Vận động chính sách của các hiệp hội doanh
nghiệp Việt Nam: Đánh giá thực trạng, một số quan sát ban đầu và các kiến nghị”, 10/2006.
11
Trần Hữu Huỳnh, Đậu Anh Tuấn, Báo cáo nghiên cứu: “Vận động chính sách của các hiệp hội doanh
nghiệp Việt Nam: Đánh giá thực trạng, một số quan sát ban đầu và các kiến nghị”, 10/2006.
10

12


đã phải tiêu tốn khoảng 260.000 đô-la cho các hoạt động vận động hành lang
trong các vụ kiện bán phá giá về tôm, cá tra, basa tại Hoa Kỳ12. Các hiệp hội
khác như Hiệp hội giầy da, Hiệp hội dệt may, Hiệp hội thép đã và đang đối
mặt với các vụ kiện chống bán phá giá từ nước ngoài. Vận động hành lang
đang dần được quan tâm và vận dụng thường xuyên hơn nhằm hạn chế rủi ro
cho các thành viên của hiệp hội. Thực tế trong những năm vừa qua, VCCI là
chủ thể tích cực trong các hoạt động vận động hành lang tại Việt Nam. Các
hoạt động vận động hành lang, bao gồm:
(i) Tham gia trực tiếp vào các ban soạn thảo các văn bản pháp luật, pháp
quy; tham gia phản biện chính sách, góp ý các văn bản quy phạm pháp luật;
(ii) Tham gia Tổ công tác thi hành pháp luật và chính sách; thơng qua
đại diện hiệp hội tại một số cơ quan dân cử như Quốc hội, Hội đồng nhân
dân các cấp; đối thoại tại các cuộc đối thoại thường kỳ giữa Chính phủ và
doanh nghiệp;
(iii) Gửi các cơng văn kiến nghị tới Chính phủ trong việc xây dựng, sửa
đổi các văn bản quy phạm pháp luật không phù hợp.
Thuế quan, các hàng rào phi thuế quan là một trong những vấn đề nhận
được sự quan tâm đặc biệt từ các doanh nghiệp, hiệp hội. Bởi lẽ, những vấn
đề nêu trên có vai trị quyết định to lớn trong cấu thành giá sản phẩm, phân
phối sản phẩm và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Thế nên, những vấn đề này là

một trong những đối tượng mà vận động hành lang hướng tới: Hiệp hội ô tô
Việt Nam có vai trị rất lớn khi tác động tới Bộ Tài chính đưa ra các quyết
định về thuế nhập khẩu ôtô, ôtô cũ; Hiệp hội thép Việt Nam cũng tích cực
tham gia vào các hoạt động chính sách có liên quan. Mặc dù số lượng các
hiệp hội ở Việt Nam ngày càng gia tăng về số lượng nhưng hiệu quả mang
lại từ quá trình hoạt động chưa cao bởi lí do nhiều hiệp hội được thành lập
nhưng việc bảo vệ lợi ích cho các doanh nghiệp, mang tiếng nói của doanh
nghiệp đến với nghị trường vẫn còn hạn chế.
Trần Hữu Huỳnh, Đậu Anh Tuấn, Báo cáo nghiên cứu: “Vận động chính sách của các hiệp hội doanh
nghiệp Việt Nam: Đánh giá thực trạng, một số quan sát ban đầu và các kiến nghị”, 10/2006.
12

13


Như vậy, tại Việt Nam đã có sự xuất hiện của các nhóm lợi ích và hoạt
động vận động hành lang trên thực tế nhưng các nhóm lợi ích ở Việt Nam chủ
yếu tồn tại dưới hình thức các Hiệp hội và vẫn chưa phát huy được hiệu quả
trong quá trình hoạt động. Người vận động hành lang tạm thời được phân chia
thành ba loại: người vận động hành lang bên trong, người vận động hành lang
tình nguyện, người vận động hành lang theo hợp đồng. Nếu như dựa vào việc
phân loại như trên thì người vận động hành lang “bên trong” ở nước ta đang
từng bước hình thành và có ảnh hưởng lớn. Người vận động hành lang “bên
trong” được hiểu là “là những người công chức, viên chức làm việc trong các
lĩnh vực hoạt động khác nhau của Nhà nước và cơ bản trong các lĩnh vực hoạt
động khơng mang tính Nhà nước, họ đại diện cho lợi ích của các lĩnh vực đó
trong các cơ cấu khác nhau của Nhà nước”13. Bên cạnh đó, nước ta cũng tồn
tại một số lượng ít người với tên gọi là người vận động hành lang tình nguyện,
họ là những cơng dân bình thường, đại diện cho nhóm lợi ích khơng lớn, khơng
mang tính kinh doanh, chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực xã hội. Nhóm

người vận động hành lang tình nguyện chiếm một số lượng nhỏ và giá trị ảnh
hưởng không đáng kể. Người vận động hành lang theo hợp đồng tồn tại với số
lượng đơng đảo và có tầm ảnh hưởng đáng kể ở một số quốc gia thì tại Việt
Nam nhóm gây áp lực này chưa xuất hiện, bởi vì chưa có cơ sở pháp luật điều
chỉnh hoạt động của họ.
2.2. Đề xuất xây dựng chính sách về vận động hành lang ở Việt Nam
2.2.1. Sự cần thiết của việc ban hành luật điều chỉnh vấn đề vận động
hành lang
Như đã trình bày tại chương hai, vận động hành lang là một khái niệm
còn khá mới đối với Việt Nam nhưng rất quen thuộc đối với hầu hết các quốc
gia trên thế giới. Tại Việt Nam, vận động hành lang được mọi người nhìn
nhận từ những đặc điểm tiêu cực, không đúng với bản chất nguyên thủy của
Võ Khánh Vinh, “Các nhóm lợi ích có tổ chức, vận động hành lang và sự hình thành chính sách của Nhà
nước”, Bài viết hội thảo, Hội thảo”Vận động hành lang: Thực tiễn và pháp luật”, 2006
13

14


nó. Theo đó, vận động hành lang thường được tiếp nhận là một hoạt động lén
lút, đi đêm, không hợp pháp nhằm gây áp lực, mua chuộc các cơ quan, người
có thẩm quyền để ban hành những chính sách, pháp luật phù hợp cho lợi ích
của họ. Trong những năm gần đây, hoạt động vận động hành lang đã manh
nha tại Việt Nam và có xu hướng sẽ phát triển trong những năm tiếp theo, hứa
hẹn nhiều triển vọng. Có lẽ do Việt Nam đã và đang hội nhập kinh tế theo
chiều sâu và đặc biệt hơn là từ sau sự kiện chính thức trở thành thành viên của
WTO được xem là một trong những nguyên nhân tạo điều kiện cho vận động
hành lang xuất hiện. Một trong những nghĩa vụ phải thực hiện đầu tiên khi trở
thành thành viên của một tổ chức mang tầm cỡ quốc tế này (WTO) chính là
nghĩa vụ thực thi cam kết mở cửa thị trường. Việc mở cửa thị trường của Việt

Nam có ảnh hưởng và tác động đến nhiều ngành với các mức độ khác nhau
tuỳ thuộc vào phạm vi của chính sách, đối tượng điều chỉnh của chính sách.
Điều này đặt ra nhiệm vụ cho các tổ chức, các hiệp hội cần phải thực hiện là
tạo ra những cơ chế tự bảo vệ mình tại chính thị trường nội địa. Trước tình
hình này, các doanh nghiệp, hiệp hội, ngành hàng cần phải sử dụng công cụ
vận động hành lang với mục đích tác động vào các chủ thể có thẩm quyền để
họ hoạch định, ban hành các điều khoản có lợi để bảo vệ quyền lợi của mình.
Qua thực tiễn các vụ tranh chấp thương mại quốc tế, đặc biệt là sau vụ kiện cá
tra, cá basa giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, các doanh nghiệp, hiệp hội của nước ta
đã nhận thức được tầm quan trọng và vai trò của vận động hành lang nên
phần nào đã có sự đột phá, thay đổi tư duy, nhận thức của họ về vấn đề này.
Các doanh nghiệp muốn xây dựng kế hoạch trung hạn, dài hạn để tối đa hố
lợi ích của mình thì các chính sách thương mại đóng một vai trị cực kì quan
trọng nên vận động hành lang sẽ phát huy vai trò trong việc định hướng các
cơ quan, cá nhân có thẩm quyền ban hành các chính sách, văn bản luật phù
hợp với lợi ích của doanh nghiệp, hiệp hội.
Trong những năm vừa qua, vận động hành lang đóng một vai trị quan
trọng trong việc thuyết phục, kêu gọi sự ủng hộ của các quốc gia thành viên
phê chuẩn cho Việt Nam gia nhập WTO hay vận động tại Mỹ để thông qua
15


quy chế PNTR. Trong cuộc chiến cá tra, cá basa giữa Việt Nam và Hoa Kỳ,
phía Việt Nam cũng sử dụng vận động hành lang và kết quả đạt được là sự
ủng hộ từ các nghị sỹ cùng với báo giới, dân chúng của Hoa Kỳ. Ngày nay,
cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội, sự hoàn thiện về môi trường pháp luật
đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng của các nhóm lợi ích.
Trong đó, sự ra đời và phát triển nhanh chóng của các hiệp hội, liên hiệp là
minh chứng dễ nhận thấy nhất trong thực tiễn xã hội nước ta hiện nay. Các
hiệp hội được thành lập và mỗi hiệp hội đều cố gắng hoạt động theo hướng

tăng cường và bảo vệ một cách có hiệu quả nhất các lợi ích của thành viên
trong tổ chức mình. Thơng qua các cuộc tiếp xúc cá nhân với những người có
thẩm quyền trong các cơ quan Nhà nước, tham gia vào các phiên họp của hội
đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, nghe báo cáo các dự luật và kiến
nghị, góp ý kiến tham gia vào các dự luật thì các nhóm lợi ích đã phần nào
bảo vệ được lợi ích cho các thành viên của mình. Trong những năm gần đây,
số lượng các hiệp hội được thành lập ngày càng tăng nhưng chất lượng hoạt
động của các hiệp hội còn mang tính bị động, khi nào bị ảnh hưởng, xâm hại
đến lợi ích thì các doanh nghiệp, các hiệp hội mới lên tiếng.
Hiện tại nước ta chưa tồn tại khái niệm vận động hành lang, các nhóm
lợi ích, các nhà vận động hành lang chuyên nghiệp bởi lẽ chưa có một văn
bản pháp luật nào ghi nhận và bảo vệ nhưng trên thực tế đã tồn tại bóng dáng
các nhà vận động hành lang làm công việc vận động. Vận động hành lang
thực tế là một hoạt động trong sáng, có ý nghĩa quan trọng và tác dụng to lớn
đối với nhiều chủ thể: Chính phủ, các nhóm lợi ích… nên nếu nắm rõ được
bản chất của vận động hành lang và vận dụng nó một cách chính xác sẽ mang
lại hiệu quả vơ cùng to lớn. Chính những điều đó, thiết nghĩ rằng Việt Nam
cần chính thức thừa nhận vai trò của vận động hành lang và ban hành văn bản
pháp quy để hợp thức hoá hoạt động vận động hành lang, đề cao vai trị, tiếng
nói của người dân trong việc tự do nêu ý kiến của mình về dự thảo luật hay
chính sách của Nhà nước. Vận động hành lang tồn tại như một hiện tượng tất
yếu của thiết chế dân chủ vậy nên cần phải có văn bản pháp luật để điều
16


chỉnh, định hướng hoạt động này đi vào một khuôn khổ, minh bạch tránh việc
bóp méo, đánh tráo khái niệm vận động hành lang để thực hiện các hành vi
tiêu cực.
2.2.2. Đề xuất ban đầu trong việc xây dựng mô hình vận động hành
lang tại Việt Nam

Trước khi ban hành văn bản pháp luật điều chỉnh về hoạt động vận động
hành lang thiết nghĩ chúng ta nên ban hành và thực thi các văn bản luật liên
quan đến vấn đề phòng, chống tham nhũng; luật đạo đức của các cơ quan và
nhân viên Nhà nước để tạo ra bước đi đầu tiên, làm nền tảng cho việc thực thi
có hiệu quả luật vận động hành lang về sau. Theo quy định tại điều 53, Hiến
pháp năm 1992, công dân Việt Nam có quyền “tham gia quản lý Nhà nước và
xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến
nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu dân
ý”, nhân dân cịn có quyền làm chủ cơ sở bằng cách “tham gia công việc của
Nhà nước và xã hội”. Nền tảng Hiến pháp đã ghi nhận quyền tham gia của
nhân dân vào đời sống chính trị và quá trình ra quyết định của cơ quan Nhà
nước trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh, có ảnh hưởng đến
quyền và nghĩa vụ của công dân. Từ việc tiếp thu và ghi nhận những ý kiến
đóng góp của cơng dân, của nhóm lợi ích thì cơ quan, cá nhân hoạch định
chính sách, pháp luật sẽ có một cái nhìn bao qt, tồn diện hơn trong qua
trình ra quyết định để đảm bảo tối đa lợi ích cho cơng dân và q trình thực
thi chính sách, pháp luật sẽ dễ dàng hơn.
Việt Nam nên tiếp thu quy định của các nước trong việc thừa nhận vận
động hành lang là hoạt động hợp pháp. Việc tiếp thu dựa trên cơ sở chọn lọc
để phù hợp với tình hình chính trị, văn hoá, xã hội của Việt Nam. Vận động
hành lang chủ yếu xuất hiện ở các nước có nền kinh tế phát triển với chế độ
chính trị đa đảng, hình thức tư bản chủ nghĩa. Trong khi đó, Việt Nam là quốc
gia đang phát triển với chế độ một Đảng lãnh đạo và đi theo con đường xã hội
chủ nghĩa, lấy học thuyết Mác – Lê nin làm nền tảng tư tưởng thì vận động

17


hành lang khi du nhập vào Việt Nam cần phải có sự biến thể, cải cách cho phù
hợp với tình hình thực tế.

Khi tiến hành soạn thảo một văn bản luật quy định về hoạt động vận
động hành lang, cơ quan soạn thảo cần đưa vào những nội dung cơ bản nhất
và xây dựng theo xu hướng mở để có thể sửa đổi khi có sự thay đổi trong q
trình thực thi văn bản luật này. Tiếp thu những tiền đề sẵn có của các quốc gia
thừa nhận vận động hành lang, luật điều chỉnh vận động hành lang cần làm
sáng tỏ các vấn đề:
(i) Khái niệm về vận động hành lang: Một đạo luật ban được ban hành
để điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh thì cần chỉ ra cụ thể nó nó điều chỉnh
vấn đề gì và cần phải hiểu vấn đề đó ở phạm vi, mức độ như thế nào. Theo
đó, khái niệm vận động hành lang cần được làm sáng tỏ để tránh những
trường hợp làm biến dạng đi bản chất của vận động hành lang, làm cho người
dân hiểu sai lệch vấn đề và nghĩ theo hướng tiêu cực. Các nhà soạn thảo sẽ
căn cứ vào tình hình thực tiễn của Việt Nam để đưa ra khái niệm về hoạt động
này.
(ii) Đối tượng của vận động hàng lang: Đây là một nội dung rất quan
trọng trong quy định của pháp luật vì nó trả lời, định hướng cho những cá
nhân, tổ chức muốn thực hiện hoạt động này biết được rằng họ có thể tác
động vào những vấn đề nào được pháp luật quy định. Theo tôi nghĩ, nước ta
nên tiếp thu, học hỏi những kinh nghiệm lập pháp của nước bạn. Theo đó, đối
tượng mà vận động hành lang hướng tới là các dự thảo luật, các chính sách
đang được thảo luận tại Quốc hội.
(iii) Người vận động hành lang: Theo như dự báo, trong những năm sắp
tới, vận động hành lang sẽ bùng nổ và có sự phát triển mạnh mẽ tại nước ta.
Một giả thuyết đặt ra thì vận động hành lang sẽ trở thành một nghề nghiệp thu
hút sự tham gia của nhiều người vì những lợi ích mà nó đem lại. Bên cạnh đó,
đội ngũ những người hoạt động trong lĩnh vực luật pháp, các luật sư ngày
càng tăng hứa hẹn sẽ là những tiềm năng cho công việc vận động hành lang.
Vậy nên, pháp luật khi được ban hành cần chỉ rõ người vận động hành lang là
18




×