Tải bản đầy đủ (.docx) (20 trang)

Tiểu luận điều kiện chính trị pháp lý với vận động hành lang ở các nước trên thế giới và thực tiễn ở việt nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (190.44 KB, 20 trang )

TIỂU LUẬN
MƠN: VẬN ĐỘNG HÀNH LANG
Đề tài:

ĐIỀU KIỆN CHÍNH TRỊ - PHÁP LÝ VỚI VẬN ĐỘNG HÀNH
LANG Ở CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
NỘI DUNG.......................................................................................................2
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VẬN ĐỘNG HÀNH LANG....2
1.1. Khái niệm vận động hành lang...................................................................2
1.2. Vai trò của vận động hành lang..................................................................3
1.3. Điều kiện chính trị và pháp lý của vận động hành lang.............................6
Chương 2 THỰC TRẠNG ĐIỀU KIỆN CHÍNH TRỊ VÀ PHÁP LÝ VẬN
ĐỘNG HÀNH LANG Ở CÁC NƯỚC TÂY ÂU VÀ MỘT SỐ KINH
NGHIỆM ÁP DỤNG CHO VIỆT NAM..........................................................8
2.1. Điều kiện chính trị và pháp lý trong vận động hành lang ở các nước Tây
Âu......................................................................................................................8
2.2. Thực trạng và kiến nghị về pháp luật vận động hành lang ở Việt Nam...10
KẾT LUẬN....................................................................................................16
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................18


MỞ ĐẦU
Vận động hành lang là khái niệm khá mới mẻ đối với Việt Nam, nhưng
lại rất phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Tại một số quốc gia, vận động
hành lang vẫn ngày càng trở nên quan trọng và là phần không thể thiếu được


trong các hoạt động chính trị - xã hội, mà đặc biệt là trong các hoạt động nghị
trường của Nghị viện. Vận động hành lang mang đến cho các nghị sĩ cái nhìn
tồn diện, đa chiều với đầy đủ thông tin, chứng cứ cũng như ý kiến, kiến nghị
của cử tri và xã hội về vấn đề đang được Nghị viện xem xét, quyết định để
trên cơ sở đó, đưa ra những quyết định có lợi cho xã hội, cử tri hoặc các nhóm
lợi ích… Chính vì vậy, có thể nói vận động hành lang là hoạt động “hậu
trường”, nhưng có vai trị bổ sung cho q trình hoạch định chính sách của
Nghị viện. Ở Việt Nam, vận động hành lang chưa được chính thức thừa nhận
và cũng chưa có các quy định cụ thể của pháp luật đối với việc tiến hành các
hoạt động loại này. Việc người dân có nhiều ảnh hưởng hơn trong quá trình
xây dựng pháp luật cũng như việc các nhóm lợi ích khác nhau thể hiện chính
kiến và vận động các nhà lập pháp chú ý tới mặt bằng xã hội không đồng đều
để ban hành pháp luật sao cho phù hợp là tiến trình tự nhiên, khơng thể phủ
nhận. Tuy nhiên, xu hướng phát triển hoạt động vận động hành lang ở Việt
Nam nên như thế nào, sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động này đến
đâu... là vấn đề cần được bàn thảo, cân nhắc kỹ, đặc biệt là trong giai đoạn
xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Chính vì vậy, tơi
mạnh dạn chọn Đề tài: “Điều kiện chính trị - pháp lý với vận động hành
lang ở các nước trên thế giới và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay” để làm đề
tài nghiên cứu cho mơn học của mình.

1


NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VẬN ĐỘNG HÀNH LANG
1.1. Khái niệm vận động hành lang
Vận động hành lang (lobby) theo nghĩa đen gốc tiếng Anh, đó là hành

lang rộng của tòa nhà Quốc hội, hoặc là nơi chờ đợi trong tiền sảnh của các
khách sạn hay các tịa nhà lớn. Cịn về nghĩa bóng và được sử dụng rất thơng
dụng, đó là những “hoạt động hậu trường” thường được thấy ở nhiều nước
trên thế giới, nhằm “vận động những người có chức, có quyền để đạt được
những mục đích về kinh tế, chính trị, xã hội,…”1. Những “hoạt động hậu
trường” này gắn liền với đời sống chính trị và có ý nghĩa (tác động, ảnh
hưởng) rất lớn, bổ sung cho q trình xây dựng chính sách và pháp luật ở
những quốc gia này. Vận động hành lang được cho là xuất hiện đầu tiên ở
nước Anh, vào khoảng những năm 1840, nó gắn liền với sự ra đời của nền
dân chủ đại diện. Lobby – được lấy theo tên địa điểm mà hoạt động này diễn
ra đầu tiên trong lịch sử, đó là hành lang của Nghị viện Anh, nơi mà trong
thời gian nghỉ giải lao, các Nghị sĩ thường trao đổi với đồng nghiệp, hoặc các
cử tri tập trung để trình bày ý kiến, kiến nghị với các đại diện của mình.
Vận động hành lang được hiểu là những hoạt động có tính hệ thống
nhằm tiếp cận, thuyết phục, gây ảnh hưởng, tác động đến quá trình ra quyết
định của cơ quan lập pháp, hành pháp, các nghị sĩ, quan chức và những
người có thẩm quyền khác trong bộ máy nhà nước để họ ủng hộ hoặc khơng
ủng hộ chính sách, dự luật, chương trình, kế hoạch, hợp đồng, chứng chỉ, sự
đề cử, bổ nhiệm hoặc một vấn đề nào đó vì lợi ích của cộng đồng, các nhóm
lợi ích hoặc của cá nhân.

Huyền Trang, Việt Hà, Lobby trong nền chính trị Mỹ: Chìa khóa để thành công, đăng
trên: />1

2


Nói một cách đơn giản, vận động hành lang là thuyết phục người được
vận động ban hành chính sách theo ý muốn của người vận động. Vấn đề cần
vận động có thể là một dự luật hoặc đơn giản chỉ để yêu cầu nghị sĩ tiếp xúc

thường xuyên hơn với một nhóm cử tri nào đó. Nói một cách khái qt thì
vận động hành lang là đưa ra chính kiến của một nhóm lợi ích đối với một
chính sách của Nhà nước và tác động để biến đổi chính sách đó theo nhu cầu
của nhóm lợi ích2.
1.2. Vai trị của vận động hành lang
Hoạt động vận động hành lang là q trình kiến nghị đến chính quyền
để gây ảnh hưởng đến việc ra chính sách, quyết định. Vận động hành lang
theo đúng nghĩa được ghi nhận trong các văn bản pháp luật có mục đích rất
trong sáng và có vai trị, tác dụng tích cực đến hoạt động của chính quyền nói
chung và cụ thể là q trình hoạch định chính sách nói riêng. Vai trị của vận
động hành lang thể hiện ở các điểm sau đây:
Thứ nhất, vận động hành lang là một bộ phận chính đáng, hợp pháp của
thiết chế dân chủ. Quyền kiến nghị của nhân dân đối với chính quyền đã từng
được ghi nhận trong Hiến chương Magna Carta (1215) của nước Anh, trong
rất nhiều các hiệp ước liên quan đến lãnh thổ thuộc địa Mỹ, trong Tuyên ngôn
độc lập của nước Mỹ và trong các hiến pháp của bang và Liên bang Mỹ thời
kỳ hậu cách mạng, bao gồm cả Bản Tuyên ngôn nhân quyền. Đây chính là cơ
sở để hoạt động vận động hành lang dần được thừa nhận và ngày càng phát
triển (đặc biệt là ở Mỹ và EU) như là một phần chính đáng, hợp pháp của
thiết chế dân chủ bất kể nó do cá nhân cơng dân hay do các nhóm lợi ích tiến
hành.3 Ở Mỹ, sự tham gia của cơng dân vào chính trị nói chung và q trình ra
quyết định nói riêng là một trong những đặc trưng của hệ thống chính trị
truyền thống Mỹ. Trên thực tế, vận động hành lang ở Mỹ đã và đang là một
vấn đề mang tính chính trị - pháp lý - xã hội, có tác động mạnh mẽ đến Quốc
2
3

Minh Đức, Vận động hành lang trong các nền dân chủ nghị viện
Ủy ban Châu Âu, Sáng kiến minh bạch châu Âu, đệ trình tại Brussels ngày 3 -5 – 2006, COM(2006) 194.


3


hội và Chính phủ Mỹ trong tất cả các cơng đoạn của quá trình xây dựng pháp
luật và hình thành chính sách đối nội, đối ngoại.
Sự có mặt hoạt động vận động hành lang trong tất cả các công đoạn của
q trình hình thành chính sách khơng chỉ thể hiện lợi ích tự thân của các tổ
chức vận động hành lang mà cịn là nhu cầu chính đáng của chính quyền, các
nhà hoạt động chính sách. Bởi lẽ, trong mối quan hệ với Quốc hội và Chính
phủ, vận động hành lang đồng thời là sự phản ánh, giám sát, kiềm chế, đối
trọng của các nhóm lợi ích và nhân dân đối với các cơ quan công quyền. Hơn
thế nữa, vận động hành lang mang đến cho người có thẩm quyền cái nhìn tồn
diện, đa chiều với đầy đủ thơng tin, chứng cứ cũng như ý kiến, kiến nghị của
cử tri và xã hội về vấn đề đang được xem xét, quyết định. Nếu các nghị sĩ
muốn được tái cử trong nhiệm kỳ tới thì việc làm hài lịng cử tri là trách
nhiệm lớn nhất đối với họ.
Để thực hiện trách nhiệm này, nghị sĩ không chỉ đơn thuần chứng minh
sự mẫn cán của mình tại nghị trường hoặc tại đơn vị bầu cử mà cịn thơng qua
lá phiếu hoặc tham luận bày tỏ quan điểm, phản ánh những mối quan tâm của
cử tri hoặc phải biết cách giải thích thỏa đáng cho cử tri về một hành động bỏ
phiếu bất thường nào đó của mình. Mặc dù các nghị sĩ phải chịu sự chỉ đạo
của các nhóm đảng phái trong Hạ viện và Thượng viện khi bỏ phiếu, song họ
vẫn phải dành sự quan tâm đáng kể đến ý kiến của công luận và của cử tri tại
các quận hay bang của mình. Nếu một nghị sĩ nhận được yêu cầu của một số
lượng đáng kể cử tri về một vấn đề nào đó, trong lúc ban lãnh đạo đảng yêu
cầu vị này phải bỏ phiếu khác đi, thì tiếng nói của cử tri thường chi phối kết
quả bỏ phiếu cuối cùng. Do đó, về bản chất, vận động hành lang là sự chia sẻ
quyền lực giữa Nhà nước và xã hội. Sự thừa nhận về mặt pháp lý của vậng
động hành lang cũng là sự minh hoạ cụ thể về tính đại diện của Quốc hội
Mỹ.4


4

Nguyễn Quốc Văn, “Các nhóm lợi ích và vận động hành lang trong nền chính trị Mỹ”

4


Thứ hai, vận động hành lang giúp cho các ý nguyện của cử tri đến được
với chính quyền, mà cụ thể là cơ quan lập pháp, một cách nhanh chóng, rõ
ràng, hiệu quả nhất. Theo quy định của pháp luật, bất kỳ công dân, tổ chức
hoặc công ty nào đều có thể đề đạt ý nguyện của mình lên Quốc hội. Tuy
nhiên, thật là không thực tế nếu yêu cầu một vị dân biểu, một nghị sỹ hay các
nhân viên của họ dành thời giờ để nói chuyện với từng cử tri, từng tổ chức
hoặc đoàn thể hiện diện trong đơn vị bầu cử của họ. Hơn nữa, không phải cử
tri nào cũng có khả năng chuyển tải đến nghị sĩ những thơng điệp rõ ràng,
chính xác, ngắn gọn và đi thẳng vào nội dung, mục đích cần đạt tới nhằm thu
hút sự chú ý của họ. Vì vậy, các tổ chức, cơng ty hay các nhóm cử tri có cùng
lợi ích phải nhờ đến các nhà vận động hành lang. Đây là những người ít nhiều
gắn bó với hoạt động ở nghị trường, có thể dành thời gian để tiếp xúc, tác
động đến các nghị sĩ, có các mối quan hệ cũng như kinh nghiệm trong việc
vận động các chính khách. Một chun gia vận động hành lang có thể nói
thay cho nhiều người khi trình bày các quan điểm chính sách trước Quốc hội.
Chuyên gia vận động hành lang cũng biết sẽ phải chuẩn bị nội dung thông
điệp như thế nào, thơng qua các phương thức gì để có thể gây sức ép hay tác
động có hiệu quả đến các nghị sĩ. Đây chính là cách biến bức xúc của công
chúng, của cử tri thành bức xúc của chính quyền để tranh thủ sự ủng hộ của
chính quyền đối với những vấn đề mà cử tri quan tâm.
Thứ ba, vận động hành lang giúp mang những vấn đề quan trọng đến
với bàn họp của Nghị viện, góp phần làm cho quá trình quyết định thêm minh

bạch, dân chủ. Nhờ vào tính chun nghiệp hóa của hoạt động lobby, những
vấn đề của các nhóm lợi ích trong xã hội, bất kể đó là nhóm đa số hay thiểu
số, đại diện cho các lợi ích phổ thơng hay chỉ là những lợi ích riêng lẻ trong
xã hội đều có thể được phản ảnh một cách rõ ràng, chính xác đến tai các nhà
lập pháp. Các cơ quan có thẩm quyền khơng thể hồn tồn tự do trong việc
hoạch định chính sách mà họ còn phải chịu nhiều áp lực từ các nhóm lợi ích
5


trong xã hội. Và vì vậy, vận động hành lang trở thành một trong những cầu
nối, là kênh liên lạc giữa các nhóm cơng chúng mà nó đại diện với chính
quyền; đồng thời làm cho q trình ra quyết định thêm minh bạch hơn.
1.3. Điều kiện chính trị và pháp lý của vận động hành lang
Vận động hành lang là một trong những hoạt động hợp pháp để tiếp cận
với Quốc hội, các cơ quan của Chính phủ và chính quyền địa phương vì lợi
ích của cơng chúng đã được công nhận về mặt pháp lý ở nhiều nước trên thế
giới. Đặc biệt là ở Mỹ và Tây Âu.
Ở Hoa Kỳ có hai đạo luật chi phối hoạt động vận động hành lang
Thứ nhất là luật liên quan đến đăng ký hoạt động lobby và thứ hai là
quảng bá, phổ cập thông tin liên quan.
Theo luật, muốn tham gia vào hoạt động lobby các cá nhân phải đăng
ký. Họ phải đăng ký rõ ràng và chi tiết hoạt động lobby trên nước Mỹ. Hầu
hết các thông tin về hoạt động lobby ở Mỹ đều được công khai cho công
chúng biết.
Thông qua hệ thống mạng Internet người ta có thể biết được hoạt động
lobby đang diễn ra như thế nào ở Mỹ. Thơng qua những chương trình lobby
này người ta cũng có thể đốn trước những thay đổi trong chính trường Mỹ
hoặc chính sách kinh tế, thương mại của Chính phủ Mỹ vì bao giờ các cuộc
vận động hành lang cũng đi trước các chính sách được đưa ra.
Các lobbyist ở Mỹ có quan hệ khá tốt với giới chức, có hiểu biết về

chính trị nhưng những kiến thức về kinh doanh lại giới hạn. Tại Mỹ người
dân có thể tiếp cận giới chức rất dễ dàng và khi là lobbyist họ càng dễ dàng
tiếp cận với chính khách Hoa Kỳ. Giới chức phải có nhiệm vụ nghe những
trình bày đó trước khi đưa ra quyết định có liên quan. Thường có những hoạt
động lobby về chính trị, lobby về thương m
- Tại Việt Nam, cịn có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề vận
động hành lang, tập hợp lại có thể chia thành hai nhóm thừa nhận và không

6


thừa nhận có vận động hành lang, đi liền với đó là việc ủng hộ, hoặc khơng
ủng hộ hoạt động vận động hành lang.
Những người ủng hộ thì cho rằng ở Việt Nam đã tồn tại hoạt động vận
động hành lang, và coi đây là hoạt động cần thiết trong bối cảnh xây dựng nền
kinh tế thị trường và hội nhập.
Những người khơng ủng hộ thì cho rằng, những người có địa vị chính
trị và lợi ích kinh tế đặc biệt, họ cần đến vận động hành lang để củng cố vị thế
của mình, cịn những người dân bình thường thì khơng cần đến vận động
hành lang. Mục đích của vận động hành lang nhằm củng cố, bảo vệ lợi ích
của những “người có của” chứ khơng phải vì nhân dân, vì xã hội. Từ những
lập luận đó họ cho rằng, hoạt động vận động hành lang làm giảm tính minh
bạch, tạo ra những tầng nấc trung gian không cần thiết giữa Nhà nước và
người dân, thậm chí xem vận động hành lang là “hành vi hối lộ và nhận hối
lộ”, là môi trường thuận lợi cho tham nhũng.

7


Chương 2

THỰC TRẠNG ĐIỀU KIỆN CHÍNH TRỊ VÀ PHÁP LÝ VẬN ĐỘNG
HÀNH LANG Ở CÁC NƯỚC TÂY ÂU VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM
ÁP DỤNG CHO VIỆT NAM
2.1. Điều kiện chính trị và pháp lý trong vận động hành lang ở các
nước Tây Âu
2.1.1. Pháp luật về vận động hành lang ở Anh
Ở Anh, có rất nhiều quy định thành văn trong vấn đề vận động hành
lang (chẳng hạn như các quy tắc hành xử) liên quan tới các quan hệ của nghị
sỹ với các lợi ích bên ngồi. Tuy nhiên, phần nhiều các quy định này liên
quan tới các lợi ích tài chính của chính bản thân các nghị sỹ cũng như hành vi
cá nhân của họ hơn là về việc kiểm sốt các lợi ích của bên thứ ba. Phần lớn
các đề xuất là làm sao phù hợp với truyền thống của nước Anh được thực
hiện tại các phương tiện thơng tin đại chúng, được có tiếng nói về một lợi ích
khi tham gia tranh cãi liên quan đến lợi ích đó.
Đạo luật được cho là có quy định cụ thể hơn về vận động hành lang
được thông qua ở Anh nhưng lại chỉ được áp dụng trong một giai đoạn cụ thể.
Điều này xuất phát từ thực tế, tại Anh, trong các cuộc chạy đua vào Hạ viện,
các đảng chính trị mà cụ thể là hai đảng lớn là Công đảng và Bảo thủ cần rất
nhiều điều kiện, trong đó tiền có vai trị quan trọng. Do đó, cần thiết phải quy
định chặt chẽ về vận động hành lang trước và trong mỗi kỳ bầu cử.
Tóm lại, ở Anh hiện nay vẫn vắng bóng một quy định hay luật chính
thức của Chính phủ về vận động hành lang. Những quy định hiện có lại khơng
cụ thể, rõ ràng và chi tiết, đặc biệt, do chính các tổ chức chuyên về vận động
hành lang tự đặt ra, do đó, có thể nói, ở bình diện quốc gia, Vương quốc Anh
vẫn chưa có Luật chính thức về vận động hành lang
2.1.2. Pháp luật về vận động hành lang ở Áo

8



Quy tắc Thủ tục của cả Hội đồng Nhà nước Áo và Hội đồng Liên bang
Áo đều khơng có điều khoản quy định về hoạt động vận động hành lang hoặc
các nhóm lợi ích trong hoạt động lập pháp. Đồng thời, cũng khơng có quy
định đăng ký chính thức nào đối với các nhóm lợi ích tại Áo. Tuy vậy, ảnh
hưởng của các nhóm lợi ích đối với q trình xây dựng pháp luật ở Áo, đặc
biệt là các nhóm lợi ích kinh tế lớn hợp tác bên trong khn khổ của cái gọi
là “hợp tác xã hội” là khá mạnh. Chẳng hạn như việc các đối tác xã hội tham
gia vào q trình chuẩn bị, soạn thảo dự luật.
Ngồi ra, theo quy định tại đoạn 1 phần 40 của các Quy tắc Thủ tục của
Hội đồng Nhà nước và đoạn 1 phần 33 của Quy tắc Thủ tục của Hội đồng
Liên bang đều cho phép các Ủy ban của Hội đồng Nhà nước và Hội đồng
Liên bang được triệu tập các chuyên gia hay các nhân chứng khác, thì các
chun gia đại diện cho các nhóm lợi ích cũng có thể được mời trình bày
quan điểm của họ cho một Ủy ban về một dự luật.
2.1.3. Pháp luật về vận động hành lang ở Đức
Quốc hội Đức có quy tắc cụ thể được thể hiện trong phụ lục của Các
quy tắc trình tự, quy định rằng các nhóm muốn thể hiện hay bảo vệ lợi ích
của họ trước Quốc hội hay trước Chính phủ liên bang cần phải được đăng ký;
danh sách các tổ chức đã đăng ký bao gồm một số thông tin như tên và địa
chỉ được phát hành hàng năm.
Theo phụ lục 2 của các quy tắc thủ tục Quốc hội Đức thì mỗi năm sẽ
cơng khai một danh sách các nhóm muốn bày tỏ hay bảo vệ lợi ích của họ
trước Quốc hội Đức hay Chính phủ Liên bang. Đại diện của các nhóm áp lực
cần phải đăng ký trước khi họ được tham gia điều trần với các Ủy ban của
Quốc hội hoặc được cấp giấy thơng hành cho phép họ vào các tịa nhà của
Quốc hội.
Tuy nhiên, danh sách cơng khai khơng có giá trị pháp lý nào. Mục đích
của danh sách này là để làm rõ các nhóm áp lực trong lĩnh vực vận động
Quốc hội và thu thập thông tin phục vụ công tác Quốc hội cũng như công tác
9



của các Ủy ban của Quốc hội và để sẵn sàng cung cấp thơng tin này nếu có
u cầu.
2.1.4. Pháp luật về vận động hành lang ở Pháp
Ở Pháp, Thượng viện khơng có bản đăng ký hay danh sách các nhóm
áp lực. Các nhóm hay tổ chức chuyên nghiệp muốn tiếp xúc với Thượng viện
cần đệ đơn tới Ban Thư ký của Chủ tịch Thượng Viện để xin phép. Thượng
viện Pháp khơng có đạo luật về hành vi đối với những đại diện của các nhóm
lợi ích. Bất cứ ai có hành vi khơng phù hợp đều phải chịu sự cảnh cáo hoặc bị
khiển trách theo yêu cầu của các thượng nghị sỹ.
Ở Hạ viện Pháp, các hoạt động vận động hành lang không bị chế tài và
không được đề cập đến trong bất cứ điều luật hành vi đạo đức nào. Khơng có
danh sách hay bản đăng ký các nhóm áp lực; chỉ có 1 điều khoản duy nhất có
liên quan là: theo các sắc lệnh chung của Ủy ban Hạ viện về việc đi lại trong
Quốc hội thì tất cả những ai có thể đặc biệt được Chủ tịch Hạ viện hay các
Quaestor cung cấp thì mới được tiếp cận với Hạ viện.
2.2. Thực trạng và kiến nghị về pháp luật vận động hành lang ở
Việt Nam
2.2.1. Thực trạng
Ở Việt Nam, khái niệm vận động hành lang còn khá mới mẻ và chưa
được chính thức thừa nhận, cũng chưa có quy định cụ thể của pháp luật. Việt
Nam chưa có những tổ chức/nhóm lợi ích cũng như những nhà vận động hành
lang chuyên nghiệp, hoạt động nhân danh khách hàng, thay mặt
cho khách hàng để nói lên tiếng nói của họ trước cơ quan chức năng và được
khách hàng trả thù lao. Hiện nay trong nhận thức của nhiều người, hoạt động
vận động hành lang hay vận động chính sách ở Việt Nam vẫn chủ yếu được
đồng nghĩa với việc “chạy chọt”, “đi cửa sau”, “phong bao, phong bì” hối lộ,
đút lót các quan chức có ảnh hưởng tới các quyết định chính sách. Đáng buồn
là nhận thức trên có thể đúng trong nhiều trường hợp và về bản chất thì đây là

một sự thật tiêu cực của vận động hành lang. Tức là người ta vận động qua
10


quan hệ cá nhân, qua con đường khơng chính thức, thiếu minh bạch nên xã
hội không thể giám sát. Thời gian qua đã có nhiều vấn đề liên quan đến vận
động hành lang, đó là việc vận động hành lang của Việt Nam tại Mỹ thông
qua Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn cho Việt Nam (PNTR), trong
việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), hoặc trong những vụ tranh
chấp thương mại, các vụ kiện Việt Nam bán phá giá cá ba sa, tôm,...
Ở Việt Nam cũng đã xuất hiện các nhóm lợi ích (hay cịn gọi là các hiệp hội)
và chúng phát triển một cách tự nhiên song song với các đổi mới trong đời
sống kinh tế - chính trị của đất nước những năm qua. Để bảo vệ lợi ích của
mình, các hiệp hội thường sử dụng các phương thức như:
- Có các cuộc tiếp xúc cá nhân với những người có chức vụ, quyền hạn
trong các cơ quan nhà nước hoặc có các cuộc gặp gỡ với những nhà lãnh đạo
cấp cao của Nhà nước;
- Tham gia phiên họp của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội;
- Làm việc trong các nhóm thẩm định của các cơ quan nhà nước; Nghe báo cáo các dự án luật và kiến nghị, góp ý kiến tham gia vào các dự án
luật;
- Tác động thông qua dư luận xã hội và các phương tiện thông tin đại
chúng,… Thông qua những phương thức này, các nhóm lợi ích đã tích cực
hoạt động nhằm bảo vệ lợi ích cho các thành viên của mình. Tuy nhiên, một
điều dễ nhận thấy là việc vận động, gây áp lực đối với cơ quan nhà nước
trong việc ban hành chính sách của các hội, hiệp hội ở Việt Nam cịn mang
tính bị động, chỉ khi nào lợi ích bị xâm hại thì doanh nghiệp, hiệp hội mới lên
tiếng. Một điều nữa là trong đa số các trường hợp, lợi ích của các nhóm lợi
ích sẽ mâu thuẫn với lợi ích cộng đồng, thậm chí là lợi ích quốc gia. Bên cạnh
đó, cũng có một số biểu hiện mang tính tiêu cực của vận động hành lang, đó
là việc mua chuộc, đe dọa người có chức, có quyền trong bộ máy nhà nước.

Vì vậy, phải chăng đã đến lúc Việt Nam cần chính thức thừa nhận vai trị của
vận động hành lang? Phải chăng đã đến lúc cần nghĩ đến một văn bản pháp
11


quy để quy định, hợp thức hóa hoạt động vận động chính sách, trong đó tơn
trọng quyền của người dân được nêu ý kiến của mình với Nhà nước về các
chính sách liên quan đến lợi ích của họ. Việc thừa nhận chính thức và quy
định cụ thể để đưa vận động chính sách vào khn khổ, minh bạch, có thể
giám sát sẽ giúp loại bớt những ý kiến cực đoan trước khi tới cơ quan hoạch
định chính sách. Việc chuẩn hóa hoạt động vận động hành lang sẽ góp phần
triệt tiêu những chuyện lắt léo, tham nhũng. Khi hoạt động này được quy
chuẩn thì sẽ là một rào cản quan trọng trong việc ngăn chặn các hành vi bất
hợp pháp, Nhà nước có đủ thơng tin để làm trọng tài cơng minh giữa các
nhóm lợi ích, giúp xã hội phát triển lành mạnh.
2.2.2. Xu hướng phát triển của vận động hành lang trong hoạch
định chính sách ở Việt Nam hiện nay
Ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác, vận động hành lang đang là
một nhu cầu thực tế và nó sẽ phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế
thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Với sự đa dạng hóa về lợi ích, hoạt
động vận động hành lang sẽ diễn ra mạnh mẽ và ngày càng đa dạng. Trong
bối cảnh đó, phải xem vận động hàng lang chính sách là một hoạt động bình
thường và Nhà nước cần phải có cơ chế để kiểm sốt nhằm phát huy tính tích
cực, hạn chế những tiêu cực của hoạt động này. Theo đó, Nhà nước cần phải:
Hoàn thiện pháp luật về vận động hành lang trước hết cần tập trung vào
hoàn thiện quy định pháp lý về hoạt động của các hội, hiệp hội; bảo đảm
quyền tự do thành lập hội, các quy định về trình tự, thủ tục thành lập, vai trò
của các hội trong vận động chính sách.
Cần có các quy định pháp lý về tính hợp pháp của các hoạt động vận
động hành lang và nghề vận động hành lang. Theo đó, cần quy định rõ những

lĩnh vực được phép vận động hành lang, cơ chế và các hình thức vận động
hành lang; điều kiện hành nghề của những người vận động hành lang… Cụ
thể, cần xây dựng các quy định về việc cho phép các chủ thể được phép thực
hiện vận động hành lang; cách thức vận động hành lang;… Về cá nhân người
12


hành nghề vận động hành lang; bảo đảm công khai về cá nhân người vận
động hành lang, người thuê vận động hành lang, nội dung và hình thức vận
động hành lang sẽ thực hiện; đăng ký vận động hành lang… Cần thừa nhận
vận động hành lang là một nghề với các quy tắc đạo đức nghề nghiệp của
những người hành nghề.
Cần nghiên cứu bổ sung cơ chế tham gia thực chất của nhân dân vào
quy trình lập pháp, hoạch định chính sách ngay từ giai đoạn đưa ra sáng kiến
lập pháp và giai đoạn soạn thảo. Cần sửa đổi quy định về lấy ý kiến nhân dân
vào các dự án luật theo “cơ chế mở” nhằm bảo đảm cử tri và các tổ chức có
thể bày tỏ quan điểm và cung cấp thông tin tới các nhà lập pháp thông qua đối
thoại xã hội mở có phản hồi từ cơ quan nhà nước. Cần chú trọng thực hiện
dân chủ đối thoại xã hội về các khía cạnh chính trị của các giải pháp lập pháp.
Minh bạch hóa hoạt động vận động hành lang và hoạt động của bộ máy
nhà nước. Để vận động hành lang đối với chính sách có hiệu quả thì hoạt
động này cần phải được minh bạch hóa. Với tư cách là “cầu nối” về nguyện
vọng, lợi ích giữa các nhóm lợi ích, cá nhân, cơng dân với các cơ quan có
thẩm quyền hoạch định chính sách thì hoạt động này cần phải được cơng khai
hóa. Việc cơng khai hóa là u cầu và cũng là giải pháp quan trọng để ngăn
chặn vận động trái phép, tiêu cực, gây ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ thể
khác và của xã hội. Mặt khác, đây còn là cơ sở để người dân giám sát hoạt
động của cơ quan nhà nước.
Để hoạt động vận động hành lang chính sách minh bạch, địi hỏi hoạt
động xây dựng chính sách của Nhà nước cũng phải công khai, minh bạch, và

hoạt động này cần phải đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của người dân với tư
cách là những người trực tiếp thụ hưởng chính sách.
2.2.3. Một số kiến nghị
Sự cần thiết phải có khung pháp lý về vận động hành lang Theo quy
định tại Điều 53 của Hiến pháp năm 1992, cơng dân Việt Nam có quyền
“tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung
13


của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi
nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”. Không những thế, Điều 11 Hiến pháp
1992 ghi nhận quyền làm chủ ở cơ sở của công dân. Theo đó, “Cơng dân
thực hiện quyền làm chủ của mình ở cơ sở bằng cách tham gia cơng việc của
Nhà nước và xã hội... tổ chức đời sống công cộng”. Về vai trò và nghĩa vụ
hợp tác của người đại biểu nhân dân với cử tri trong thực hiện “quyền
tham gia”, Điều 97 Hiến pháp quy định “Đại biểu Quốc hội... không chỉ đại
diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà cịn đại diện cho nhân dân cả
nước”. Như vậy, về nguyên tắc, bất kỳ người dân nào cũng có quyền tiếp xúc
và yêu cầu bất kỳ đại biểu Quốc hội nào lắng nghe ý kiến của mình và "phản
ánh trung thực ý kiến và nguyện vọng của cử tri với Quốc hội và các cơ quan
nhà nước hữu quan".
Như vậy, nền tảng Hiến định đã ghi nhận quyền tham gia của nhân dân
vào đời sống chính trị và q trình ra quyết định của cơ quan nhà nước, đặc
biệt là quyền yêu cầu người đại biểu nhân dân lắng nghe, truyền đạt ý kiến
của nhân dân đối với chính sách, pháp luật. Qua đây có thể thấy
được sự cần thiết phải có sự tham gia của công chúng vào hoạt động lập pháp
như sau:
Thứ nhất, pháp luật do các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước ban
hành theo sự ủy nhiệm của người dân thông qua Hiến pháp và chế độ bầu cử,
do đó, người dân có quyền có ý kiến về việc đặt ra pháp luật.

Thứ hai, pháp luật được ban hành như một mặt bằng chuẩn chung
nhằm điều chỉnh hành vi của các thành viên trong xã hội vốn không đồng nhất
về lợi ích, quyền lợi và địa vị kinh tế, chính trị cũng như những khác biệt
khác như khác biệt về giới, về nhóm dân tộc, các nhóm lợi ích khác nhau
trong xã hội. Xuất phát từ hai luận điểm trên đây cho thấy: sự tham gia ý kiến
một cách chủ động (vận động, tác động tới chính sách và pháp luật) của
những đối tượng bị điều chỉnh bởi chính sách và pháp luật là nhằm bảo đảm
tính bao quát, thực tế của pháp luật và qua đó bảo đảm tính khả thi cao. Đổi
14


lại, các nhà hoạch định chính sách cũng phải nhận thức được về sự vận động,
tác động của công chúng đến chính sách, pháp luật để làm sao đưa ra các
quyết định chính sách, pháp luật được cơng tâm, chính xác, phù hợp với lợi
ích của quốc gia và cộng đồng chứ khơng phải của một nhóm nhỏ các cá nhân
và tổ chức. Việc có một đạo luật về vận động hành lang sẽ rất cần thiết để đưa
hoạt động tham gia xây dựng chính sách, pháp luật của cơng chúng, của các
nhóm lợi ích vào khn khổ, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực khó
kiểm sốt của họ đối với các nhà hoạch định chính sách trong chính quyền.
Đạo luật này cũng sẽ là một cơng cụ pháp lý bổ sung, giúp hoàn thiện hơn
nữa khung pháp lý của Việt Nam về phòng chống tham nhũng.

15


KẾT LUẬN
Vận động hành lang là một hiện tượng xã hội, là một bộ phận chính
đáng, hợp pháp của thiết chế dân chủ. Vận động hành lang ngày càng trở nên
quan trọng và là phần không thể thiếu được trong các hoạt động chính trị - xã
hội, mà đặc biệt là trong các hoạt động nghị trường của Nghị viện. Vận động

hành lang là hoạt động “hậu trường”, nhưng có vai trị bổ sung cho q trình
hoạch định chính sách của Nghị viện. Vận động hành lang tác động mạnh mẽ
đến tất cả các cơng đoạn của q trình ra quyết định, q trình làm luật và
hình thành chính sách đối nội, đối ngoại. Không những thế, trong quan hệ với
Nghị viện và Chính phủ, vận động hành lang cịn là sự phản ánh, sự giám sát
và là cầu nối giữa các nhóm lợi ích và nhân dân với các cơ quan công quyền.
Ngày nay, vận động hành lang không chỉ là một phần thiết yếu trong đời sống
chính trị của các nước phát triển mà đã len vào các quan hệ kinh tế, thương
mại của các quốc gia, trở thành vấn đề quốc tế có tính thời sự nóng bỏng. Tuy
nhiên, vận động hành lang cũng có mặt trái của nó và trong khơng ít trường
hợp bị coi là một nguy cơ cho nền dân chủ. Vì vậy, để bảo đảm quyền gây
ảnh hưởng của công chúng đến các quyết định chính trị được thực hiện một
cách cơng khai, minh bạch, trung thực, pháp luật cần kiểm soát chặt chẽ hoạt
động vận động hành lang.
Ở Việt Nam đã xuất hiện nhu cầu vận động hành lang chuyên nghiệp
được thực hiện cơng khai, minh bạch bởi các nhóm lợi ích, các nhà vận động
hành lang. Vận động hành lang công khai, minh bạch sẽ thay thế cho “vận
động đen”, đi “cửa sau”, “cửa phụ” và gắn với đó là tệ hối lộ, tham
nhũng của cán bộ, công chức. Đây là tiến trình tự nhiên để các nhóm lợi ích
khác nhau trong xã hội thể hiện chính kiến và vận động, gây ảnh hưởng đến
các nhà lập pháp để họ chú ý tới mặt bằng xã hội không đồng đều khi ban
hành pháp luật sao cho phù hợp với lợi ích của cộng động, các nhóm lợi ích
và cá nhân trong xã hội. Việc có một đạo luật về vận động hành lang là cần
16


thiết nhằm tạo hành lang pháp lý để đưa hoạt động tham gia xây dựng chính
sách, pháp luật của cơng chúng, của các nhóm lợi ích vào khn khổ, đồng
thời hạn chế những tác động tiêu cực đối với các nhà hoạch định chính sách.
Đây


17


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. André C.Cơté (2007), “Tiến trình phát triển khung pháp lý cho vận động
hành lang và đăng ký của nhà vận động hành lang ở Québec”, Hội thảo
vận động hành lang - thực tiễn và pháp luật.
2. Ann Sullivan (2006), “Vận động hành lang Quốc hội tại Hoa Kỳ”.
3. BBO, Dự án MISTOWA (2006), Hướng dẫn vận động hành lang.
4. Trần Sỹ Cương (2006), “Chìa khố vào thị trường Mỹ”, Báo Lao động.
5. Nguyễn Chí Dũng (2006), “Vận động hành lang trong hoạt động lập pháp
các nước và xu hướng ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (83).
6. PGS. TS. Nguyễn Đăng Dung (2006), “Công tác dân nguyện của Quốc hội
và hoạt động vận động hành lang”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (8).
7. Đài truyền hình CBS (năm 2003),“Một cuộc chiến khác về thuốc”.
8. Minh Đức (2007), “Vận động hành lang trong các nền dân chủ Nghị viện”,
Báo điện tử Đại biểu nhân dân.
9. Lê Hồng Hiệp (2010), “Việt Nam: cần thận trọng với ảnh hưởng của các
nhóm lợi ích”.
10. Trần Bách Hiếu (2009), “Vận động hành lang trong nền chính trị Mỹ và
một số liên hệ tới Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (16).
11. Minh Hiểu (2007), “Lịch sử nghề vận động hành lang tại Nghị viện”, Báo
điện tử Đại biểu nhân dân.
12. TS. Nguyễn Đình Lộc (2007), “Một số ý kiến về nghề vận động hành
lang”, Hội thảo vận động hành lang – pháp luật và thực tiễn.
13. Luật công khai vận động hành lang của Hoa Kỳ.
14. Luật về đạo đức và tính minh bạch trong vận động hành lang của Québec,
Canada.
15. Luật về chuẩn mực ứng xử của nhà vận động hành lang của Québec,

Canada. 16. Maria Laptev (2006), “Lobby khơng cịn là nghề xa lạ”.

18



×