Tải bản đầy đủ (.docx) (37 trang)

Tiểu luận thực trạng vận động hành lang ở vn hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (221.04 KB, 37 trang )

TIỂU LUẬN
MÔN VẬN ĐỘNG HÀNH LANG
Đề tài
THỰC TRẠNG VẬN ĐỘNG HÀNH LANG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY


MỤC LỤCC LỤC LỤCC

1.Tính cấp thiết của đề tài

1

2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2

3.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2

3.1.Mục đích nghiên cứu

2

3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu

3

4. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

3



4.1.Đối tượng nghiên cứu

3

4.2. Phương pháp nghiên cứu

3

5.Cơ sở lý luận

4

6. Kết cấu của đề tài

4

NỘI DUNG

5

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẬN ĐỘNG HÀNH LANG

5

1.1.Khái niệm, mục đích và vai trị vận động hành lang.

5

1.1.1.Khái niệm vận động hành lang


5

1.1.2. Mục đích vận động hành lang

7

1.1.3. Vai trò của vận động hành lang

9

1.2. Sự cần thiết và tác động của vận động hành lang
1.2.1. Sự cần thiết của vận động hành lang
1.2.2. Tác động của vận động hành lang
1.3.Chủ thể, đối tượng và các nguyên tắc vận động hành lang
1.3.1.Chủ thể vận động hành lang

9
9
11
16
16


1.3.2. Đối tượng vận động hành lang

17

1.3.3. Các nguyên tắc vận động hành lang


17

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VẬN ĐỘNG HÀNH LANG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1.Thực trạng vận động hành lang ở Việt Nam hiện nay

19
19

2.1.1. Thành tựu

19

2.1.2. Hạn chế

26

2.2.Giải pháp

30

KẾT LUẬN

33

TÀI LIỆU THAM KHẢO

34



MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong chế độ dân chủ và pháp quyền thì quyền lực nhà nước khơng
phải là quyền lực tự có của Nhà nước mà quyền lực được nhân dân ủy quyền
và giao quyền. Nói cách khác, chính người dân đã ủy quyền cho nhà nước với
mong muốn nhà nước thay mặt mình thực thi quyền lực cơng một cách hiệu
quả vì những mục tiêu nhất định, quan trọng nhất là hoạch định và thực thi
chính sách công. Tuy nhiên, trên thực tế, quan hệ ủy quyền – đại diện luôn
tồn tại những vấn đề nhất định, tất yếu nảy sinh đòi hỏi tự nhiên và chính
đáng là phải kiểm sốt quyền lực nhà nước. Mặt khác, khi ủy quyền cho Nhà
nước, quyền lực nhà nước lại có nguy cơ bị lạm dụng, tha hóa. Hơn nữa,
quyền lực nhà nước là của nhân dân giao cho các cơ quan nhà nước, mà suy
cho cùng là giao cho những người cụ thể thực thi. Mà con người thực thi thì
“ln ln chịu sự ảnh hưởng của các loại tình cảm và dục vọng đối với các
hành động của con người. Điều cũng khiến cho lí tính đơi khi bị chìm khuất”.
Mà khi lí tính bị chi phối bởi các dục vọng, thói quen hay tình cảm thì khả
năng sai lầm trong việc thực thi quyền lực càng lớn. Chính vì vậy, trong điều
kiện nhất định, người dân và các chủ thể xã hội có nhu cầu tác động đến q
trình chính sách của nhà nước nhằm làm cho các chính sách có lợi hoặc ít
nhất khơng thiệt hại đến bản thân mình. Điều này góp phần giải thích tính tất
yếu khách quan của vận động hành lang.
Trong nền chính trị hiện đại, lobby (vận động hành lang) được luật
pháp của nhiều nước phát triển công nhận và ngày càng trở nên khơng thể
thiếu trong hoạt động chính trị - xã hội, đặc biệt là trong hoạt động nghị
trường của Nghị viện. Nó mang đến cái nhìn đa chiều, tồn diện cho các nghị
sĩ với đầy đủ thơng tin, chứng cứ cũng như ý kiến, kiến nghị của cử tri và xã
hội về vấn đề đang được xem xét, quyết định để trên cơ sở đó họ có thể đưa ra
những quyết định có lợi cho xã hội. Vận động hành lang (lobby) đã được thể
1



chế hóa từ rất lâu ở nhiều nước, nhưng với Việt Nam, có vẻ như đây vẫn là
lĩnh vực nhạy cảm. Nhưng phải thừa nhận rằng, dù khoác tấm áo gì đi chăng
nữa, lobby đã thực sự tồn tại ở nước ta từ lâu. Quan trọng là phải chính thức
hóa nó một cách minh bạch, tránh để lobby chỉ cịn là đồng đơ la đi qua đi lại.
Chính vì thế, tác giả đã chọn đề tài “ thực trạng vận động hành lang ở Việt
Nam hiện nay” để làm tiểu luận kết thúc mơn học vận động hành lang.

2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến đề tài nghiên cứu, đã có một số cơng trình đã cơng bố.
Sau đây là những cơng trình điển hình:
Sách chun khảo “Vận động hành lang trong đời sống chính trị các
nước phương Tây” của PGS,TS Lưu Văn An, Nhà xuất bản Chính trị - Hành
chính Hà Nội, 2010.
Đề tài khoa học “ Công nghệ vận động hành lang” do chủ nhiêm TS
Phạm Thị Hoa, khoa Chính trị học, Học viện Báo chí Và Tuyên truyền, 2017.
“Vận động hành lang trong hoạt động lập pháp các nước và xu hướng ở
Việt Nam”, Nguyễn Đăng Dung, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, 2006.
“ Vận động chính sách ở Việt Nam – những vướng mắc và giải pháp
tháo gỡ”, Vũ Xuân Tiền, 2008.
Tuy đã có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến vận động hành lang,
vận động chính sách nhưng có ít đề làm rõ thực trạng của vận động hành lang
ở Việt Nam hiện nay, vì vậy tác giả đã chọn đề tài này để nghiên cứu và làm
rõ hơn.

3.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu

2



Đề tài tập trung hệ thống và làm rõ những vấn đề cơ bản về vận động
hành lang như khái niệm vận động hành lang, mục đích vận động hành lang,
khảo sát và làm rõ thực trạng vận động hành lang ở Việt Nam; từ đó đưa ra
những đánh giá khái quát về vận động hành lang; đồng thời đưa ra một số gợi
mở cho vận động hành lang ở Việt Nam.
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục tiêu trên, đề tài tập trung thực hiện những nhiệm vụ cơ bản
như sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về vận động hành lang, trong đó
hệ thống và phân tích khái niệm vận động hành lang, xác định mục đích, khái
qt những bước cơ bản trong q trình vận động hành lang.
- Khảo cứu thực trạng vận động hành lang ở Việt Nam hiện nay.
- Từ thực tiễn đó, đề tài đưa ra những giải pháp khắc phục những hạn
chế của thực trạng vận động hành lang ở Việt Nam hiện nay.

4. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung làm rõ thực trạng vận động hành lang ở Việt Nam hiện
nay.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Đề tài sử dụng phương pháp luận Mác- Lênin, cụ
thể là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để có những nhìn
nhận khách quan, tồn diện về thực trạng ở Việt Nam.
- Phương pháp riêng: Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng
tổng hợp các phương pháp như logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh,

3



nghiên cứu tài liệu trong đó phương pháp logic – lịch sử và phân tích – tổng
hợp kết hợp với nghiên cứu các tài.

5.Cơ sở lý luận
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền lực chính trị của
nhân dân lao động, về quyền lực nhà nước, thực thi và kiểm soát quyền lực
nhà nước;
- Một số lý thuyết chính trị học và chính sách cơng như lý thuyết về
VĐHL, lý thuyết lựa chọn công cộng, lý thuyết nhóm, lý thuyết hành vi…

6. Kết cấu của đề tài
Ngồi phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 2
chương, 5 tiết.

4


NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẬN ĐỘNG HÀNH LANG
1.1.Khái niệm, mục đích và vai trị vận động hành lang.
1.1.1.Khái niệm vận động hành lang
Dù được thừa nhận hay khơng thì vận động hành lang vẫn là một thực
tế khơng thể thiếu trong đời sống chính trị, nó phát triển “đồng hành” cùng
với sự phát triển của hệ thống chính trị tại mỗi quốc gia, thậm chí vượt ra
ngồi khn khổ các quan hệ trong nội bộ của một quốc gia và trong khơng ít
trường hợp, trở thành những vấn đề quốc tế có tính thời sự. Vậy, vận động
hành lang là gì?
Theo từ điển, vận động hành lang (lobby) là:
Lobby (danh từ): hành lang ở Nghị viện (a lobby politician: người hoạt
động chính trị ở hành lang hoặc người hoạt động chính trị ở hậu trường).

Lobby (động từ): vận động ở hành lang (đưa ra hoặc thông qua một đạo
luật ở Nghị viện) hoặc lui tới hành lang Nghị viện tranh thủ lá phiếu của nghị
sĩ.
Vận động hành lang là cố gắng gây ảnh hưởng đến suy nghĩ của những
nhà lập pháp hay các quan chức chính quyền khác để ủng hộ hay phản đối
một vấn đề cụ thể, như vận động hành lang để bảo vệ môi trường tốt hơn, vận
động hành lang chống lại sự gia tăng của vũ khí hạt nhân.
Dưới góc độ của những nhà nghiên cứu:
Vận động hành lang (lobby) về nghĩa đen gốc tiếng Anh, mọi người
đều biết đó là hành lang rộng của nhà Quốc hội, là nơi chờ đợi trong tiền sảnh
của các khách sạn hay toà nhà lớn. Nhưng lobby cịn có nghĩa bóng rất thơng

5


dụng, đó là “vận động người có chức, có quyền nhằm giúp mình đạt được
mục đích gì đó về kinh tế, chính trị, xã hội,...”.
Vận động hành lang nghĩa là nỗ lực có chủ ý để gây ảnh hưởng đến các
quyết định chính trị thơng qua nhiều hình thức vận động nhằm vào các nhà
hoạch định chính sách.
Nói một cách đơn giản, vận động hành lang là thuyết phục người được
vận động ban hành chính sách theo ý muốn của người vận động. Vấn đề cần
vận động có thể là một dự luật hoặc đơn giản chỉ để yêu cầu nghị sĩ tiếp xúc
thường xuyên hơn với một nhóm cử tri nào đó. Nói một cách khái qt thì vận
động hành lang là đưa ra chính kiến của một nhóm lợi ích đối với một chính
sách của Nhà nước và tác động để biến đổi chính sách đó theo nhu cầu của
nhóm lợi ích.
Dưới góc độ của các chun gia vận động hành lang:
Vận động hàng lang là vận động giùm cho người khác về một vấn đề
mà người đó không hiểu rõ đường đi nước bước, họ không biết phải vận động

như thế nào, vận động ai để đề đạt được ý nguyện của họ lên cơ quan lập
pháp (Ann Sullivan, chuyên viên vận động hành lang ở Washington).
Vận động hành lang có thể được hiểu một cách rất đặc trưng là hoạt động
nhằm tạo ảnh hưởng đến tiến trình ban hành quyết định hoặc có thể mang một
nghĩa rộng hơn thế nữa.
Vận động hành lang là hoạt động có hệ thống và được thực hiện một
cách khơng chính thức để tác động đến những người có thẩm quyền ra quyết
định. Tính khơng chính thức ở đây được hiểu rằng, vận động hành lang tuy
không phải là một thủ tục bắt buộc của quy trình ra chính sách, quyết định
nhưng lại có tác dụng bổ sung cho q trình ra chính sách, quyết định của
người có thẩm quyền. Bởi lẽ, vận động hành lang mang đến cho người có

6


thẩm quyền cái nhìn tồn diện, đa chiều với đầy đủ thông tin, chứng cứ cũng
như ý kiến, kiến nghị của cử tri và xã hội về vấn đề đang được xem xét, quyết
định, trên cơ sở đó, họ đưa ra những quyết định có lợi cho xã hội, cử tri hoặc
các nhóm lợi ích,… Chính vì vậy, có thể nói vận động hành lang là hoạt động
“hậu trường”, nhưng có vai trị bổ sung, tác động mạnh mẽ đến tất cả các
cơng đoạn của q trình ra quyết định.
Vận động hành lang là một trong những hoạt động hợp pháp để tiếp cận
với Quốc hội, các cơ quan của Chính phủ và chính quyền địa phương vì lợi
ích của công chúng .
Như vậy, vận động hành lang được hiểu là những hoạt động có tính hệ
thống nhằm tiếp cận, thuyết phục, gây ảnh hưởng, tác động đến quá trình ra
quyết định của cơ quan lập pháp, hành pháp, các nghị sĩ, quan chức và những
người có thẩm quyền khác trong bộ máy nhà nước để họ ủng hộ hoặc khơng
ủng hộ chính sách, dự luật, chương trình, kế hoạch, hợp đồng, chứng chỉ, sự
đề cử, bổ nhiệm hoặc một vấn đề nào đó vì lợi ích của cộng đồng, các nhóm

lợi ích hoặc của cá nhân.
1.1.2. Mục đích vận động hành lang
Mục đích trực tiếp của VĐHL là có được các quyết định chính sách từ
các cơ quan nhà nước, các cơ quan có thẩm quyền theo hướng có lợi cho
mình. Để đạt được điều đó, VĐHL có thể tham gia vào tất cả các khâu, các
giai đoạn của quy trình chính sách.
Trước hết, VĐHL thuyết phục các nhà hoạch định chính sách rằng một
vấn đề nào đó nên được lựa chọn là vấn đề chính sách để đưa vào chương
trình nghị sự quốc gia cũng như nỗ lực nhằm ngăn chặn một vấn đề khác trở
thành vấn đề chính sách.
Thứ hai, VĐHL tác động vào giai đoạn thảo luận chính sách nhằm đưa
ra những phương án chính sách và lựa chọn tối ưu sau khi chính sách đã được

7


đưa vào chương trình nghị sự và đang trong quá trình bàn bạc, thảo luận trước
Quốc hội hay Nghị viện.
Thứ ba, VĐHL tác động vào giai đoạn ra quyết định chính sách nhằm
thúc đẩy việc ban hành, các thủ tục pháp lý cần thiết để chính sách chính thức
được thơng qua hoặc ngược lại, ngăn cản hoặc trì hỗn việc thơng qua một
chính sách nào đó mà bất lợi cho chủ thể vận động.
Thứ tư, VĐHL tác động vào giai đoạn thực thi chính sách nhằm làm
cho q trình thực thi chính sách đúng mục đích nếu việc thực hiện chính
sách có lợi cho chủ thể. Đơi khi VĐHL ở giai đoạn thực thi chính sách cũng
là để ngăn cản việc thực thi một chính sách nào đó hoặc gây áp lực để làm
cho việc thực thi chính sách đi chệch mục đích ban đầu nhưng lại có lợi cho
chủ thể vận động.
Cơ sở quan trọng cho toàn bộ quá trình này chính là việc cung cấp
thơng tin và phân tích, xử lý thơng tin theo hướng có lợi cho nhóm vận động

mà lại có sức thuyết phục các chủ thể hoạch định và thực thi chính sách. Như
vây, VĐHL có mục đích là cung cấp những thơng tin, tư liệu cho các quan
chức nhà nước có thẩm quyền, các chính khách,... từ đó tác động đến q
trình hoạch định chính sách, ban hành những quyết định có lợi cho xã hội
hoặc các cá nhân hay nhóm lợi ích có liên quan. Mục tiêu cuối cùng của
VĐHL là đạt được sự thay đổi cụ thể trong các chính sách, các hoạt động, các
chương trình và việc phân bổ nguồn lực mang lại lợi ích cho người tham gia
vào q trình. Nhưng trên thực tế, tùy bối cảng mà mục đích vận động có thể
có sự điều chỉnh. Cụ thể là, khi chưa có chính sách thì cần vận động để hướng
tới việc soạn thảo, ban hành chính sách mới; Khi đã có chính sách thì cần vận
động nhằm vào việc tạo môi trường thuận lợi hay ủng hộ việc thực hiện thi
hành chính sách ở tất cả các cấp; Khi chính sách đã được thực hiện sau một
giai đoạn thì cần vận động cho việc điều chỉnh, bổ sung để chính sách sát với
thực tế cuộc sống – hoặc thậm chí đề nghị chấm dứt chính sách đó.
8


1.1.3. Vai trò của vận động hành lang
Thứ nhất, vận động hành lang đóng vai trị như một chiếc cầu nối giữa
xã hội với các nhà hoạch định chính sách. Vận động hành lang đem lại cơ hội
tiếp xúc, trao đổi và lắng nghe lẫn nhau giữa công chúng với các quan chức
trong chính phủ, từ đó, các chính sách được đưa ra sẽ phù hợp và thiết thực
hơn.
Thứ hai, vận động hành lang là một công cụ giúp cho những nhóm
cơng chúng cụ thể có thể góp phần tham gia vào q trình hoạch định chính
sách của nhà nước. Vận động hành lang là biện pháp hiệu quả nhất để các
nhóm lợi ích bảo vệ tối đa lợi ích của mình, hạn chế đến mức thấp nhất các
chính sách bất lợi.
Thứ ba, vận động hành lang còn là con đường giúp các chính phủ nước
ngồi tiếp cận dễ dàng hơn với chính phủ và các chính sách của một quốc gia,

thông qua việc thuê các nhà vận động hành lang chun nghiệp. Nhiều chính
phủ nước ngồi đã thành cơng trong việc giải quyết các mâu thuẫn, những vấn
đề nhạy cảm trong quan hệ hai nước vốn khơng dễ hóa giải được trên các bàn
đàm phán ngoại giao.
Tuy nhiên, vận động hành lang cũng bị chỉ trích là làm phân tán quyền
lực của nhà nước, và đơi khi lợi ích quốc gia của một nước bị các nhóm sắc
tộc hay chính phủ nước ngồi ảnh hưởng. Bên cạnh đó, vận động hành lang
cũng khơng thật sự cơng bằng và tích cực khi chính sách quốc gia bị tác động
bởi một nhóm thiểu số cơng dân có quyền lực và sức mạnh về tài chính.
1.2. Sự cần thiết và tác động của vận động hành lang
1.2.1. Sự cần thiết của vận động hành lang
VĐHL là cần thiết trong các thiết dân chủ vì:
Thứ nhất, xuất phát từ nhu cầu thơng tin từ phía các nhà hoạch định
chính sách. Trong các xã hội hiện đại ln tồn tại các lợi ích khác nhau, thậm

9


chí mẫu thuẫn nhau. Thực chất hoạt động hoạch định và thực hiện chính sách
là hoạt động phân phối lại lợi ích thơng qua cơng cụ pháp luật. Đó là công
việc của các nghị sỹ - thành viên của nghị viên. Các chính sách mà nghị viện
ban hành đều liên quan đến hàng hóa cơng, và đơi khi các quyết định này có
thể mang lại lợi ích cho một cá nhân nào đó, đồng thời làm tồn tại đến lợi ích
cá nhân khác. Đây là động cơ liên kết các cá nhân có cùng lợi ích tạo thành
các nhóm áp lực nhằm gây ảnh hưởng tới hoạt động hoạch định chính sách
của nghị viện. Các quyết định chính sách thực chất là những hành vi về việc
làm hay không làm việc gì. Và ranh giới giữa hành vi làm và khơng làm đó
chính là nơi các chun gia VĐHL tham gia vào như một chất xúc tác quan
trọng ảnh hưởng đến hành vi của nghị viện. Sự liên đới mật thiết giữa người
ban hành chính sách và người thụ hưởng chính sách chính là nhân tố khách

quan cho sự ra đời và tồn tại của hoạt động VĐHL. Đây cũng là lý do giải
thích tại sao VĐHL là cần thiết.
Thứ hai, xuất phát từ nhu cầu tham gia vào quá trình chính sách để
thực hiện hiệu quả hơn quyền lực của cơng dân. VĐHL giúp cho q trình
thực hiện quyền lực của người dân hiệu quả hơn. Trong các thiết chế dân chủ,
quyền công dân được quy định trong Hiến pháp rất lớn, nhưng trên thực tế, họ
khơng có đủ điều kiện để thực hiện một cách hiệu quả những quyền lực ấy
của mình. Nói đúng hơn là thiếu cơ chế thiết thực để người dân thực hiện triệt
để hiệu quả quyền cơng dân của mình. Để bày tỏ quan điểm hay nguyện vọng
của mình, đơi khi, họ khơng có khả năng tiếp cận chính thức với những cơ
quan, hay cá nhân có thẩm quyền cũng như khả năng diễn đạt thuyết phục,
thuyết phục, vì vậy, họ chỉ cịn cách khơng chính thức thơng qua các cá nhân
hay tổ chức trung gian. Và đây cũng là lý do khiến cho hoạt động VĐHL cần
thiết phải ra đời như là cầu nối giữa người dân và chính quyền. Chính vì vậy,
VĐHL là cần thiết để xác lập và lựa chọn những ưu tiên.

10


Thứ ba, VĐHL là phương tiện giúp củng cố quyền lực của các chủ thể
cầm quyền. Mặc dù đôi khi có sự căng thẳng giữa các chuyên gia VĐHL với
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng giữa họ vẫn tồn tại mối quan hệ
cộng sinh, phụ thuộc lẫn nhau. Các nhà VĐHL cần chính sách có lợi cho thân
chủ của mình nên họ phải làm việc với các chủ thể quyền lực cơng, tác động
tới q trình ra chính sách. Các nhà VĐHL là những người kiểm sốt được
nguồn thông tin liên quan đến các vấn đề mà họ vận động. Vì vậy, họ cung
cấp số liệu cho các chủ thể quyền lực công một cách dễ dàng nhất – thơng tin
từ bên ngồi về những vấn đề mà các cơ quan cơng quyền đang bàn bạc hoặc
có thể đang bàn tới. Trong khi đó các chủ thể quyền lực cơng lại khơng có
điều kiện để tập hợp thơng tin. Do đó, họ phải dựa vào nhân lực ưu thế của

các nhà vận động để kiến nghị giải pháp cho các vấn đề, dự thảo luật, cung
cấp chứng cớ, phát triển chiến lược luật, thuyết phục quốc hội, chính phủ hay
tịa án tán thành, đơi khi cịn nêu những vấn đề khác nữa. Bởi vậy, các chủ thể
quyền lực công cũng rất chú ý “đầu tư quan hệ” với các chuyên gia này.
1.2.2. Tác động của vận động hành lang
* Tác động tích cực của vận động hành lang
Thứ nhất, VĐHL là một kênh quan trọng cung cấp thơng tin cho các
nhà hoạch định chính sách.
Hoạch định chính sách là một khoa học, đòi hỏi phải thực hiện theo
một quy trình bao gồm nhiều cơng đoạn: xác định vấn đề, thu thập thơng tin,
xây dựng phương án chính sách, lựa chọn phương án tối ưu, ra quyết định
chính sách, tổ chức thực hiện chính sách, kiểm tra thực hiện và tổng kết đánh
giá thực hiện. Trong các khâu đó, thu thập thơng tin có ý nghĩa đặc biệt
nghiêm trọng. Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển, tính chun mơn
hóa ngày càng cao, sự bùng nổ các phương tiện điện tử, truyền thơng thì các
thơng tin ngày càng trở thành yếu tố quan trọng đảm bảo cho thành cơng của
q trình hoạch định chính sách, nhưng cũng chính điều này làm cho việc lựa
11


hcojn và xử lý các thông tin trở nên phức tạp. Các quan chức nhà nước do
phải tập trung thời gian vào công việc khác nhau nên việc cập nhật đầy đủ và
tồn diện các thơng tin là điều khơng dễ dàng. Do đó, trong q trình hoạch
định chính sách, họ phải cần dựa vào nguồn thông tin từ các nhóm VĐHL.
Xuất phát từ lợi ích của mình, các nhóm vận động đầu tư nhiều thời gian, tiền
bạc để tập hợp tư liệu, thu thập thông tin cung cấp cho các vị quan chức làm
chính sách.
Trong bối cảnh chính trị ngày càng phức tạp, các nhà VĐHL buộc phải
mở rộng lĩnh vực hoạt động, từ ủng hộ các chính sách và gây ảnh hưởng tới
các quan chức nhà nước đến thu thập và phân tích thơng tin cho q trình hoạt

động chính sách. Tuy nhiên, phải thấy rằng, VĐHL khơng chỉ tác động đến
một khâu nào đó trong quy trình hoạch định chính sách mà nó tác động vào
tất cả các khâu trong quy trình đó, làm cho chúng trở nên minh bạch và dân
chủ hơn.
Thứ hai, vận động hành lang giúp cho ý chí, nguyện vọng của nhân
dân đến được với chính quyền
Dù phụ thuộc vào quy định của pháp luật và đặc trưng trong tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước của các quốc gia, song về cơ bản, ở hầu hết
các quốc gia hiện nay, nguồn của sáng kiến luật là tương đối đa dạng và mở.
Theo đó, các chủ thể khác nhau trong đời sống cộng đồng như các tổ chức,
các công ty, doanh nghiệp hay thậm chí là các cá nhân đều có thể đề đạt ý
nguyện của mình lên cơ quan lập pháp. Tuy nhiên, sẽ không thực tế nếu yêu
cầu một vị dân biểu, một nghị sĩ hay các nhân viên của họ dành thời gian nói
chuyện với từng cử tri, từng tổ chức hoặc đoàn thể hiện diện trong đơn vị bầu
cử của họ. Hơn nữa, không phải cử tri nào cũng có khả năng chuyển tải đến
nghị sĩ những thơng điệp rõ ràng, chính xác, ngắn gọn, đi thẳng vào nội dung,
mục đích cần đạt được nhằm thu hút sự chú ý của họ.Vì vậy, các tổ chức,
cơng ty hay các nhóm cử tri có cùng lợi ích phải đến các nhà VĐHL. Đây là
12


những người ít nhiều gắn bó với hoạt động ở nghị trường, có thể dành thời
gian để tiếp xúc, tác động đến các nghị sĩ, có mối quan hệ cũng như kinh
nghiệm trong việc vận động chính sách. Một chuyên gia VĐHL cơng có thể
nói thay cho nhiều người khi trình bày các quan điểm chính sách trước cơ
quan lập pháp. Các chuyên gia VĐHL cũng biết phải chuẩn bị nội dung thông
điệp như thế nào, thông qua phương thức gì để gây sức ép hay tác động hiệu
quả đến các nghị sĩ.
Thứ ba, vận động hành lang góp phần giám sát và phản biện xã hội đối
với Nhà nước

Nhờ vào tính chun nghiệp hóa của VĐHL, những vấn đề của các
nhóm lợi ích trong xã hội, bất kể đó là nhóm đa số hay thiếu số, đại diện cho
các lợi ích phổ thơng hay chỉ là những lợi ích riêng lẻ trong xã hội đều có thể
được phản ánh một cách rõ ràng, chính xác đến các nhà lập pháp. Các cơ quan
có thẩm quyền hơng thể hồn tồn tự do trong việc hoạch định chính sách mà
họ cịn phải chịu nhiều áp lực từ các nhóm lợi ích trong xã hội. Vì vậy, VĐHL
cơng trở thành một trong những cầu nối, là kênh liên lạc giữa các nhóm lợi
ích và nhà nước, làm cho q trình ra quyết định thêm minh bạch hơn bởi lẽ
thông qua các kênh và cách thức VĐHL, các vấn đề chính sách sẽ được xem
xét, cân nhắc và lựa chọn kỹ lưỡng hơn. Quá trình này cũng làm tăng cơ hội
để các chủ thể trong đời sống xã hội tham gia giám sát và phản biện các chính
sách của nhà nước.
Thứ tư, vận động hành lang góp phần thúc đẩy dân chủ trong xã hội
Dù muốn hay không, VĐHL cũng sẽ thu hút sự tham gia của một bộ
phận dân chúng vào quá trình chính sách, thể hiện tính tự do, chủ động của
nhân dân trong quan hệ với nhà nước, củng cố tính dân chủ. Thơng qua hoạt
động VĐHL, các chủ thể trong xã hội đề xuất ý kiến, trình bày quan điểm,
phản ánh lợi ích của mình vào q trình xây dựng chính sách, pháp luật. Đó

13


chính là một kênh quan trọng giúp cho các chủ thể có được mơi trường thuận
lợi để phát huy được tính dân chủ trong xã hội, là một bổ sung hợp lý và cần
thiết cho thiết chế dân chủ. Hơn nữa, các chính sách của nhà nước suy đến
cùng là để tạo động lực cho sự phát triển xã hội. Các chủ thể khác nhau sẽ
theo đuổi những lợi ích khác nhau nhưng sẽ có những lợi ích chính đáng buộc
nhà nước phải quan tâm, đáp ứng. Có những lợi ích chính đáng của các nhóm
chủ thể riêng biệt trong xã hội nhưng lại khơng mâu thuẫn, thậm chí phù hợp
với lợi ích chung của cộng đồng, xã hội. Những lợi ích như vậy cần và nên

được đảm bảo. Các chủ thể có quyền trong việc bảo vệ lợi ích chính đáng đó
của mình. Do đó, họ có quyền vận động nhà nước vì họ và cho họ. Trong
trường hợp nhà nước ban hành chính sách để thực hiện những ưu tiên, mong
muốn của nhà nước nhưng đồng thời cũng mang lại lợi ích ho các nhóm chủ
thể nhất định trong xã hội, khi ấy, VĐHL công là cần thiết và biểu hiện khía
cạnh tích cực trong việc thúc đẩy tích cực.
* Tác động tiêu cực của vận động hành lang
Một là, vận động hành lang gây lãng phí nguồn lực xã hội
Thật khó có thể tưởng tượng hoạt động VĐHL có thể thực hiện được
khơng nếu như khơng có tiền. Tài chính đóng một vai trị vơ cùng quan trọng
trong quá trình vận động, và trong nhiều trường hợp vai trị này có thể quyết
định. Điều đó cũng có nghĩa là để duy trì hoạt động VĐHL, các chủ thể vận
động phải chi rất nhiều tiền. Không quá khi nói rằng vận động chính sách
cơng bị chi phối bởi tiền bạc. Tài chính cho VĐHL ơng ở các quốc gia trong
thời gian qua đều tăng lên nhanh chóng theo từng vị vận động bao gồm cả chi
phí cho vận động và chi phí chi trả cho các chuyên gia vận động. Chi tiêu cho
VĐHL có thể là một sự đầu tư khôn ngoan của các đối thủ chủ thể vì nó có có
thể giúp cho chủ thể nào đó có lợi ích khổng lồ nếu như họ vận động thành
cơng, nhưng xét trên bình diện xã hội và tính tổng nguồn lực tài chính được

14


sử dụng để thúc đẩy hay ngăn cản một chính sách nào đó thì đó có thể là một
sự lãnh phí rất lớn, nhất là có tính đến các chi phí cơ hội khác.
Hai là, vận động hành lang góp phần làm tăng bất bình đảng trong xã
hội.
Về lý thuyết, ở những quốc gia thừa nhận hoạt động VĐHL và luật hóa
hoạt động này thì tất cả các chủ thể đều có cơ hội tác động làm thay đổi chính
sách theo mong muốn của mình. Tuy nhiên, trên thực tế, VĐCS cơng cần có

nhiều nỗ lực và điều kiện như tài chính, quan hệ, hiểu biết...Do đó, tùy thuộc
vào vị thế của các chủ thể trong đời sống xã hội mà khả năng và cơ hội
VĐHL có sự khác nhau. Theo đó, đa phần các chủ thể có năng lực tài chính
thì cũng có tiếng nói trong xã hội, có điều kiện để thuê đại diện bảo vệ và vận
động cho lợi ích của mình. Trong khi đó, những chủ thể thuộc nhóm nghèo,
nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội lại cũng là nhóm ít có điều kiện
và cơ hội để phản ánh và bảo vệ lợi ích của mình trong chính sách. Chính
điều này đã làm khoét sâu và làm gia tăng sự bất bình đẳng trong xã hội mà
khi VĐHL trở thành công cụ thường xuyên và hiệu quả trong tay những
người giàu và bảo vệ lợi ích ngày càng nhiều hơn cho họ, cịn nhóm yếu thế
trong xã hội ngày càng bị đẩy vào tuyệt vọng và bế tắc.
Ba là, vận động hành lang là môi trường cho hối lộ, tham nhũng
Hoạt động VĐHL một khi đã bị chi phối bởi yếu tố tiền bạc thì rất dễ
dẫn đến hậu quả là làm tha hóa đội ngũ quan chức, cơng chức viên nhà nước
cả về mặt đạo đức lẫn nghề nghiệp. Khi đó, đội ngũ này sẽ trở thành “tù nhân
các nhà vận động”, sẵn sàng tham gia vào “mua bán chứng khốn chính trị”.
Họ sẽ không phải là những người đại diện cho tiếng nói đồng tiền, sức mạnh
của các đồng tiền tư bản.
Mỹ là một ví dụ điển hình. Ở Mỹ, có một thực tế là phần lớn nhà lập
pháp, hành pháp sau khi nghỉ hưu vẫn có thể được trả lương cao khi họ
15


chuyển sang làm cho chuyên gia VĐHL. Cái đó gọi là “ hối lộ để chiều lòng”.
Vậy nên khi còn đương nhiệm, những người này sẵn sàng đặt lợi ích cá nhân
lên trên lợi ích cơng nhằm làm hài lịng các ông chủ trong tương lai. Không
những thế họ sẵn sàng nhận phong bì tiền mặt của các nhà VĐHL dưới danh
nghĩa các khoản “đóng góp vào vận động” ngay tại văn phòng Quốc hội, Nhà
Trắng,...Họ lợi dụng việc tham dự các buổi chiêu đãi, các buổi hội thảo, chơi
gold, đi du lich,... để kiếm thêm thu nhập, đánh bóng tên tuổi,... Rõ ràng đó là

những hình thức và có thể là những biến tướng của nạn tham những.
Bốn là, vận động hành lang có thể dẫn đến nguy cơ bóp méo hay bế tắc
chính sách
Hoạt động VĐHL có thể làm tăng vai trị và sức mạnh của các nhóm
lợi ích cũng như quan chức được bầu đồng thời rất có thể sẽ làm suy yếu di
quyền lực nhà nước. Chính địi hỏi mạnh mẽ của các nhóm lợi ích cạnh tranh
với nhau dẫn đến những tranh cãi có thể kéo dài trong nhiều năm xung quanh
việc xây dựng và ban hành chính sách. Rõ ràng là một chính sách mà để kéo
dài trong nhiều năm tất sẽ dẫn tới hậu quả là mất đi cơ hội phát triển, kìm hãm
sự tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội. Do nguồn lực của nhà nước là có
hạn, nhà nước chỉ có thể đáp ứng được yêu cầu của một nhóm đối tượng nhất
định nên một chính sách được đưa ra thường mang lại những lợi ích cho
nhóm này và gây tổn hại đến lợi ích của nhóm khác. Vì vậy, các nhóm lợi ích
càng mạnh thì sự đấu tranh giữa chúng càng tăng và áp lực lên quyền lực nhà
nước càng lớn. Do đó khả năng bế tắc trong chính sách càng cao.
1.3.Chủ thể, đối tượng và các nguyên tắc vận động hành lang
1.3.1.Chủ thể vận động hành lang
Chủ thể thực hiện vận động hành lang thường là các nhóm lợi
ích (interest group) và các chun gia vận động hành lang (lobbyist). Nhóm
lợi ích là những nhóm cơng dân tập hợp lại với nhau dựa trên cơ sở lợi ích
chung về kinh tế, sắc tộc… Các chuyên gia vận động hành lang thường là các
16


nghị sĩ, cựu nghị sĩ hoặc các quan chức cấp cao của chính quyền, những luật
sư giàu kinh nghiệm… Chính vì vậy, đây là những nhân vật có khả năng tiếp
cận với các quan chức cấp cao trong chính phủ, duy trì được các mối quan hệ
chính trị và có khả năng gây ảnh hưởng bằng uy tín của mình.
1.3.2. Đối tượng vận động hành lang
Đối tượng của các hoạt động VĐHL bao gồm các nghị sĩ, quan chức

chính phủ, thẩm phán, các cơng chức có thẩm quyền,... đương nhiệm, thậm
chí là cả những người đứng đầu nhánh hành pháp ở các nước như tổng thống
hay thủ tướng. Họ chính là những người được nhân dân ủy quyền, thay mặt
cho nhân dân trong việc thực thi quyền lực nhà nước trong đó có việc thảo
luận và thơng qua các chính sách công. Tuy nhiên, những thành phần kể trên
chỉ trở thành đối tượng các hoạt động chính sách khi họ là những người được
nhà nước giao cho một thẩm phán nhất dịnh để có thể sáng kiến luật, thảo
luận và thông qua luật, thực thi luật pháp, tác động lên q trình xây dựng
chính sách pháp luật, thậm chí có thể cung cấp thông tin.
1.3.3. Các nguyên tắc vận động hành lang
Theo các nhà nghiên cứu, VĐHL yêu cầu phải bảo đảm một số ngun
tắc cơ bản sau đây:
Tính cơng khai: Các nhà VĐHL phải đăng ký với cơ quan có thẩm
quyền về hoạt động của mình, về các hợp đồng ký với khách hàng. Đây là
điều kiện để nhà nước có thể quản lý và bảo đảm cho những hoạt động này
tuân thủ các khuôn khổ pháp lý đã được ban hành.
Tính minh bạch: Minh bạch giúp xây dựng lòng tin và tạo ra những nhà
VĐHL huyên nghiệp. Nguyên tắc này đòi hỏi nhà VĐHL và khách hàng đều
phải rất rõ ràng và cởi mở ề mục tiêu và lợi ích của mỗi bên. Cơng khai hóa
các giao dịch là cách làm thiết thực để giám sát việc gây ảnh hưởng của các tổ
chức VĐHL, bảo đảm cho các chính sách phục vụ lợi ích của cộng đồng và xã
hội.
17



×