Tải bản đầy đủ (.docx) (25 trang)

Tiểu luận thực trạng vận động hành lang trong nền chính trị mỹ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (209.07 KB, 25 trang )

TIỂU LUẬN
MÔN: VẬN ĐỘNG HÀNH LANG
ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG VẬN ĐỘNG HÀNH LANG TRONG
NỀN CHÍNH TRỊ MỸ


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VẬN ĐỘNG HÀNH LANG...3
1.1. Khái niệm vận động hành lang...................................................................3
1.2. Vai trò của vận động hành lang...............................................................5
1.3. Nguồn gốc vận động hành lang...............................................................7
Chương 2THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG VẬN ĐỘNG HÀNH LANG TRONG
NỀN CHÍNH TRỊ MỸ....................................................................................12
2.1. Cơ sở hình thành hoạt động vận động hành lang.....................................12
2.1.1. Cơ sở chính trị pháp - pháp lý...............................................................12
2.1.2. Cơ sở kinh tế..........................................................................................14
2.1.3. Cơ sở văn hóa - xã hội..........................................................................14
2.2. Thực trạng vận động hành lang trong nền chính trị Mỹ...........................15
2.3. Một số ưu điểm và hạn chế của vận động hành lang trong nền chính trị
Mỹ...................................................................................................................19
KẾT LUẬN.....................................................................................................22
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................23


MỞ ĐẦU
Nói đến Vận động hành lang (VĐHL) tất yếu phải nói đến Hoa kỳ.
Quốc gia này được coi là một trong những nước có hoạt động VĐHL sớm
nhất thế giới, xuất hiện từ nửa cuối thế kỷ XVIII. Hiện tại, Hoa kỳ là nơi hoạt


động vận động hành lang diễn ra sôi nổi nhất thế giới. Trên thực tế, vận động
hành lang ở Mỹ đã và đang tồn tại manh tính chính trị - pháp lý - xã hội, có
tác động mạnh mẽ đến Quốc hội và Chính phủ Mỹ trong tất cả các cơng đoạn
của q trình xây dựng pháp luật và hình thành chính sách đối nội, đối ngoại.
Hoạt động vận động hành lang xuất hiện từ khi nước Mỹ mới ra đời và
đã, đang hoạt động tích cực nhất là trong lĩnh vực lập pháp. Vận động hành
lang là một hoạt động thường xuyên trong chính trị, trong q trình hình
thành các chính sách của Mỹ và vận động hành lang được luật pháp Mỹ công
nhận. Vận động hành lang được thực hiện khi các đạo luật, các nghị quyết,
các quyết định ra đời và cần sự ủng hộ của Quốc hội Mỹ mà ý kiến của họ có
lợi cho các nhóm lợi ích khác nhau.
Mỹ có một hệ thống chính trị và pháp luật rất phức tạp và trong đó
VĐHL là hoạt động liên quan trực tiếp đến cả hệ thống chính trị lẫn hệ thống
pháp luật, nên chính bản than nó cũng hết sức phức tạp. Hoạt động VĐHL ở
Mỹ đồng thời là sự phản ánh, giám sát, kiềm chế, đối trọng của các nhóm lợi
ích và nhân dân Mỹ đối với các cơ quan công quyền. Thêm nữa, đây là một
cơ chế quan trọng thể hiện được tính dân chủ rất lớn mà qua đó các cơng đồn
Mỹ có thể phản ánh trực tiếp những ý tưởng, nguyện vọng, nhu cầu và quan
điểm của mình tới các vị quan chức được bầu.
Có thể nói, VĐHL ở Hoa Kỳ mang tính đại diện cao – nó mang đầy đủ
những dấu hiệu, đặc trưng tiêu biểu cho hoạt động VĐHL ở các nước phát
triển. Ở đó, những mặt tích cực cũng như các mặt tiêu cực của VĐHL được
bộc lộ một cách rõ rệt. Nghiên cứu về VĐHLở Mỹ không những giúp chúng
ta hiểu về một hoạt động tiêu biểu đặc trưng cho sự chia sẻ quyền lực nhà
nước và xã hội ở một quốc gia đơn lẻ mà cịn có thể suy rộng ra được đối với

1


các nước tư bản phát triển khác: Anh, Pháp, Italia, Canada … Hơn nữa, nó

cịn là cơ sở để chúng ta nâng cao hiệu quả trong quan hệ kinh tế - chính trị
với Mỹ, cũng như các nước tư bản khác.
Để nâng cao nhận thức và hiểu biết bản chất của “Vận động hành
lang” nên em đã chọn vấn đề “Thực trạng vận động hành lang trong nền
chính trị Mỹ” để làm tiểu luận kết thúc mơn học của mình.

2


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VẬN ĐỘNG HÀNH LANG
1.1. Khái niệm vận động hành lang
Có thể nói, về mặt thuật ngữ, vận động hành lang (VĐHL) hiện nay
khơng cịn xa lạ với giới nghiên cứu cũng như công chúng ở nhiều nước trên
thế giới. Tuy nhiên , hiện nay chưa có một sự thống nhất chung về khái niệm
VĐHL, nói cách khác, có rất nhiều cách hiểu về VĐHL tùy theo góc độ tiếp
cận cụ thể.
Ở Mỹ, Vận động hành lang (Lobby) được hiểu là sự vận động (hay vận
động hành lang) các nghị sĩ, dân biểu trong Quốc hội Mỹ để họ đưa ra hay
ủng hộ các đạo luật, các nghị quyết, các quyết định mang tính chính sách có
lợi cho các “nhóm lợi ích” khác nhau. Theo đạo luật của bang Washington,
vận động hành lang là “cố gắng ảnh hưởng đến việc thông qua hoặc bãi bỏ bất
kỳ dự thảo luật nào của cơ quan lập pháp của bang Washington hay sự chấp
nhận hoặc chối bỏ bất kỳ luật lệ, tiêu chuẩn, thuế địa phương hay văn bản của
bất kỳ cơ quan chính quyền nào theo Đạo luật thủ tục hành chính nhà nước”.
Cũng theo luật pháp của bang này, dự thảo luật có nghĩa là các dự thảo luật,
các nghị quyết, những bản kiến nghị, những bản sửa đổi, những sự bổ nhiệm
và những vấn đề khác chưa quyết định hoặc được đề xuất trong cả hai viện
của cơ quan lập pháp, bao gồm bất kỳ vấn đề gì có thể là đối tượng hành động
của cả hai viện hay bất kỳ ủy ban nào của Nghị viện và tất cả những dự thảo

luật và những nghị quyết mà cả hai viện thông qua nhưng đang chờ Thống
đốc bang phê chuẩn.
Trên thực tế đã có rất nhiều các quan niệm, khái niệm khác nhau xoay
quanh vận động hành lang, người vận động hành lang và tác dụng của vận
động hành lang… Đã có rất nhiều các quan niệm hiểu vận động hành lang
không chỉ là hoạt động theo nghĩa hẹp, nghĩa là chỉ vận động hành lang ở
trong tồ nhà Quốc hội hay chính quyền nữa mà hoạt động này còn được hiểu

3


theo nghĩa rộng, theo đó lobby cịn là q trình vận động của một quốc gia
(Chính phủ, phi Chính phủ) nhằm tác động vào q trình làm luật, làm chính
sách hay ra quyết định để tạo thuận lợi cho quốc gia đó về nhiều mặt như:
chính trị, kinh tế, an ninh…Quốc gia nào có lợi ích thì đều tiến hành vận
động. Tuy nhiên, khơng chỉ ở nghĩa tích cực vận động hành lang còn được
hiểu theo nghĩa tiêu cực, làm ảnh hưởng đến q trình ban hành chính sách
của quốc hội, chính phủ… Cho nên, vận động hành lang phải được tiếp cận từ
nhiều góc độ để thấy rõ được sự tác động của nó đến việc hoạch định và thực
thi chính sách ở nước ta hiện nay:
Theo từ điển: Vận động hành lang (lobby) được giải nghĩa là:
+ Lobby (danh từ): Hành lang ở Nghị viện (a lobby politician: Người
hoạt động chính trị ở hành lang hoặc người hoạt động chính trị ở hậu trường).
+ Lobby (động từ): Vận động hành lang (đây là hoạt động vận động
ngoài hành lang nhằm tranh thủ phiếu bầu của các nghị sĩ trọng Nghị viện)
VĐHL là cố gắng gây ảnh hưởng đến suy nghĩ của những nhà lập pháp hay
các quan chức chính quyền khác để ủng hộ hay phản đối một vấn đề cụ thể,
như VĐHL để bảo vệ môi trường tốt hơn, VĐHL chống lại sự gia tăng củ vũ
khí hạt nhân.
Ngày nay VĐHL được hiểu là những hoạt động hậu trường thường thấy

ở nhiều nước trên thế giới. Qua hoạt động này, những nhà vận động có thể tác
động trực tiếp hoặc gián tiếp tới những thành viên của cơ quan lập pháp,
thuyết phục họ thực hiện hoặc không thực hiện hành vi lập pháp mới để đạt
được kết quả như những người VĐHL mong muốn. Còn đối với người Mỹ,
VĐHL được hiểu với nghĩa rộng hơn như là hầu hết những nỗ lực nhằm ảnh
hưởng đến chính sách cơng, khơng chỉ giới hạn trong chính phủ mà cịn giữa
các nhóm khác nhau với cơng chúng.
Tóm lại, VĐHL được hiểu là những hoạt động có tính hệ thống nhằm
tiếp cận, thuyết phục, gây ảnh hưởng, tác động đến quá trình ra quyết định
của cơ quan lập pháp, hành pháp, các nghị sĩ quan chức và những người có

4


thẩm quyền khát trong bộ máy nhà nước để ủng hộ hay khơng ủng hộ chính
sách, dự luật, chương trình, kế hoạch, hợp đồng, chứng chỉ, sự đề cử, bổ
nhiệm hoặc một vấn đề nào đó vì lợi ích của cộng đồng, các nhóm lợi ích
hoặc cá nhân.
1.2. Vai trị của vận động hành lang
Hoạt động vận động hành lang là q trình kiến nghị đến chính quyền
để gây ảnh hưởng đến việc ra chính sách, quyết định. Vận động hành lang
theo đúng nghĩa được ghi nhận trong các văn bản pháp luật có mục đích rất
trong sáng và có vai trị, tác dụng tích cực đến hoạt động của chính quyền nói
chung và cụ thể là q trình hoạch định chính sách nói riêng. Vai trị của vận
động hành lang thể hiện ở các điểm sau đây:
- Thứ nhất, vận động hành lang là một bộ phận chính đáng, hợp pháp
của thiết chế dân chủ. Quyền kiến nghị của nhân dân đối với chính quyền đã
từng được ghi nhận trong Hiến chương Magna Carta (1215) của nước Anh,
trong rất nhiều các hiệp ước liên quan đến lãnh thổ thuộc địa Mỹ, trong Tuyên
ngôn độc lập của nước Mỹ và trong các hiến pháp của bang và Liên bang Mỹ

thời kỳ hậu cách mạng, bao gồm cả Bản Tuyên ngôn nhân quyền. Đây chính
là cơ sở để hoạt động vận động hành lang dần được thừa nhận và ngày càng
phát triển (đặc biệt là ở Mỹ và EU) như là một phần chính đáng, hợp pháp của
thiết chế dân chủ bất kể nó do cá nhân cơng dân hay do các nhóm lợi ích tiến
hành. Ở Mỹ, sự tham gia của cơng dân vào chính trị nói chung và q trình ra
quyết định nói riêng là một trong những đặc trưng của hệ thống chính trị
truyền thống Mỹ. Trên thực tế, vận động hành lang ở Mỹ đã và đang là một
vấn đề mang tính chính trị - pháp lý - xã hội, có tác động mạnh mẽ đến Quốc
hội và Chính phủ Mỹ trong tất cả các cơng đoạn của q trình xây dựng pháp
luật và hình thành chính sách đối nội, đối ngoại. Sự có mặt hoạt động vận
động hành lang trong tất cả các công đoạn của q trình hình thành chính sách
khơng chỉ thể hiện lợi ích tự thân của các tổ chức vận động hành lang mà cịn
là nhu cầu chính đáng của chính quyền, các nhà hoạt động chính sách. Bởi lẽ,

5


trong mối quan hệ với Quốc hội và Chính phủ, vận động hành lang đồng thời
là sự phản ánh, giám sát, kiềm chế, đối trọng của các nhóm lợi ích và nhân
dân đối với các cơ quan công quyền. Hơn thế nữa, vận động hành lang mang
đến cho người có thẩm quyền cái nhìn tồn diện, đa chiều với đầy đủ thông
tin, chứng cứ cũng như ý kiến, kiến nghị của cử tri và xã hội về vấn đề đang
được xem xét, quyết định. Nếu các nghị sĩ muốn được tái cử trong nhiệm kỳ
tới thì việc làm hài lịng cử tri là trách nhiệm lớn nhất đối với họ. Để thực
hiện trách nhiệm này, nghị sĩ không chỉ đơn thuần chứng minh sự mẫn cán
của mình tại nghị trường hoặc tại đơn vị bầu cử mà cịn thơng qua lá phiếu
hoặc tham luận bày tỏ quan điểm, phản ánh những mối quan tâm của cử tri
hoặc phải biết cách giải thích thỏa đáng cho cử tri về một hành động bỏ phiếu
bất thường nào đó của mình. Mặc dù các nghị sĩ phải chịu sự chỉ đạo của các
nhóm đảng phái trong Hạ viện và Thượng viện khi bỏ phiếu, song họ vẫn

phải dành sự quan tâm đáng kể đến ý kiến của công luận và của cử tri tại các
quận hay bang của mình. Nếu một nghị sĩ nhận được yêu cầu của một số
lượng đáng kể cử tri về một vấn đề nào đó, trong lúc ban lãnh đạo đảng yêu
cầu vị này phải bỏ phiếu khác đi, thì tiếng nói của cử tri thường chi phối kết
quả bỏ phiếu cuối cùng. Do đó, về bản chất, vận động hành lang là sự chia sẻ
quyền lực giữa Nhà nước và xã hội. Sự thừa nhận về mặt pháp lý của vận
động hành lang cũng là sự minh hoạ cụ thể về tính đại diện của Quốc hội Mỹ.
- Thứ hai, vận động hành lang giúp cho các ý nguyện của cử tri đến
được với chính quyền, mà cụ thể là cơ quan lập pháp, một cách nhanh chóng,
rõ ràng, hiệu quả nhất. Theo quy định của pháp luật, bất kỳ công dân, tổ chức
hoặc công ty nào đều có thể đề đạt ý nguyện của mình lên Quốc hội. Tuy
nhiên, thật là không thực tế nếu yêu cầu một vị dân biểu, một nghị sỹ hay các
nhân viên của họ dành thời giờ để nói chuyện với từng cử tri từng tổ chức
hoặc đoàn thể hiện diện trong đơn vị bầu cử của họ. Hơn nữa, không phải cử
tri nào cũng có khả năng chuyển tải đến nghị sĩ những thơng điệp rõ ràng,
chính xác, ngắn gọn và đi thẳng vào nội dung, mục đích cần đạt tới nhằm thu

6


hút sự chú ý của họ. Vì vậy, các tổ chức, cơng ty hay các nhóm cử tri có cùng
lợi ích phải nhờ đến các nhà vận động hành lang. Đây là những người ít
nhiều gắn bó với hoạt động ở nghị trường, có thể dành thời gian để tiếp xúc,
tác động đến các nghị sĩ, có các mối quan hệ cũng như kinh nghiệm trong
việc vận động các chính khách. Một chuyên gia vận động hành lang có thể
nói thay cho nhiều người khi trình bày các quan điểm chính sách trước Quốc
hội. Chuyên gia vận động hành lang cũng biết sẽ phải chuẩn bị nội dung
thông điệp như thế nào, thơng qua các phương thức gì để có thể gây sức ép
hay tác động có hiệu quả đến các nghị sĩ. Đây chính là cách biến bức xúc của
cơng chúng, của cử tri thành bức xúc của chính quyền để tranh thủ sự ủng hộ

của chính quyền đối với những vấn đề mà cử tri quan tâm.
- Thứ ba, vận động hành lang giúp mang những vấn đề quan trọng đến
với bàn họp của Nghị viện, góp phần làm cho quá trình quyết định thêm minh
bạch, dân chủ. Nhờ vào tính chun nghiệp hóa của hoạt động lobby, những
vấn đề của các nhóm lợi ích trong xã hội, bất kể đó là nhóm đa số hay thiểu
số, đại diện cho các lợi ích phổ thơng hay chỉ là những lợi ích riêng lẻ trong
xã hội đều có thể được phản ảnh một cách rõ ràng, chính xác đến tai các nhà
lập pháp. Các cơ quan có thẩm quyền khơng thể hồn tồn tự do trong việc
hoạch định chính sách mà họ còn phải chịu nhiều áp lực từ các nhóm lợi ích
trong xã hội. Và vì vậy, vận động hành lang trở thành một trong những cầu
nối, là kênh liên lạc giữa các nhóm cơng chúng mà nó đại diện với chính
quyền; đồng thời làm cho q trình ra quyết định thêm minh bạch hơn.
1.3. Nguồn gốc vận động hành lang
Vận động hành lang đã xuất hiện từ xa xưa, và có một trường hợp nói
rằng vận động hành lang là một trong những việc làm chuyên nghiệp lâu đời
nhất trên thế giới.
Tòa án của những người Hy Lạp và Ro-ma ln có những nhà vận
động hành lang thời xưa hay lui tới, đó là những người tìm kiếm sự đồng
thuận của thượng nghị sĩ và những người bình dân La Mã để thuận theo hoặc

7


phản đối lại những vấn đề này sinh thời gian ấy. Cung điện của nhà Vua và
các hoàng tử thường chật ních các cận thần, chính những cận thần này là
người làm nhiệm vụ vận động hành lang thời ấy. Nếu những nhà tư bản
không làm công tác vận động vua King John, và ơng khơng kí vào
bản hiến chương Magna Carta tại Runnymede, thì chế độ dân chủ của Vương
Quốc Anh có lẽ sẽ phát triển theo hướng khác.
Người ta vẫn tranh cãi về nguồn gốc thực sự của vận động hành lang

như một thuật ngữ, như một cấu trúc kinh doanh hay đối ngược lại là một
hoạt động mềm dẻo. Những vấn đề trước mắt vẫn sẽ còn gây tranh cãi là
những nguồn gốc này nẳm ở cả Weatminster hoặc Washington. Từng có bản
ghi lại rằng nguồn gốc của thuật ngữ này ra đời tại Washington vào những
năm 60 của thế kỉ XIX. Những người muốn lấy được sự ảnh hưởng của tổng
thống Ulysses S Grant thường nhóm họp tại hành lang của khách sạn Willard
và cố tìm cách thu hút sự chú ý của ngài để ngài chú ý tới một số lĩnh vực đặc
biệt. Thế kỉ XIX, vận động hành lang ở Washington đã phát triển đến mức mà
được cho là tiền thân của ngành vận động hành lang hiện nay. Các thượng
nghị sĩ cũng như hạ viện sĩ khơng chỉ hài lịng với những nhà vận động hành
lang mà cịn được họ cung cấp thơng tin một cách ngắn gọn chi tiết về các
vấn đề diễn ra trong thời điểm đó. Những người sẽ xuất hiện trước Ủy ban
Quốc hội được cung cấp cho các mối quan hệ, soạn thảo trước bài nói, và tập
luyện. Cho đến đầu thế kỷ XIX, cùng với việc Quốc hội Mỹ cho phép công
dân tiếp xúc với các nghị sĩ để vận động họ ủng hộ hoặc không ủng hộ đối
với những chính sách, dự luật sẽ hoặc đang được xem xét tại Nghị viện, hoạt
động vận động hành lang bắt đầu được thừa nhận rộng rãi. Từ đó đã hình
thành một lớp người hoặc tổ chức chuyên nghiệp giữ vai trò trung gian, làm
nhiệm vụ “con thoi” giữa cử tri hoặc các nhóm lợi ích với các nghị sĩ nhằm
tác động đến những chính sách, dự luật. Những người này được gọi là các
nhà vận động hành lang (lobbyist). Họ hoạt động với mục đích trong sáng và
được ghi nhận trong Hiến pháp. Bằng các cuộc gặp gỡ chính thức hoặc

8


khơng chính thức, viết thư, kiến nghị, gọi điện thoại,… nhà vận động hành
lang tham gia vào quá trình hình thành các quyết định của nghị sĩ để họ đưa
ra quyết định hoặc ban hành chính sách tốt hơn cho người hoặc nhóm lợi
ích mà mình đại diện. Tuy nhiên, do hoạt động vận động hành lang thường

gắn với những cuộc tiếp xúc cá nhân nên dần dần hoạt động này đã bị biến
tướng. Trong khơng ít trường hợp, vận động hành lang được miêu tả như
một con “quái vật”, tìm mọi cách luồn lách vào các phịng, ban, hành lang
nghị viện để làm lũng đoạn Quốc hội. Trước tình trạng đó, Quốc hội Mỹ đã
ban hành nhiều đạo luật để đưa hoạt động vận động hành lang vào khuôn
khổ như Luật đăng ký đại diện nước ngoài năm 1938, Luật liên bang về hoạt
động vận động hành lang năm 1946, Luật về công khai hoạt động vận
động hành lang năm 1995. Theo quy định của các luật này thì mọi cá
nhân, tổ chức vận động hành lang phải đăng ký hoạt động với Tổng thư ký
Thượng viện và Hạ viện, phải công khai danh sách khách hàng, công khai
các cuộc tiếp xúc và tiền công được chi trả,... Hoạt động vận động
hành lang ở Quốc hội Mỹ do vậy đã có khn khổ hơn, trở thành phổ biến
và được chấp nhận như một nghề tất yếu trong đời sống chính trị. Chính vì
vậy, Mỹ đã tun bố chắc nịch rằng Mỹ chính là cái nơi sinh ra ngành vận
động hanh lang, tuy nhiên, cũng có một lối nghĩ tơn trọng bản chất của thuật
ngữ vận động hành lang cho rằng nguồn gốc của nó là ở Westminster và
khơng thể không kể đến Members’Lobby hay hành lang trung tâm của
điện Westminster. Lập luận này được hình thành năm 1854, vì vậy lời tuyen
bố này có thể có giá trị, do vậy vận động hành lang được coi là sinh ra ở
Westminster chứ không phải ở Willard Hotel. Dù thuật ngữ này có được
hình thành ở đâu, nhưng khơng ai phủ nhận được rằng việc vận động hành
lang thương mại có tổ chức có nguồn gốc tử Mỹ.
Tại nhiều Nghị viện khác trên thế giới, nghề vận động hành lang cũng
được thừa nhận rộng rãi, điển hình như vận động hành lang ở Nghị viện Châu
Âu. Phụ lục 9 của quy tắc về thủ tục làm việc của Nghị viện châu Âu quy

9


định 10 điểm về vận động hành lang. Theo đó, nhà vận động hành lang được

cấp giấy phép ra vào khu vực làm việc của Nghị viện để cung cấp thơng tin
cho các nghị sĩ nhằm đạt lợi ích riêng của họ hoặc cho bên thứ ba. Nhà vận
động hành lang phải tuyệt đối tuân thủ đạo đức và tiêu chuẩn đối với nhà vận
động hành lang, không được lấy thông tin bằng bất cứ hành động không trung
thực nào, khơng được tun bố là có quan hệ chính thức với Nghị viện khi
làm việc với bên thứ ba và phải cơng khai các hoạt động có trả tiền cơng. Các
nghị sĩ cũng phải làm bản công bố chi tiết các hoạt động nghề nghiệp và
không được nhận bất cứ quà biếu hay tiền trong khi thi hành nhiệm vụ. Hiện
nay, người ta ước tính hàng năm có khoảng 70.000 cuộc liên lạc cá nhân giữa
các thành viên Nghị viện Châu Âu và các nhóm lợi ích. Vào năm 2000,
khoảng 2.600 nhóm lợi ích đặt văn phịng thường trực tại Brussels nhằm tác
động đến quy trình ra quyết định của Nghị viện; trong đó, các Liên đồn
thương mại châu Âu chiếm khoảng 1/3, cố vấn thương mại chiếm khoảng 1/5,
các cơng ty, tổ chức phi chính phủ châu Âu chiếm khoảng 10%, đại diện khu
vực và tổ chức quốc tế chiếm khoảng 5% và cuối cùng là nhóm chuyên gia cố
vấn chiếm 1%.
Đặc biệt tại Anh ngay từ thập kỉ 60 và chủ yếu là ở thập kỉ 70 của thế
kỉ XX, hoạt động vận động hành lang ở Anh phần lớn là hoạt động rời rạc và
không được kiểm soát. Năm 1979, đối thủ của Margaret Thatcher dường
như là dấu hiện của sự nổi lên của ngành vận động hành lang và để phô
trương mối quan hệ của họ và ảnh hưởng của họ với bộ máy chính phủ.
Những công ty như Ian Greer Associates và PR+CI (nơi mà tác giả đã từng
làm việc trong thập kỉ 80 của thế kỉ 20) luôn nhấn mạnh về những mối quan
hệ bền vững của họ với quan chức của Đảng bảo thủ. Cịn những cơng ty
khác như Gifford Jeger Weeks (GJW) có nhiều mối quan hệ với đa Đảng.
Theo đó, mà ngành vận động hành lang thành công rộng rãi, và hứa hẹn môt
sự phát triển sâu rộng trong tương lai sắp tới.

10



Bên cạnh đó, cũng có nước từ chối vận động hành lang vì bắt nguồn từ
nhận thức khơng thực tế về dân chủ. Luật Le Chapelier của Pháp ngày 14
tháng 6 năm 1791 cấm các nhóm lợi ích tham gia vào diễn đàn chính trị.
Quan hệ giữa Nhà nước và cơng dân phải là quan hệ trực tiếp và nó khơng
được các tập đồn tư nhân trung gian xen vào. Chính vì vậy, pháp luật của
Pháp cho đến nay vẫn có thể thấy sự thiếu coi trọng các nhóm lợi ích. Điều
3 của Hiến pháp năm 1958 quy định: “Chủ quyền quốc gia thuộc về nhân dân
thông qua các đại biểu hoặc nghị viên và trưng cầu ý dân. Không bộ phận
người dân hay cá nhân nào được chiếm lấy”.
Tóm lại, Dù được thừa nhận hay khơng thì vận động hành lang vẫn
là một thực tế không thể thiếu trong đời sống chính trị, nó phát triển “đồng
hành” cùng với sự phát triển của hệ thống chính trị tại mỗi quốc gia.

11


Chương 2
THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG VẬN ĐỘNG HÀNH LANG TRONG
NỀN CHÍNH TRỊ MỸ
2.1. Cơ sở hình thành hoạt động vận động hành lang
2.1.1. Cơ sở chính trị pháp - pháp lý
Nghiên cứu cơ sở chính trị Mỹ là nghiên cứu thể chế liêng bang Mỹ,
Hiến pháp Mỹ; các tổ chức chính trị ở Mỹ tham gia vào q trình thể chế hóa
và quản lý xã hội Mỹ, đồng thời cũng phải tìm hiểu kỹ việc xây dựng các định
chế, thiết chế trong xã hội Mỹ, những hoạt động chính trị chủ yếu của tất cả
các tổ chức chính trị Mỹ.
Hiến pháp Mỹ có hiệu lực từ tháng 6 năm 1788, đánh dấu chính thức sự
ra đời của hệ chính trị Mỹ. Hiến pháp đã quy định nguyên tắc và xác định giới
hạn quyền lực cho hoạt động chính trị của tồn bộ hệ thống chính trị. Đó là

phân chia quyền lực; kiềm chế và đối trọng; chế độ liêng bang; chính phủ hạn
chế và xét duyệt tư pháp.
Phân chia quyền lực, kiềm chế - đối trọng là hai nguyên tắc quan trọng
nhất của Hiến pháp Mỹ. Theo đó bọ máy nhà nước chia thành ba nhánh: lập
pháp, hành pháp và tư pháp.
Ngành lập pháp Mỹ bao gồm hai hệ thống cơ quan lập pháp của Liên
bang và của các bang. Hệ thống lập pháp Liên bang chỉ bao gồm cơ quan duy
nhất, đó là Quốc hội Liên bang. Hệ thống lập pháp ở các bang gồm cơ quan
lập pháp bang và hội đồng địa phương. Quốc hội Mỹ có quyền lực rất lớn như
quyền ra luật, quyền giám sát các nhánh quyền lực và các tổ chức chính trị
khác trong việc thi hành luật pháp, kiềm chế quyền lực, phục vụ cử tri… Đó
chính là cơ sở cho sự ra đời của hoạt động VĐHL. VĐHL ban đầu chỉ giới
hạn ở cơ quan lập pháp - nghị viện, tác động tới việc ban hành các đạo luật.
Ngành hành pháp có nhiệm vụ thi hành luật, quyền tối cao được trao
cho Tổng thống. Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia, đứng đầu bộ máy

12


hành pháp, vừa là tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, là người có quyền lực
duy nhất và khơng chia sẻ với bất kỳ ai trong việc quản lý đất nước. Dưới
Tổng thống là các Bộ, các Ủy ban điều hành độc lập, Văn phòng điều hành
của Tổng thống và Nội các. Tổng thống có những quyền hạn cụ thể như: bổ
nhiệm các quan chức cao cấp của ngành hành pháp và lãnh đạo hoạt động
hành pháp, thực hiện kiềm chế và đối trọng, đề cử bổ nhiệm tất cả các thẩm
phán tòa án liên bang, đưa ra các sáng kiến luật pháp v.v.. Với bộ máy nhà
nước trao quyền lực to lớn cho Tổng thống như vậy, hoaatj động VĐHL ở Mỹ
hướng trực tiếp vào việc hoạch định và thực thi chính sách của Chính phủ liên
quan đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt hướng vào thẩm quyền
đưa ra các sáng kiến luật và bổ nhiệm các quan chức của Tổng thống.

Ngành tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật thông qua
hoạt động xét xử mọi hành vi vi phạm Hiến pháp và pháp luật, yhuwcj hiện
kiềm chế và đối trọng hai nhánh quyền lực khác, đồng thời nó cịn giải thích
Hiên pháp và pháp luật phục vụ quản lý xã hội. Hoạt động VĐHL tư pháp
diễn ra và đạc kết quả tích cực, mặc dù tính chất, mức độ của nó khơng bằng
VĐHL Quốc hội, Chính phủ.
Hệ thống chính trị Mỹ là hệ thống đa đảng nhưng lịch sử chính trị Mỹ
lại ln ln chứng kiến sự thay nhau cầm quyền của hai đảng lớn, đó là
Đảng Cộng hịa và Đảng Dân chủ.Tổ chức bộ máy của đảng hết sức lỏng lẻo.
Nhìn bề ngồi, dường như hoạt động VĐHL làm suy yếu vai trị của các đảng
chính trị, song, thực chất, chính hoạt động VĐHL lại củng cố thêm địa vị,
quyền lực của của các đảng chính trị. VĐHL giúp cho các đảng gây quỹ
trong quá trình tranh cử và là phương thức hữu hiệu của các đảng chính trị
trong bầu cử.
Các nhóm lợi ích hoạt động rất năng động và có vai trị quan trọng
trong đời sống chính trị Mỹ. Hiện nay, có khoảng 60% dân Mỹ tham gia các
nhóm lợi ích. Hoạt động của các nhóm lợi ích có phạm vi rất rộng lớn, chúng
tham gia VĐHL vào mọi hình thức và tất cả các gia đoạn của hoạt động chính

13


trị. Điều này diễn ra là do tính chất của hệ thống quyền lực chính trị ở Mỹ,
khơng có một nhóm quyền lực nào có quyền lực tuyệt đối, các nhánh quyền
lực kiềm chế lẫn nhau, khiến cho các nhóm lợi ích có thể tác động đến các
khâu, các giai đoạn hình thành và thực thi chính sách.
2.1.2. Cơ sở kinh tế
Ngay từ những ngày đầu còn là thuộc địa của Anh, nền kinh tế Mỹ đã
chứa đựng những mầm mống của nền kinh btees tư bản chủ nghĩa, các nhà tư
sản của 13 bang thuộc địa ra đời. Thời kỳ này, các nhóm lợi ích có tính kinh

tế cũng ra đời, các nhóm này chủ yếu phục vụ cho lợi ích của các nhà tư sản
của 13 bang thuộc địa, đã kết cấu với các nhà tư sản Anh quốc để VĐHL
nhằm đạt được những lợi ích kinh tế nhất định.
Trong thời kỳ đầu của nền Cộng hòa, nền kinh tế Mỹ phát triển nhanh
chóng, các tập đồn và tơrơt công nghiệp quy mô lớn được ra đời. Hoạt động
VĐHL thời kỳ này chủ yếu do các tập đoàn kinh tế này thực hiện.
Ngày nay, Mỹ là siêu cường kinh tế số một thế giới. Một khi nền kinh
tế phình to, những vấn đề phát sinh từ lý do kinh tế càng lớn. Một mặt sự ra
đời của các thết chế mới như internet, thương mại điện tử và tự động làm xuất
hiện nhu cầu cập nhật chính sách cơng để khơng bị lỗi thời, kéo theo đó là sự
xuất hiện của loại hình VĐHL mới là VĐHL bằng phương tiện điện tử. Mặt
khác mâu thuẫn ngày càng trở nên đa dạng hơn. Quan hệ giữa người vay nợ
và mượn nợ, giữa người bán và người mua, doanh nghiệp này với doanh
nghiệp khác, doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ khiến đa số các hoạt
động VĐHL dần dần tập trung cho vấn đề kinh tế.
2.1.3. Cơ sở văn hóa - xã hội
Mỹ là quốc gia đa sắc tộc, đa tôn giáo, đa thành phần dân cư với nhiều
nền văn hóa khác nhau. Năm 2005, dân số Mỹ là hơn 300 triệu người. Thành
phần dân cư tương đối phức tạp, trong đó: người da trắng chiếm 84% dân số,
người da đen chiếm 12,4% dân số và khoản 4% các dân tộc da màu khác. Đa
số dân Mỹ tin theo các tơn giáo, trong đó: Tin lành 61%, Thiên chúa giáo

14


25%, Do Thái 5%..., chỉ có 7% dân số vơ thần. Tuy nhiên, văn hóa Mỹ lại là
một chỉnh thể khá đồng nhất trên những giá trị chủ đạo: chủ nghĩa các nhân
thể hiện ở chỗ mỗi người, nhóm người tự nguyện gia nhập cộng đồng nhưng
không từ bỏ các tính và quyền lựa chọn tự do, biểu hiện cá tính của mình.
Chủ nghĩa cá nhân đi kèm với đa nguyên: tất cả các tư tưởng, khuynh hướng

đều có thể được thể hiện và thực hiện, đảm bảo chon các cá nhân cơng dân,
nhóm hay địa phương. Các bộ phận nhân dân, tôn giáo, địa phương… đều
phải được tôn trọng. Tính chất địa phương rất mạnh, vì vậy hoạt động vận
động ở cấp bang thường mạnh hơn ở cấp liên bang. Niềm tin về sự tự do
trong hoạt động chính trị: Người Mỹ thường tin là “hệ thống chính trị dân
chủ” của họ là trên hết, vì nó mang lại cho mọi công dân quyền và cơ hội để
cố gắng gây ảnh hưởng đến chính sách của chính phủ, vì nó bảo vệ cơng dân
khỏi chịu những hành động độc đốn của chính quyền.
Do đó, người Mỹ ln muốn và sẵn sang tự do bày tỏ chính kiến của
mình, tác động tới q trình hoạch định và thực thi chính sách quốc gia. Sự
cạnh tranh cũng là một giá trị của văn hóa Mỹ có tác động rất lớn tới nền
chính trị nói chung và hoạt động VĐHL nói riêng.
Trên những cơ sở chính trị - pháp lý, kinh tế, văn hóa - xã hội như vậy,
hoạt động VĐHL đã được ra đời rất sớm ở Mỹ, tồn tại và phát triển cho đến
ngày nay.
2.2. Thực trạng vận động hành lang trong nền chính trị Mỹ
Vận động hành lang là một từ rất phổ biến trong đời sống chính trị Mỹ,
đã được thể chế hoá và gắn liền với hoạt động của các nhóm lợi ích - hay
nhóm gây áp lực. Một khi đã đắc cử vào các cơ quan lập pháp hay hành pháp
các cấp từ liên bang đến bang và địa phương, thì những thành viên Quốc hội
và quan chức nhà nước sẽ bị cả một đạo quân “lobby” đơng đảo bao vây và
chiếu cố tận tình. Các nhóm lợi ích thường gây ảnh hưởng mạnh tới các cơ
quan làm luật ở cả cấp bang và liên bang, nhưng hoạt động của các nhóm lợi
ích ở cấp bang mạnh hơn cấp liên bang. Các nhóm này vận động để thông qua
hoặc bác bỏ các dự luật ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. Do tính chất của hệ
15


thống chính trị Mỹ, khơng có một nhánh quyền lực nào có quyền lực tuyệt
đối, các nhánh kiềm chế quyền lực lẫn nhau, khiến cho các nhóm lợi ích có

thể tác động đến hoạt động lập pháp hay hoạt động hành chính của chính
quyền về các khâu, các giai đoạn của q trình làm luật và chính sách. Các
nhóm này hoạt động trên phạm vi rộng lớn, tham gia làm lobby vào mọi loại
hình và trong tất cả các giai đoạn của hoạt động chính trị. Những đối tượng
cần đến các nhóm vận động là các tổ chức chính trị, các cơng ty, chính quyền
tiểu bang, chính quyền nước ngồi và nhiều nhóm khác…
Về mặt lý thuyết và nguyên tắc, vận động hành lang là nhằm làm cho
hệ thống làm luật và thi hành luật đáp ứng lợi ích của người tiến hành vận
động hành lang. Các hoạt động vận động hành lang được tiến hành theo quy
trình: các nhóm vận động hành lang Quốc hội phải đăng ký vào cơ sở dữ liệu
trung ương và sau đó những người làm lobby tham gia một phiên họp điều
trần của các nhà lập pháp để nghe báo cáo, những chất vấn chính thức và
khơng chính thức với các quan chức nhà nước được bầu hay bổ nhiệm. Sau
đó, họ gửi những kết quả nghiên cứu hay thông tin kỹ thuật tới các quan chức
có liên quan, tìm cách quảng bá một chủ đề, soạn thảo những dự luật có khả
năng được đệ trình, tổ chức chiến dịch viết thư gửi các nhà làm luật… Các
nghị sĩ Quốc hội sau khi tiếp xúc với những người làm lobby có thể đệ trình
các dự luật theo yêu cầu của họ. Và để hoạt động vận động hành lang thu
được hiệu quả, một nhà vận động phải hiểu rõ hệ thống chính trị Mỹ, phải có
quan hệ tốt với các nhà làm luật và các nhà hoạch định chính sách của Chính
phủ, những nhà tư vấn trong Quốc hội. Chính vì vậy mà có rất nhiều nhà vận
động hành lang giỏi lại chính là các cựu quan chức của Chính phủ, những nhà
tư vấn trong Quốc hội. Khơng ai khác, họ là người có nhiều kinh nghiệm và
xây dựng được nhiều mối quan hệ sau nhiều năm làm việc và cơng tác. Ví dụ
điển hình là cựu Nghị sĩ Mỹ Bob Livingston đã trở thành một nhà vận động
hành

lang

thành


cơng

sau khi rời khỏi chính trường. Chỉ trong vịng 6 năm, nhóm lobby do ơng

16


thành lập đã phát triển thành 1 trong 12 công ty lobby lớn nhất, với doanh thu
gần 40 triệu USD tính tới cuối năm 2004. Những năm gần đây, khơng chỉ có
những nhóm lợi ích th các nhà vận động hành lang để tiến hành vận động
cho mình mà ngay cả Chính phủ và các cơng ty nước ngồi cũng tìm sự vận
động theo hướng này. Những nhà vận động hành lang được coi là nhịp cầu
nối giữa các nhóm lợi ích và các nhà chính trị, các nhà làm luật và hoạt động
chính sách. Hoạt động của họ vừa có tính thuyết phục các nhà làm luật, vừa
tạo điều kiện để họ hiểu được quan điểm của các nhóm lợi ích.
Người dân Hoa Kỳ, các nhóm lợi ích cần các chuyên gia lobby để có
thể nhận được sự chú ý nhiều hơn đối với các lợi ích và mong muốn của mình
từ các cơ quan hành pháp, lập pháp; còn bản thân các nghị sỹ Hoa Kỳ cũng
thấy các chuyên gia lobby thực sự hỗ trợ họ rất nhiều trong việc thông qua các
dự luật và các quyết định quan trọng, bởi tình trạng q tải về cơng việc của
các nghị sỹ Hoa Kỳ trước yêu cầu cần được điều chỉnh của các quan hệ phát
sinh trong xã hội hiện nay. Chính các chuyên gia lobby là người hướng các
nghị sỹ Hoa Kỳ đến gần hơn với những bức xúc của xã hội, người dân và
những chủ thể có quyền lợi liên quan khác. Nhưng mặt khác, điều không thể
phủ nhận là vận động phải có năng lực tài chính để chi trả cho hoạt động điều
tra, thu thập thông tin và tác động. Thực tế hiện nay, tại Mỹ, trong nền chính
trị hiện đại, lobby chính là việc dùng thế lực tiền bạc để vận động và làm áp
lực để Quốc hội hoặc các cơ quan nhà nước hành động theo chiều hướng phục
vụ quyền lợi của các nhóm lợi ích. Ngay cả một số cơ quan Chính phủ trung

ương và địa phương cũng dùng tiền bạc để lobby các nhà lập pháp. Nhưng
đồng tiền khi dính với quyền lực chính trị sẽ dẫn đến nguy cơ bè đảng, cướp
đi cơ hội của những nhóm yếu thế được có tiếng nói trong q trình ra quyết
định. Đây cũng là khe hở để các thế lực tài chính hùng mạnh có thể giành lợi
thế trong các cuộc chạy đua vận động và bóp méo cơng lý. Một số người vận
động hành lang đã lợi dụng cơ chế này để đóng góp tiền cho các chiến dịch
chính trị và dành cho các quan chức được bầu những đặc lợi và tất nhiên toàn

17


bộ những đóng góp này cũng ln ln kèm với kỳ vọng sẽ được đối xử
thuận lợi trong một số vấn đề sau này. Và thực tế, có thể gọi chúng là “của
đút lót tế nhị được nguỵ trang khéo léo”. Cịn về hình thức hoạt động, lobby
khơng phải lúc nào cũng ở trong phòng họp, trên các phiên họp của nghị viện
hay các uỷ ban của nghị viện, mà chủ yếu ở ngoài hành lang và hết sức phong
phú bên ngoài trụ sở nghị viện với các cấp độ khác nhau. Một số những
chuyên viên vận động hành lang có những hành động kèm theo những quà
cáp bất hợp pháp trong lúc đề đạt ý nguyện của khách hàng đến các nhà làm
luật. Những món quà đó có thể là tiền bạc hay những chuyến đi nghỉ, đi chơi
xa thật đắt tiền. Những người làm lobby luôn sẵn sàng để chiều theo sở thích,
ý muốn của những nhân vật quyền thế trong mọi tình huống. Các chuyên gia
lobby cũng bằng nhiều cách khác nhau tự tìm những con đường ngắn nhất và
hiệu quả nhất để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng. Sam Ward, một trong
những người được mệnh danh là “ông vua lobby” của Hoa Kỳ, đã triệt để áp
dụng nguyên tắc: “con đường ngắn nhất để đạt được sự ủng hộ của một nghị
sỹ đối với một dự luật chưa được thông qua là đi qua dạ dày của ơng ta”1
Chính vì những luật lệ về lobby ở Mỹ rất thống nên khơng thể nào liệt
kê hết các phương thức hoạt động của nó. Với khoản tiền thu hàng năm về tới
4 tỷ USD từ các khoản tiền ủng hộ, tài trợ của các nhà đầu tư, có thể nói ưu

thế về tài chính và những vận động “ngoài lề” trong vận động hành lang đã và
đang có ảnh hưởng to lớn tới chính trường Mỹ và cụ thể là tới q trình xây
dựng chính sách và pháp luật nói riêng. Điều nguy hiểm ở đây là sự nhập
nhằng ranh giới giữa việc đầu tư ủng hộ cho các chiến dịch tranh cử với hối
lộ; giữa nhận tiền tài trợ cho quỹ bầu cử với tham nhũng.
Ở Mỹ, những nhóm lobby mạnh nhất là những nhóm đại diện cho lợi
ích kinh doanh của các tập đồn tư bản (chiếm tới 72%): Lobby cơng nghiệp
quốc phịng, Lobby dầu khí, Lobby phục vụ nước ngồi. Chỉ có 8% đại diện
cho các tổ chức xã hội nghề nghiệp, khoảng 5% đại diện cho các nhóm bảo vệ
Nguyễn Tuấn Minh, (2004), “Hệ thống chính trị Mỹ và vận động hành lang”, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay,
(số 11), tr. 43-49.
1

18



×