Tải bản đầy đủ (.docx) (30 trang)

Tiểu luận những biểu hiện của vận động hành lang trong hoạch định chính sách công ở việt nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (189.99 KB, 30 trang )

TIỂU LUẬN
MÔN VẬN ĐỘNG HÀNH LANG
Đề tài
NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA VẬN ĐỘNG HÀNH LANG
TRONG HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

1

1.Tính cấp thiết của đề tài

1

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

1

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

2

3.1. Mục đích nghiên cứu

2

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

2



4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

3

4.1. Đối tượng ngiên cứu

3

4.2. Phạm vi nghiên cứu

3

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

3

5.1. Cơ sở lý luận

3

5.2. Phương pháp nghiên cứu

3

6. Kết cấu của đề tài

4

NỘI DUNG


5

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VẬN ĐỘNG HÀNH LANG
TRONG HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CƠNG
5
1.1.Khái niệm và mục đích vận động hành lang trong hoạch định chính sách
cơng.
5
1.1.1.Khái niệm vận động hành lang

5

1.1.2. Mục đích vận động hành lang trong hoạch định chính sách cơng

7

1.1.3. Vai trị của vận động hành lang trong hoạch định chính sách cơng 9
1.2.Chủ thể, đối tượng và các nguyên tắc vận động hành lang trong hoạch
định chính sách cơng
11
1.2.1.Chủ thể vận động hành lang trong hoạch định chính sách cơng

11

1.2.2. Đối tượng vận động hành lang trong hoạch định chính sách cơng 11
1.2.3.Ngun tắc vận động hành lang trong hoạch định chính sách

12


1.3. Sự cần thiết và quy trình của VĐHL trong hoạch định chính sách cơng
14


1.3.1. Sự cần thiết của VĐHL trong hoạch định chính sách cơng

14

1.3.2. Quy trình vận động hành lang trong hoạch định chính sách cơng 14
CHƯƠNG II: NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA VẬN ĐỘNG HÀNH LANG
TRONG HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
15
2.1. Những quy định có liên quan đến vận động hành lang trong hoạch định
chính sách cơng ở Việt Nam
15
2.2. Vận động hành lang trong hoạch định chính sách cơng của các chủ thể
trong và ngồi nước ở Việt Nam
16
2.3. Vận động hành lang trong hoạch định chính sách cơng của các chủ thể
Việt Nam ở nước ngoài
17
2.4. Đặc điểm của vận động hành lang trong hoạch định chính sách cơng ở
Việt Nam hiện nay
17
CHƯƠNG III: ĐIỀU KIỆN, THÁCH THỨC VÀ XU HƯỚNG PHÁT
TRIỂN VẬN ĐỘNG CHÍNH SÁCH Ở VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI
18
3.1. Những điều kiện cho vận động chính sách ở Việt Nam

18


3.2. Những thách thức với vận động hành lang trong hoạch định chính sách
công ở Việt Nam
19
3.3. Xu hướng phát triển vận động chính sách cơng ở Việt Nam thời gian tới
23

KẾT LUẬN

25

TÀI LIỆU THAM KHẢO

26


MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Việc xây dựng và phát triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi
hỏi phải khoa học, khách quan và chuyên nghiệp trong hoạch định chính sách
cơng. Nhằm giảm thiểu sự xuất hiện rào cản giữa Nhà nước và cơng dân trong
q trình thực thi quyền lực công, ra các quyết định chung, cơ chế vận động
hành lang trong hoạch định chính sách cơng được hình thành và phát triển.
VĐHL trong hoạch định chính sách cơng đã được áp dụng và luật hóa ở nhiều
quốc gia trên thế giới từ lâu nhưng vẫn còn là một vấn đề mới ở Việt Nam.
Việt Nam đang trong quá trình phát triển, hội nhập ngày càng sâu rộng vào
đời sống quốc tế, cùng với xu thế hội nhập, xây dựng Chính phủ kiến tạo,
hành động, liêm chính vì dân thì nhu cầu VĐCS cơng là khách quan. Ở Việt
Nam, dù ở mức độ còn hạn chế cả trong lý luận và đời sống chính trị thực
tiễn, VĐHL trong hoạch định chính sách cơng cũng đã tồn tại và ngày càng

được thừa nhận. Bởi vậy, nghiên cứu, tham khảo những kinh nghiệm trên thế
giới là yêu cầu tất yếu. Vấn đề này mặc dù được đặt ra cấp thiết như thế,
nhưng cho đến nay, chưa nhiều công trình khai thác trực tiếp hướng nghiên
cứu này. Chính vì vậy, tác giả xác định đây còn là một mảnh đất trống cần
khai phá trong nghiên cứu khoa học. Và điều đó cũng thơi thúc tác giả lựa
chọn đề tài “Những biểu hiện của vận động hành lang trong hoạch định chính
sách cơng ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận mơn vận động hành lang
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến đề tài nghiên cứu, đã có một số cơng trình đã cơng bố.
Sau đây là những cơng trình điển hình:
Sách chun khảo “Vận động hành lang trong đời sống chính trị các
nước phương Tây” của PGS,TS Lưu Văn An, Nhà xuất bản Chính trị - Hành
chính Hà Nội, 2010.
1


Đề tài khoa học “ Công nghệ vận động hành lang” do chủ nhiêm
TS Phạm Thị Hoa, khoa Chính trị học, Học viện Báo chí Và Tuyên truyền,
2017.
“Một số yếu tố ngồi chính phủ trong q trình hoạch định chính
sách đối ngoại của Mĩ”, Diệu Anh, tạp chí Nghiên cứu quốc tế, 2000.
“Vận động hành lang trong hoạt động lập pháp các nước và xu
hướng ở Việt Nam”, Nguyễn Đăng Dung, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, 2006.
“ Vận động chính sách ở Việt Nam – những vướng mắc và giải
pháp tháo gỡ”, Vũ Xuân Tiền, 2008.
Tuy đã có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến vận động hành
lang, vận động chính sách nhưng có ít đề làm rõ những biểu hiện của vận
động hành lang trong hoạch định chính cơng ở Việt Nam hiện nay, vì vậy tác
giả đã chọn đề tài này để nghiên cứu và làm rõ hơn.

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung hệ thống và làm rõ những vấn đề cơ bản về VĐHL
trong hoạch định chính sách cơng như khái niệm VĐHL rong h, mục đích và
sự cần thiết VĐHL, chủ thể, đối tượng và phương thức VĐHL, khảo sát
những biểu hiện VĐHL trong hoạch định chính sách cơng ở Việt Nam hiện
nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục tiêu trên, đề tài tập trung thực hiện những nhiệm vụ cơ bản
như sau:
2


- Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về vận động hành lang, trong đó
hệ thống và phân tích khái niệm vận động hành lang, xác định mục đích, khái
qt những bước cơ bản trong q trình vận động hành lang.
- Phân tích những biểu hiện của vận động hành lang trong hoạch định
chính sách ở Việt Nam hiện nay.
- Từ thực tiễn đó, đưa ra những giải pháp khắc phục hạn chế của vận
động hành lang trong hoạch định chính sách ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1. Đối tượng ngiên cứu
Nghiên cứu trực tiếp biểu hiện của VĐHL trong hoạch định chính sách
cơng ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề ra những giải pháp khắc phục hạn chế
những biểu hiện của vận động hành lang trong hoạch định chính sách ở Việt
Nam hiện nay. .
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Ngoài cơ sở lý luận của vận động hành lang trong hoạch định chính
sách cơng, đề tài tập trung làm rõ những biểu hiện của vận động hành lang
trong hoạch định chính sách cơng ở Việt nam hiện nay. Trên cơ sở đó, đề tài

nêu một số giải pháp để khắc phục những hạn chế của biểu hiện vận động
hành lang trong hoạch định chính sách.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền lực chính trị của
nhân dân lao động, về quyền lực nhà nước, thực thi và kiểm soát quyền lực
nhà nước;
3


- Một số lý thuyết VĐHL; hoạch định chính sách công.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Đề tài sử dụng phương pháp luận Mác- Lênin, cụ
thể là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để có những nhìn
nhận khách quan, tồn diện về các biểu hiện của VĐHL trong hoạch định
chính ở Việt Nam hiện nay.
- Phương pháp riêng: Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng
tổng hợp các phương pháp như logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh,
nghiên cứu tài liệu trong đó phương pháp logic – lịch sử và phân tích – tổng
hợp kết hợp với nghiên cứu các tài liệu để tiếp cận lịch sử hình thành và phát
triển của VĐHL trong hoạch định chính sách, thao tác tư duy về những biểu
hiện của thực tiễn của VĐHL trong hoạch định chính sách.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài cịn có 3
chương, 10 tiết.

4


5



NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VẬN ĐỘNG HÀNH
LANG TRONG HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CƠNG
1.1.Khái niệm và mục đích vận động hành lang trong hoạch định chính
sách công.
1.1.1.Khái niệm vận động hành lang
Dù được thừa nhận hay khơng thì vận động hành lang vẫn là một thực
tế khơng thể thiếu trong đời sống chính trị, nó phát triển “đồng hành” cùng
với sự phát triển của hệ thống chính trị tại mỗi quốc gia, thậm chí vượt ra
ngồi khuôn khổ các quan hệ trong nội bộ của một quốc gia và trong khơng ít
trường hợp, trở thành những vấn đề quốc tế có tính thời sự. Vậy, vận động
hành lang là gì?
Theo từ điển, vận động hành lang (lobby) là:
Lobby (danh từ): hành lang ở Nghị viện (a lobby politician: người hoạt
động chính trị ở hành lang hoặc người hoạt động chính trị ở hậu trường).
Lobby (động từ): vận động ở hành lang (đưa ra hoặc thông qua một đạo
luật ở Nghị viện) hoặc lui tới hành lang Nghị viện tranh thủ lá phiếu của nghị
sĩ.
Vận động hành lang là cố gắng gây ảnh hưởng đến suy nghĩ của những
nhà lập pháp hay các quan chức chính quyền khác để ủng hộ hay phản đối
một vấn đề cụ thể, như vận động hành lang để bảo vệ môi trường tốt hơn, vận
động hành lang chống lại sự gia tăng của vũ khí hạt nhân.
Dưới góc độ của những nhà nghiên cứu:
Vận động hành lang (lobby) về nghĩa đen gốc tiếng Anh, mọi người
đều biết đó là hành lang rộng của nhà Quốc hội, là nơi chờ đợi trong tiền sảnh
6



của các khách sạn hay toà nhà lớn. Nhưng lobby cịn có nghĩa bóng rất thơng
dụng, đó là “vận động người có chức, có quyền nhằm giúp mình đạt được
mục đích gì đó về kinh tế, chính trị, xã hội,...”.
Vận động hành lang nghĩa là nỗ lực có chủ ý để gây ảnh hưởng đến các
quyết định chính trị thơng qua nhiều hình thức vận động nhằm vào các nhà
hoạch định chính sách.
Nói một cách đơn giản, vận động hành lang là thuyết phục người được
vận động ban hành chính sách theo ý muốn của người vận động. Vấn đề cần
vận động có thể là một dự luật hoặc đơn giản chỉ để yêu cầu nghị sĩ tiếp xúc
thường xuyên hơn với một nhóm cử tri nào đó. Nói một cách khái quát thì vận
động hành lang là đưa ra chính kiến của một nhóm lợi ích đối với một chính
sách của Nhà nước và tác động để biến đổi chính sách đó theo nhu cầu của
nhóm lợi ích.
Dưới góc độ của các chuyên gia vận động hành lang:
Vận động hàng lang là vận động giùm cho người khác về một vấn đề
mà người đó khơng hiểu rõ đường đi nước bước, họ không biết phải vận động
như thế nào, vận động ai để đề đạt được ý nguyện của họ lên cơ quan lập
pháp (Ann Sullivan, chuyên viên vận động hành lang ở Washington).
Vận động hành lang là hoạt động có hệ thống và được thực hiện một
cách khơng chính thức để tác động đến những người có thẩm quyền ra quyết
định. Tính khơng chính thức ở đây được hiểu rằng, vận động hành lang tuy
không phải là một thủ tục bắt buộc của quy trình ra chính sách, quyết định
nhưng lại có tác dụng bổ sung cho quá trình ra chính sách, quyết định của
người có thẩm quyền. Bởi lẽ, vận động hành lang mang đến cho người có
thẩm quyền cái nhìn tồn diện, đa chiều với đầy đủ thông tin, chứng cứ cũng
như ý kiến, kiến nghị của cử tri và xã hội về vấn đề đang được xem xét, quyết
định, trên cơ sở đó, họ đưa ra những quyết định có lợi cho xã hội, cử tri hoặc
7



các nhóm lợi ích,… Chính vì vậy, có thể nói vận động hành lang là hoạt động
“hậu trường”, nhưng có vai trò bổ sung, tác động mạnh mẽ đến tất cả các
cơng đoạn của q trình ra quyết định.
Vận động hành lang là một trong những hoạt động hợp pháp để tiếp cận
với Quốc hội, các cơ quan của Chính phủ và chính quyền địa phương vì lợi
ích của cơng chúng .
Như vậy, vận động hành lang được hiểu là những hoạt động có tính hệ
thống nhằm tiếp cận, thuyết phục, gây ảnh hưởng, tác động đến quá trình ra
quyết định của cơ quan lập pháp, hành pháp, các nghị sĩ, quan chức và những
người có thẩm quyền khác trong bộ máy nhà nước để họ ủng hộ hoặc không
ủng hộ chính sách, dự luật, chương trình, kế hoạch, hợp đồng, chứng chỉ, sự
đề cử, bổ nhiệm hoặc một vấn đề nào đó vì lợi ích của cộng đồng, các nhóm
lợi ích hoặc của cá nhân.
1.1.2. Mục đích vận động hành lang trong hoạch định chính sách cơng
Mục đích trực tiếp của VĐHL trong hoạch định chính sách cơng là có
được các quyết định chính sách từ các cơ quan nhà nước, các cơ quan có thẩm
quyền theo hướng có lợi cho mình. Để đạt được điều đó, VĐHL có thể tham
gia vào tất cả các khâu, các giai đoạn của quy trình chính sách.
Trước hết, VĐHL trong hoạch định chính sách cơng thuyết phục các
nhà hoạch định chính sách rằng một vấn đề nào đó nên được lựa chọn là vấn
đề chính sách để đưa vào chương trình nghị sự quốc gia cũng như nỗ lực
nhằm ngăn chặn một vấn đề khác trở thành vấn đề chính sách.
Thứ hai, VĐHL trong hoạch định chính sách cơng tác động vào giai
đoạn thảo luận chính sách nhằm đưa ra những phương án chính sách và lựa
chọn tối ưu sau khi chính sách đã được đưa vào chương trình nghị sự và đang
trong quá trình bàn bạc, thảo luận trước Quốc hội hay Nghị viện.

8



Thứ ba, VĐHL rong hoạch định chính sách tác động vào giai đoạn ra
quyết định chính sách nhằm thúc đẩy việc ban hành, các thủ tục pháp lý cần
thiết để chính sách chính thức được thơng qua hoặc ngược lại, ngăn cản hoặc
trì hỗn việc thơng qua một chính sách nào đó mà bất lợi cho chủ thể vận
động.
Thứ tư, VĐHL trong hoạch định chính sách tác động vào giai đoạn
thực thi chính sách nhằm làm cho q trình thực thi chính sách đúng mục đích
nếu việc thực hiện chính sách có lợi cho chủ thể. Đơi khi VĐHL ở giai đoạn
thực thi chính sách cũng là để ngăn cản việc thực thi một chính sách nào đó
hoặc gây áp lực để làm cho việc thực thi chính sách đi chệch mục đích ban
đầu nhưng lại có lợi cho chủ thể vận động.
Cơ sở quan trọng cho toàn bộ quá trình này chính là việc cung cấp
thơng tin và phân tích, xử lý thơng tin theo hướng có lợi cho nhóm vận động
mà lại có sức thuyết phục các chủ thể hoạch định và thực thi chính sách. Như
vây, VĐHL trong hoạch định chính sách có mục đích là cung cấp những
thông tin, tư liệu cho các quan chức nhà nước có thẩm quyền, các chính
khách,... từ đó tác động đến q trình hoạch định chính sách, ban hành những
quyết định có lợi cho xã hội hoặc các cá nhân hay nhóm lợi ích có liên quan.
Mục tiêu cuối cùng của VĐHL rong hoạch định chính sách là đạt được sự
thay đổi cụ thể trong các chính sách, các hoạt động, các chương trình và việc
phân bổ nguồn lực mang lại lợi ích cho người tham gia vào q trình. Nhưng
trên thực tế, tùy bối cảng mà mục đích vận động có thể có sự điều chỉnh. Cụ
thể là, khi chưa có chính sách thì cần vận động để hướng tới việc soạn thảo,
ban hành chính sách mới; Khi đã có chính sách thì cần vận động nhằm vào
việc tạo môi trường thuận lợi hay ủng hộ việc thực hiện thi hành chính sách ở
tất cả các cấp; Khi chính sách đã được thực hiện sau một giai đoạn thì cần vận
động cho việc điều chỉnh, bổ sung để chính sách sát với thực tế cuộc sống –
hoặc thậm chí đề nghị chấm dứt chính sách đó.

9



1.1.3. Vai trò của vận động hành lang trong hoạch định chính sách cơng
Hoạt động vận động hành lang trong hoạch định chính sách cơng là q
trình kiến nghị đến chính quyền để gây ảnh hưởng đến việc ra chính sách,
quyết định. Vận động hành lang rong hoạch định chính sách theo đúng nghĩa
được ghi nhận trong các văn bản pháp luật có mục đích rất trong sáng và có
vai trị, tác dụng tích cực đến hoạt động của chính quyền nói chung và cụ thể
là q trình hoạch định chính sách nói riêng. Vai trị của vận động hành lang
thể hiện ở các điểm sau đây:
Thứ nhất, vận động hành lang trong hoạch định chính sách cơng là
một bộ phận chính đáng, hợp pháp của thiết chế dân chủ.
Ở Mỹ, sự tham gia của cơng dân vào chính trị nói chung và q trình ra
quyết định nói riêng là một trong những đặc trưng của hệ thống chính trị
truyền thống Mỹ. Trên thực tế, vận động hành lang ở Mỹ đã và đang là một
vấn đề mang tính chính trị - pháp lý - xã hội, có tác động mạnh mẽ đến Quốc
hội và Chính phủ Mỹ trong tất cả các cơng đoạn của q trình xây dựng pháp
luật và hình thành chính sách đối nội, đối ngoại. Sự có mặt hoạt động vận
động hành lang trong tất cả các cơng đoạn của q trình hình thành chính sách
khơng chỉ thể hiện lợi ích tự thân của các tổ chức vận động hành lang mà cịn
là nhu cầu chính đáng của chính quyền, các nhà hoạt động chính sách. Bởi lẽ,
trong mối quan hệ với Quốc hội và Chính phủ, vận động hành lang đồng thời
là sự phản ánh, giám sát, kiềm chế, đối trọng của các nhóm lợi ích và nhân
dân đối với các cơ quan công quyền. Hơn thế nữa, vận động hành lang mang
đến cho người có thẩm quyền cái nhìn tồn diện, đa chiều với đầy đủ thông
tin, chứng cứ cũng như ý kiến, kiến nghị của cử tri và xã hội về vấn đề đang
được xem xét, quyết định. Nếu các nghị sĩ muốn được tái cử trong nhiệm kỳ
tới thì việc làm hài lòng cử tri là trách nhiệm lớn nhất đối với họ. Để thực
hiện trách nhiệm này, nghị sĩ không chỉ đơn thuần chứng minh sự mẫn cán
của mình tại nghị trường hoặc tại đơn vị bầu cử mà cịn thơng qua lá phiếu


10


hoặc tham luận bày tỏ quan điểm, phản ánh những mối quan tâm của cử tri
hoặc phải biết cách giải thích thỏa đáng cho cử tri về một hành động bỏ phiếu
bất thường nào đó của mình. Do đó, về bản chất, vận động hành lang là sự
chia sẻ quyền lực giữa Nhà nước và xã hội. Sự thừa nhận về mặt pháp lý của
vậng động hành lang cũng là sự minh hoạ cụ thể về tính đại diện của Quốc
hội Mỹ.
Thứ hai, vận động hành lang trong hoạch định chính sách cơng giúp
cho các ý nguyện của cử tri đến được với chính quyền, mà cụ thể là cơ quan
lập pháp, một cách nhanh chóng, rõ ràng, hiệu quả nhất.
Theo quy định của pháp luật, bất kỳ công dân, tổ chức hoặc cơng ty nào
đều có thể đề đạt ý nguyện của mình lên Quốc hội. Tuy nhiên, thật là không
thực tế nếu yêu cầu một vị dân biểu, một nghị sỹ hay các nhân viên của họ
dành thời giờ để nói chuyện với từng cử tri, từng tổ chức hoặc đoàn thể hiện
diện trong đơn vị bầu cử của họ. Hơn nữa, không phải cử tri nào cũng có khả
năng chuyển tải đến nghị sĩ những thơng điệp rõ ràng, chính xác, ngắn gọn và
đi thẳng vào nội dung, mục đích cần đạt tới nhằm thu hút sự chú ý của họ. Vì
vậy, các tổ chức, cơng ty hay các nhóm cử tri có cùng lợi ích phải nhờ đến các
nhà vận động hành lang. Đây là những người ít nhiều gắn bó với hoạt động ở
nghị trường, có thể dành thời gian để tiếp xúc, tác động đến các nghị sĩ, có
các mối quan hệ cũng như kinh nghiệm trong việc vận động các chính khách.
Một chuyên gia vận động hành lang có thể nói thay cho nhiều người khi trình
bày các quan điểm chính sách trước Quốc hội. Chuyên gia vận động hành
lang cũng biết sẽ phải chuẩn bị nội dung thông điệp như thế nào, thơng qua
các phương thức gì để có thể gây sức ép hay tác động có hiệu quả đến các
nghị sĩ. Đây chính là cách biến bức xúc của cơng chúng, của cử tri thành bức
xúc của chính quyền để tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền đối với những

vấn đề mà cử tri quan tâm.

11


Thứ ba, vận động hành lang trong hoạch định chính sách công giúp
mang những vấn đề quan trọng đến với bàn họp của Nghị viện, góp phần làm
cho q trình quyết định thêm minh bạch, dân chủ.
Nhờ vào tính chuyên nghiệp hóa của hoạt động lobby, những vấn đề
của các nhóm lợi ích trong xã hội, bất kể đó là nhóm đa số hay thiểu số, đại
diện cho các lợi ích phổ thông hay chỉ là những lợi ích riêng lẻ trong xã hội
đều có thể được phản ảnh một cách rõ ràng, chính xác đến tai các nhà lập
pháp. Các cơ quan có thẩm quyền khơng thể hồn tồn tự do trong việc hoạch
định chính sách mà họ cịn phải chịu nhiều áp lực từ các nhóm lợi ích trong xã
hội. Và vì vậy, vận động hành lang trở thành một trong những cầu nối, là
kênh liên lạc giữa các nhóm cơng chúng mà nó đại diện với chính quyền;
đồng thời làm cho quá trình ra quyết định thêm minh bạch hơn.
1.2.Chủ thể, đối tượng và các nguyên tắc vận động hành lang trong hoạch
định chính sách cơng
1.2.1.Chủ thể vận động hành lang trong hoạch định chính sách cơng
Chủ thể thực hiện vận động hành lang trong hoạch định chính sách
cơng thường là các nhóm lợi ích (interest group) và các chuyên gia vận động
hành lang (lobbyist). Nhóm lợi ích là những nhóm cơng dân tập hợp lại với
nhau dựa trên cơ sở lợi ích chung về kinh tế, sắc tộc… Các chuyên gia vận
động hành lang thường là các nghị sĩ, cựu nghị sĩ hoặc các quan chức cấp cao
của chính quyền, những luật sư giàu kinh nghiệm… Chính vì vậy, đây là
những nhân vật có khả năng tiếp cận với các quan chức cấp cao trong chính
phủ, duy trì được các mối quan hệ chính trị và có khả năng gây ảnh hưởng
bằng uy tín của mình.
1.2.2. Đối tượng vận động hành lang trong hoạch định chính sách công

Đối tượng của các hoạt động VĐHL trong hoạch định chính sách cơng
bao gồm các nghị sĩ, quan chức chính phủ, thẩm phán, các cơng chức có thẩm
quyền,... đương nhiệm, thậm chí là cả những người đứng đầu nhánh hành

12


pháp ở các nước như tổng thống hay thủ tướng. Họ chính là những người
được nhân dân ủy quyền, thay mặt cho nhân dân trong việc thực thi quyền lực
nhà nước trong đó có việc thảo luận và thơng qua các chính sách cơng. Tuy
nhiên, những thành phần kể trên chỉ trở thành đối tượng các hoạt động chính
sách khi họ là những người được nhà nước giao cho một thẩm phán nhất dịnh
để có thể sáng kiến luật, thảo luận và thông qua luật, thực thi luật pháp, tác
động lên q trình xây dựng chính sách pháp luật, thậm chí có thể cung cấp
thơng tin.
1.2.3.Ngun tắc vận động hành lang trong hoạch định chính sách
Theo các nhà nghiên cứu, VĐHL trong hoạch định chính sách cơng u
cầu phải bảo đảm một số nguyên tắc cơ bản sau đây:
Thứ nhất, tính hợp pháp. Đây được coi là nguyên tắc chung đầu tiên
được đặt ra đối với hoạt động vận động hành lang trong hoạch định chính
sách cơng. Tính hợp pháp thể hiện ở việc hoạt động này phải chịu sự điều
chỉnh của pháp luật. Để thực hiện nguyên tắc này, pháp luật Hoa Kỳ, Canada,
Anh, Cộng hòa Liên bang Đức… đều quy định các nhà vận động chính sách
phải đăng ký hoạt động. Trong Bộ các tiêu chí về pháp luật vận động chính
sách do Tổ chức Minh bạch quốc tế xây dựng để làm tài liệu tham khảo cho
các quốc gia, việc đăng ký bắt buộc (mandatory register) được áp dụng đối
với tất cả các cá nhân, tổ chức vận động hành lang trước khi bắt đầu hoạt
động và ngay sau khi có bất kỳ thay đổi có liên quan nào.
Thứ hai, tính cơng khai, minh bạch. Đây cũng là một nguyên tắc quan
trọng của vận động hành lang trong hoạch định chính sách cơng, nhằm ngăn

ngừa tình trạng lợi dụng “đi đêm”, hối lộ quan chức, “chạy chính sách”.
Ngồi ra, ngun tắc về tính cơng khai, minh bạch cịn giúp cộng đồng giám
sát q trình hoạch định chính sách công của nhà nước. Nguyên tắc này đã
được quy định trong pháp luật của một số quốc gia. Ví dụ, ở Hoa Kỳ, các nhà
vận động chính sách phải công khai không chỉ tên tuổi của bản thân, mà còn
13


của các khách hàng, các cuộc tiếp xúc, các nội dung vận động và số tiền công
họ được chi trả. Ở châu Âu, năm 2011, Ủy ban và Nghị viện châu Âu cũng
ban hành một bộ quy tắc áp dụng cho những nhà vận động chính sách cơng,
trong đó có quy định về công khai, minh bạch trong hoạt động. Trong Bộ các
tiêu chí về pháp luật vận động chính sách của Tổ chức Minh bạch quốc tế,
những thông tin phải công khai bao gồm: định danh của chủ thể thực hiện vận
động chính sách, nội dung vận động, kết quả mong đợi, loại hình và tần suất
thực hiện...
Thứ ba, tính khách quan, vơ tư. Đây là một trong những nguyên tắc
được Derek Draper nêu ra trong cuốn Vận động hành lang: Nghệ thuật thuyết
phục chính trị, xuất phát từ đặc điểm của vận động chính sách cơng là hoạt
động phục vụ lợi ích của một nhóm xã hội nào đó mà khơng nhất thiết vì lợi
ích của bản thân người thực hiện vận động. Tính khách quan, vơ tư thể hiện ở
việc bất kỳ nhóm xã hội nào cũng có thể tiếp cận và nhờ cậy các cá nhân, tổ
chức thực hiện vận động chính sách cơng mà khơng bị phân biệt đối xử về ý
tưởng, quan niệm, niềm tin về chính trị hay về các yếu tố khác; cịn các cá
nhân, tổ chức thực hiện vận động chính sách cơng phải đối xử với những
khách hàng của mình một cách bình đẳng.
Thứ tư, tính trung thực. Các nhà hoạch định chính sách ln địi hỏi
những người vận động chính sách phải bảo đảm tính chính xác, tin cậy của
những thông tin mà họ cung cấp, cũng như phải nêu rõ bản chất, ý nghĩa của
các vấn đề được vận động. Những điều này đòi hỏi nhà vận động chính sách

ngồi năng lực và kiến thức, thơng tin cịn phải có tính trung thực trong cơng
việc. Tính trung thực cũng là một yêu cầu.
Thứ năm, tính bảo mật. Cá nhân, tổ chức vận động hành lang trong
hoạch định chính sách công không được cung cấp thông tin mật, trừ khi họ
được cho phép bởi thân chủ, hoặc bị yêu cầu cung cấp thông tin theo pháp
luật. Nguyên tắc này nhằm bảo vệ khách hàng - những người có nhu cầu vận
14


động chính sách. Nó đồng thời địi hỏi các cá nhân, tổ chức vận động chính
sách cơng phải tư vấn cho khách hàng của họ những lợi ích có thể xung đột và
phải được sự đồng ý của thân chủ trước khi tiến hành bất kỳ hoạt động nào.
Bên cạnh đó, họ cũng khơng được đặt các quan chức, cơng chức vào vị trí
mâu thuẫn lợi ích bằng việc thực hiện các hành vi có ảnh hưởng khơng lành
mạnh, khơng hợp pháp tới các quan chức, công chức này.
1.3. Sự cần thiết và quy trình của VĐHL trong hoạch định chính sách cơng

1.3.1. Sự cần thiết của VĐHL trong hoạch định chính sách cơng
Luận giải cho sự cần thiết của VĐHL trong quy trình hoạch định chính
sách cơng, tác giả đề tài đưa ra những luận điểm sau đây:
Thứ nhất, xuất phát từ nhu cầu thơng tin từ phía các nhà hoạch định
chính sách;
Thứ hai, xuất phát từ nhu cầu tham gia vào q trình chính sách để thực
hiện hiệu quả hơn quyền lực của công dân;
Thứ ba, VĐCS là phương tiện giúp củng cố quyền lực của các chủ thể
cầm quyền.
1.3.2. Quy trình vận động hành lang trong hoạch định chính sách cơng
Tiết này bàn về quy trình VĐHL trong hoạch định chính sách cơng, đề
tài khái lược một số cách tiếp cận và phân chia các giai đoạn trong quy trình
VĐHL trong hoạch định chính sách và cuối cùng lựa chọn cách phân loại như

đã được đưa ra bởi trường Đại học John Hopkins, theo đó quy trình VĐHL
trong hoạch định chính sách cơng gồm các bước như sau: 1.Phân tích vấn đề
chính sách; 2. Xây dựng chiến lược vận động chính sách; 3. Xây dựng các
liên minh, đưa ra các thơng điệp vận động chính sách; 4. Phối hợp hành động
vận động chính sách; 5. Đánh giá kết quả vận động; 6. Theo dõi kết quả chính
sách (duy trì tính liên tục).

15


Có thể thấy, dù cịn nhiều quan niệm, nhiều cách tiếp cận khác nhau về
VĐHL trong hoạch định chính sách công nhưng những vấn đề cơ bản liên
quan đến VĐHL trong hoạch định chính sách cơng như chủ thể, đối tượng,
mục đích, nội dung, phương thức vận động… hiện nay là tương đối rõ ràng và
thống nhất. Theo đó, khơng cịn nghi ngờ VĐHL trong hoạch định chính sách
cơng đang ngày càng trở nên cần thiết trong các thiết chế dân chủ và tác động
mạnh mẽ đến các quá trình chính sách cơng mặc dù VĐCS có lịch sử hình
thành và phát triển của nó gắn liền với những điều kiện cơ bản của đời sống
kinh tế - xã hội cũng chính là những cơ sở hình thành hoạt động này. Chủ thể
và đối tượng VĐHL trong hoạch định chính sách công rất đa dạng, phương
thức tiến hành vận động có thể khác nhau nhưng nhìn chung, mục đích của
các hoạt động VĐCS đều hướng đến việc tạo ra những thay đổi chính sách
theo hướng có lợi hơn cho chủ thể vận động.
CHƯƠNG II: NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA VẬN ĐỘNG HÀNH LANG
TRONG HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY
2.1. Những quy định có liên quan đến vận động hành lang trong hoạch
định chính sách cơng ở Việt Nam
Bàn về cơ sở pháp lý cho các tổ chức XHDS ở Việt Nam trong VĐCS
nhiều tác giả khẳng định rằng chúng ta (Nhà nước và Đảng Cộng sản Việt

Nam) cũng đã có khơng ít văn bản như “Sắc Luật 102/SL 1957 quy định về
quyền lập Hội, Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2000, Chỉ thị 202/1990 của Chủ
tịch HĐBT, Nghị định 88/2003 của Thủ tướng Chính phủ v.v…[40, tr.24];
Điều 39 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 quy
định đối với đại biểu Hội đồng nhân dân; ở góc độ quan điểm, đường lối của
Đảng cầm quyền, từ diễn đàn của Đại 20 hội X Đảng Cộng sản Việt Nam đã
khẳng định: “Nhà nước ban hành và bổ sung pháp luật để Mặt trận tổ quốc và
các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội” [10,
tr.4]; Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm; Luật tổ chức
16


Quốc hội năm 2014 và Luật tổ chức Chính quyên địa phương năm 2015. Đặc
biệt, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Quyết định số 217-QĐ/TW
ngày 12-12-203 về việc ban hành “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”; (5) Pháp lệnh
về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007. Trên thực tế, dù chưa
khẳng định có hay khơng VĐCS cơng ở Việt Nam nhưng có thể thấy những
biểu hiện của hoạt động VĐCS ở Việt Nam ngày càng rõ rệt hoặc ít nhất cũng
thấy được đang có những nỗ lực để vận động và cho VĐCS công ở Việt Nam
hiện nay.
2.2. Vận động hành lang trong hoạch định chính sách cơng của các chủ
thể trong và ngồi nước ở Việt Nam
Hoạt động VĐCS của các chủ thể trong và ngoài nước ở Việt Nam bao
gồm vận động của các hiệp hội, các doanh nghiệp, các công ty, các tổ chức
quốc tế, các tổ chức phi chính phủ...
Dù cịn thiếu cơ sở pháp lý cho hoạt động VĐCS ở Việt Nam nhưng
khơng có nghĩa là chúng ta khơng biết đến và chưa từng sử dụng hoạt động
này như một dịch vụ. Khi VĐCS đã trở thành một phần không thể thiếu của
nền chính trị thì tất cả những ai muốn gây ảnh hưởng đối với dư luận hay đến

việc hoạch định chính sách đều phải tuân thủ quy luật này. Thực tế thời gian
qua cho thấy Việt Nam đã phải nhiều lần th các cơng ty VĐCS ước ngồi,
đặc biệt là ở Mỹ để vận động cho những vấn đề cụ thể có liên quan đến Việt
Nam cũng như các hiệp hội kinh tế, các doanh nghiệp Việt Nam trong quan
hệ với Mỹ và các nước khác.
Biểu hiện của VĐHL trong hoạch định chính sách cơng của các chủ thể
nước ngồi chính là những vụ vận động liên quan đến thương mại. Cụ thể là,
sau những lần thua liên tiếp rong các vụ kiện phá giá tôm, cá basa hay hạn
ghạch xuất khẩu sản phẩm may mặc, dần dần, Việt Nam cũng thấy rõ một
điều rất vơ lý, khi phía Việt Nam thậm chí cịn chưa kịp đưa ra các bằng

17



×