MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..........................................................................................................0
NỘI DUNG.......................................................................................................3
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠNG NGHỆ CHÍNH TRỊ
VÀ VẬN ĐỘNG HÀNH LANG.....................................................................3
1.1. Khái niệm cơng nghệ chính trị...................................................................3
1.2. Cơng nghệ giành quyền lực chính trị.........................................................4
1.3. Cơng nghệ thực thi quyền lực chính trị......................................................4
Chương 2: THỰC TRẠNG CƠNG NGHỆ CHÍNH TRỊ, VẬN ĐỘNG
HÀNH LANG Ở MỸ.......................................................................................4
2.1. Khái quát về nước Mỹ................................................................................4
2.2. Sử dụng công nghệ chính trị ở Mỹ.............................................................4
2.3. Cơng nghệ chính trị tác động đến nền kinh tế tri thức...............................4
KẾT LUẬN......................................................................................................4
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ tạo ra một thời đại mới trong sự
phát triển của toàn xã hội – thời đại bùng nổ thông tin, tạo ra cơ hội phát triển
mới cho tất cả các quốc gia trên thế giới. Khoa học công nghệ ứng dụng vào
mọi lĩnh vực đời sống làm giảm bớt quá trình sử dụng sức lao động của con
người nhưng vẫn tạo ra các sản phẩm công nghiệp với tần suất hoạt động và
mang lại hiệu quả cao. Trong vấn đề giành, giữ và thực thi quyền lực chính
trị, khoa học cơng nghệ là phương tiện để các giai cấp nắm quyền lực chính
trị thực hiện vai trị của mình đối với tồn xã hội.
Cơng nghệ chính trị thực hiện việc nắm giữ quyền lực chính trị. Nó bao
gồm các phương thức, thủ đoạn, các giải pháp hợp lý để thực hiện chức năng
của hệ thống chính trị nhằm nâng cao hiệu quả của q trình chính trị và đạt
được mục tiêu chính trị của giai cấp cầm quyền. Với tính đa dạng, phức tạp
của chính trị làm xuất hiện cơng nghệ chính trị trong q trình giành, giữ và
thực thi quyền lực chính trị. Cơng nghệ chính trị là một khoa học chính trị
nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến quyền lực chính trị. Trong xu hướng
phát triển khoa học hóa, thực tiễn hóa hoạt động chính trị trong lãnh đạo,
quản lý. Chính vì vậy, ứng dụng cơng nghệ chính trị đang ngày càng trở nên
cần thiết.
Cơng nghệ chính trị ở Mỹ là một trong những nước ứng dụng cơng
nghệ sớm trong chính trị. Các công nghệ được ứng dụng là những phương
thức quản lý, phương pháp giành, giữ và sử dụng quyền lực chính trị. Đây là
một trong những nước tiên tiến đi đầu trong ứng dụng khoa học công nghệ
vào mọi lĩnh vực. Chính vị vậy em chọn đề tài “Cơng nghệ chính trị, vận
động hành lang ở Mỹ hiện nay” làm tiểu luận kết thúc học phần.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cơng nghệ chính trị là một trong những ngành được nghiên cứu trong
khoa học chính trị. Trên thế giới, một số bài viết, nghiên cứu đã nhắc đến
1
cơng nghệ chính trị trong quyền lực chính trị thế giới. Tuy vậy, nghiên cứu về
cơng nghệ chính trị, vận động hành lang ở nước Mỹ hiện nay vẫn chưa có bài
viết nào đề cập một cách sâu sắc đến cơng nghệ chính trị nước Mỹ. Chính vì
vậy, có thể khẳng định rằng đây là đề tài chưa được nghiên cứu trước đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu các vấn đề lý luận về
cơng nghệ chính trị, thực trạng cơng nghệ chính trị ở Mỹ và xu thế phát triển
công nghệ trong thời đại ngày nay.
Để thực hiện mục đích trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ các khái niệm liên quan đến công nghệ chính trị, cơng nghệ
giành quyền lực chính trị.
- Phân tích tình hình sử dụng cơng nghệ chính trị ở Mỹ hiện nay. Từ
đó, rút ra những tác động của cơng nghệ trong thời đại kinh tế tri thức ngày
nay.
4. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề
tài bao gồm 2 chương, 6 tiết.
2
NỘI DUNG
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHỆ CHÍNH TRỊ VÀ VẬN
ĐỘNG HÀNH LANG
1.1. Khái niệm cơng nghệ chính trị
Cơng nghệ (technology) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, là tài nghệ học,
sự khéo léo, tinh xảo, cách làm độc đáo, bí truyền để đạt tới sản phẩm có chất
lượng cao của các nghề thủ cơng lúc đó. Hiện nay, thuật ngữ công nghệ được
sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực: công nghệ thông tin, công nghệ sinh
học, công nghệ giáo dục, công nghệ chiến tranh, ... Công nghệ là một tổ hợp
bao gồm các yếu tố: thông tin, kiến thức, lao động, tay nghề, vật tư – thiết bị,
quản lý – tổ chức trong một quá trình gồm nhiều giai đoạn nhằm biến các tri
thức khoa học thành hàng hóa hoặc dịch vụ có sức cạnh tranh trên thị trường.
Cơng nghệ cịn được hiểu là phương pháp cải tiến nguyên liệu ban đầu, có thể
là con người, thông tin hoặc các nguyên liệu vật lý nhằm đạt được kết quả
mong muốn dưới dạng các sản phẩm hoặc dịch vụ.
Cơng nghệ chính trị được hiểu là cơng nghệ thực hiện quyền lực chính
trị. Đó là tồn bộ các phương thức, thủ đoạn, các giải pháp hợp lý để thực
hiện chức năng của hệ thống chính trị nhằm nâng cao hiệu quả của q trình
chính trị và đạt được mục tiêu chính trị. Do chính trị có tính đa dạng, phức tạp
nên xuất hiện nhiều công nghệ trong q trình giành, giữ và thực thi quyền
lực chính trị.
Cơng nghệ chính trị bao gồm các phương thức đạt kết quả nhanh
chóng, cục bộ gọi là chiến thuật; cịn các phương thức đạt được hiệu quả cơ
bản, lâu dài được gọi là chiến lược... Cơ sở của cơng nghệ chính trị là khoa
học chính trị, bao gồm các ngành nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và
nghiên cứu dự báo. Các kết quả nghiên cứu nhanh chóng được ứng dụng
trong soạn thảo, ban hành điều chỉnh chính sách trong tổ chức bộ máy và đào
3
tạo nhân lực. Trong xu hướng phát triển khoa học hóa, thực tiễn hóa hoạt
động chính trị trong lãnh đạo, quản lý, việc chú ý đúng mức tới lý luận và
phương pháp chính trị ngày càng trở nên cần thiết.
Việc sử dụng cơng nghệ chính trị này hay cơng nghệ chính trị khác tác
động trực tiếp đến hiệu quả quản lý chính trị, điều tiết các q trình chính trị,
tính ổn định của hệ thống chính trị và cả mơi trường chính trị. Cơng nghệ
chính trị phụ thuộc vào mức độ phát triển xã hội (q trình tiến hóa, q trình
cách mạng,...) và đặc điểm của chế độ chính trị (chế độ dân chủ, chế độ
chun chế...). Cơng nghệ chính trị có tính chính xác cao và duy nhất, nó đảm
bảo sự tác động qua lại giữa các lực lượng chính trị và các thiết chế chính trị
nhằm giải quyết các vấn đề chính trị cụ thể. Tính đa dạng của quyền lực chính
trị làm phát sinh nhiều cơng nghệ chính trị nhằm giành, giữ và thực thi quyền
lực chính trị. Ở góc độ khác, mỗi cơng nghệ chính trị đều đa phương diện –
xét theo những điều kiện thực hiện, thành phần những người thực hiện, loại
hình hoạt động chính trị và các vấn đề cần được giải quyết.
1.2. Cơng nghệ giành quyền lực chính trị
Cơng nghệ đấu tranh giành quyền lực chính trị (chủ yếu là quyền lực
nhà nước) cực kỳ quan trọng đối với bất kỳ giai cấp nào. Bởi cơng nghệ chính
trị sẽ phá vỡ những trật tự chính trị - xã hội cũ để xây dựng nên những trật tự
chính trị - xã hội mới. Các phương thức đấu tranh giành quyền lực ở các chế
độ chính trị - xã hội khác nhau gắn liền với sự phát triển của xã hội loài
người, theo hướng từ thấp đến cao, nhưng tựu chung lại có hai hình thức phổ
biến là con đường bạo lực và con đường hịa bình.
1.2.1. Phương pháp bạo lực
Bạo lực là dùng sức mạnh để cưỡng bức, trấn áp hoặc lật đổ. Bạo lực
được hiểu là tổng hợp sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần, sự kết hợp
sức mạnh kinh tế, chính trị, văn hóa, qn sự, ... Theo quan điểm macxit, bạo
lực là bà đỡ của mọi chế độ xã hội cũ khi nó thai nghén một chế độ xã hội
mới. Bản thân bạo lực là một tiềm năng kinh tế. Phương thức giành quyền lực
4
chính trị bằng bạo lực là phương thức phổ biến trong lịch sử. Bạo lực được
thực hiện thông qua các cuộc cách mạng chính trị, khởi nghĩa vũ trang hoặc
đảo chính.
Cách mạng chính trị là cuộc cách mạng do giai cấp tiến bộ trong xã hội
hiện hành, giành lấy quyền lực nhà nước. Việc chuyển quyền lực nhà nước từ
tay một giai cấp này sang giai cấp khác là dấu hiệu đầu tiên, cơ bản của một
cuộc cách mạng cả ở ý nghĩa thuần túy khoa học và thực tế chính trị của khái
niệm này. Khi xuất hiện tình thế cách mạng – giai cấp thống trị không thể
thống trị như trước, giai cấp bị trị không thể chịu đựng hơn được nữa, các lực
lượng trung gian cũng ngả về phía cách mạng. Xã hội khủng hoảng nghiêm
trọng, chính quyền bất lực trước các lực lượng chống đối, tính hợp pháp,
chính đáng của quyền lực nhà nước đang đặt ra, giai cấp thống trị thực thi
quyền lực chủ yếu bằng sự cưỡng bức.
Khởi nghĩa vũ trang là hoạt động vũ trang đại chúng của giai cấp (hoặc
liên minh giai cấp, nhóm xã hội) nhằm chống lại chính quyền đương thời,
chống lại các giai cấp hay tập đoàn đang thống trị. Khởi nghĩa vũ trang là kết
quả mang tính quy luật của sự phát triển xã hội có giai cấp đối kháng, cơng cụ
đấu tranh giải phóng của những người bị áp bức và là một trong những
phương tiện để giành quyền lực chính trị. Hình thức khởi nghĩa vũ trang rất
phong phú nhưng có thể chia thành hai loại: khởi nghĩa vũ trang tự phát và
khởi nghĩa vũ trang có tổ chức. Khởi nghĩa vũ trang là thời kỳ đầu của cách
mạng chính trị, nhất là khi nó được tổ chức một cách kỹ lưỡng, cẩn thận.
Đảo chính chính trị là hình thức thay đổi quyền lực nhà nước bằng sức
mạnh quân sự và chuyển việc vận hành chính trị của đất nước vào tay các đại
diện của giới quân sự. Đảo chính khác cách mạng ở chỗ nó chỉ giới hạn ở sự
lật đổ chính quyền, trật tự chính trị khơng bị thay đổi ngay, bởi các cuộc đảo
chính chỉ được dàn dựng bởi cá nhân hoặc một nhóm bên trong chính quyền,
hoặc trong nội bộ giai cấp thống trị. Những người thực hiện đảo chính chỉ
nhằm mục tiêu chiếm lấy chính quyền, trong khi vẫn giữ nguyên chế độ chính
5
trị - xã hội, hoặc chỉ tìm cách cải tiến nó một phần. Tuy nhiên, trong một số
trường hợp, các cuộc đảo chính có thể là sự mở màn, là động thái châm ngòi
cho một cuộc cách mạng.
Trong xã hội hiện đại, việc giành quyền lực nhà nước thông qua hình
thức bạo lực về cơ bản đã được ngăn chặn. Tuy nhiên, ở một số châu Phi,
Mỹlatinh, cách đây vài chục năm, trong hồn cảnh khó khăn về kinh tế - xã
hội, quân đội là lực lượng được tổ chức một cách chặt chẽ, vì vậy, việc sử
dụng bạo lực giành chính quyền vẫn xảy ra. Các phe phái chính trị thường
tiến hành các cuộc đảo chính quân sự để lật đổ chính quyền, rồi có thể đến
lượt họ lại bị một phe phái khác mạnh hơn lật đổ bằng chính biện pháp mà họ
đã dùng – bạo lực để chiếm chính quyền.
Trên bình diện quốc tế, đó là sự can thiệp quân sự hay phi quân sự của
một quốc gia hay một khối, một liên minh quốc gia hay một liên minh khác
nhằm làm thay đổi chính quyền của quốc gia hay liên minh đó.
1.2.2. Phương pháp hịa bình
Thành tựu lớn nhất của các chế độ dân chủ lập hiến là đã đảm bảo an
tồn cho các chính phủ, tránh cho chính phủ bị lật đổ bằng các biện pháp bạo
lực. Đó là cách giành quyền lực chính trị bằng phương pháp ơn hịa: thơng
qua bầu cử hoặc thỏa hiệp.
Bầu cử là cách để người dân lựa chọn giữa các ứng cử viên cho một vị
trí cơng việc để thực hiện một chức năng xã hội nhất định. Chế độ bầu cử bao
gồm tổng thể các nguyên tắc, các quy định pháp luật quy định trật tự bầu ra
các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước, điều chỉnh các quan hệ xã hội hình
thành trong quá trình bầu cử. Bầu cử là phương thức giành quyền lực chính trị
phổ biến trong thế giới hiện nay. Việc bầu cử ra những người đứng đầu nhà
nước, các nghị sỹ thông qua các cuộc bầu cử xuất phát từ một nhận thức căn
bản: quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ nhân dân. Thông qua bầu cử, nhân
dân ủy một phần quyền của mình cho các nhà chính trị. Bầu cử thực chất là
những thỏa thuận xã hội được cam kết giữa các nhà chính trị với cử tri đã ủy
6
quyền cho họ. Sự chấp nhận các luật chơi và kết quả của luật chơi của các đối
thủ tham gia cho thấy, các cuộc bầu cử đã giúp tạo ra một hệ thống chính trị
ổn định.
Các lực lượng chính trị trong xã hội đều cùng chia sẻ những cam kết
chung và cùng hướng tới những giá trị cơ bản của xã hội. Sau cuộc bầu cử,
cho dù ai là người thua cuộc, các bên đều nhất trí hợp tác với nhau để giải
quyết các vấn đề chung của xã hội. Bầu cử khơng phải là cuộc chiến một mất
một cịn, mà chỉ là cuộc cạnh tranh để giành quyền kiểm soát bộ máy nhà
nước trong một thời gian nhất định. Nó hồn tồn khác với cảnh bạo lực diễn
ra giữa các phe phái sau mỗi cuộc bầu cử ở một số nước trên thế giới khi phe
thua cuộc không chấp nhận kết quả bầu cử. Trong trường hợp xảy ra tranh
cãi hay nghi ngờ xung quanh giá trị pháp lý hay tính hợp pháp của cuộc bầu
cử, thì cuộc đấu tranh giành quyền lực càng phức tạp, thậm chí có thể dẫn đến
nội chiến.
Bầu cử là cơng nghệ chính trị quan trọng. Thông qua bầu cử, người dân
trao quyền cho các lực lượng chính trị theo các quy định trong hiến pháp; giáo
dục nhân dân tôn trọng nhà nước và chấp hành luật pháp; là điều kiện để xác
định vị trí của các đảng phái, khối liên minh, dân biểu; xác định tầm quan
trọng và trách nhiệm của các đảng phái, khả năng của họ tham gia vào việc
hình thành đường lối chính trị; là khả năng đào tạo, lựa chọn, giáo dục cán bộ,
đổi mới đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính trị cấp cao; tăng cường tính chính
thống của cơ quan lập pháp; duy trì và củng cố hình tượng “nhà nước dân
chủ” trong nước và quốc tế; hồn thiện văn hóa chính trị của các nhà lãnh
đạo và toàn bộ xã hội; hiến pháp là luật cơ bản và không ai được quyền vi
phạm. Công nghệ bầu cử là điều kiện và yếu tố đem lại hiệu quả cao. Với
sự trợ giúp của công nghệ bầu cử, nhờ vào các nguồn lực về thông tin, tổ
chức tài chính, khả năng tác động vào truyền thơng đại chúng, vào cơng
việc của bộ máy chính quyền ở các địa phương, uy tín của một ứng cử
viên được tăng cao.
7
Các công nghệ bầu cử không đơn giản chỉ là sự lựa chọn các phương
pháp tác động tới cử tri. Nó địi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về bản chất của quá
trình bầu cử và các bộ phận cấu thành riêng biệt của nó. Các phương pháp tác
động vào quá trình bầu cử và các bộ phận cấu thành riêng biệt của nó, các
phương pháp tác động vào quá trình bầu cử chỉ đạt hiệu quả khi chúng phù
hợp với văn hóa chính trị, tâm lý của cử tri.
Trong các cuộc bầu cử, việc xây dựng một hình tượng ứng cử viên là
rất quan trọng. Một vương quốc không nhất thiết phải có tất cả các phẩm chất
tốt, nhưng nhất thiết phải có vẻ như đang có. Nghĩa là nhân cách người lãnh
đạo tương lai khơng phải có thế nào thì tỏ ra như thế, mà phải hướng cơng
chúng vào những đặc điểm và bản tính hấp dẫn tiềm ẩn để cử tri tin tưởng
rằng ứng cử viên có thể thực bảo vệ đucợ lợi ích của họ. Để làm được điều
này, ứng cử viên phải khỏe mạnh, thông thái, tự tin, quyết đốn, nhìn nhận
được vấn đề và có khả năng chỉ ra hướng giải quyết chúng, dẫn dắt mọi người
theo mình và sẽ ln đạt được thành công.
Thỏa hiệp là một giải pháp đối với một vấn đề bất đồng hay tranh chấp,
trong đó các bên hữu quan có sự nhân nhượng lẫn nhau về quan điểm, lợi ích
vật chất và tinh thần. Trong quan hệ quốc tế, thỏa hiệp có thể là những nhân
nhượng về chính trị, ngoại giao. Thơng thường có thể thỏa hiệp về những vấn
đề sách lược, không thỏa hiệp về những vấn để có tính chất chiến lược hoặc
những vấn đề thuộc nguyên tắc. Thỏa hiệp có thể được áp dụng để các bên
hữu quan cùng nhau thỏa thuận và quyết định đưa tranh chấp của họ ra cho
tòa án quốc tế giải quyết.
Phương pháp giành quyền lực chính trị thơng qua thỏa hiệp được thực
hiện nếu giữa hai lực lượng (đảng phái) đối lập nhau nhưng không cần thiết
phải loại trừ, tiêu diệt lẫn nhau, họ có chung một số lợi ích nào đó. Đó có thể
là sự thỏa thuận chia sẻ quyền lực giữa hai bên. Trong một cộng đồng dân tộc,
lợi ích cao nhất liên hệ các lực lượng, đảng phái là lợi ích chung của quốc gia,
dân tộc. Trong quan hệ quốc tế, lợi ích cao nhất là đảm bảo hịa bình, an ninh
8
khu vực và quốc tế. Xuất phát từ lợi ích chung đó, hai bên đi đến một quyết
định chuyển giao quyền lực chính trị một cách hịa bình.
1.3. Cơng nghệ thực thi quyền lực chính trị
Trong q trình bảo vệ, thực thi quyền lực chính trị, các giai cấp cầm
quyền, đặc biệt là giai cấp tư sản trong chế độ tư bản chủ nghĩa đã xây dựng
và sử dụng nhiều cơng nghệ chính trị như: cơng nghệ tun truyền, thuyết
phục, cơng nghệ ra quyết định chính trị, cơng nghệ quản lý, điều hành chính
trị, cơng nghệ vận động hành lang, công nghệ sử dụng bạo lực, công nghệ tiến
hành cải cách, cơng nghệ xử lý các tình huống chính trị, ...
1.3.1. Công nghệ tuyên truyền, thuyết phục
Tuyên truyền được dùng để biểu đạt những hoạt động nhằm tác động
đến suy nghĩ, tư tưởng của người khác và định hướng hành động của họ theo
một khuynh hướng nhất định.
Có thể hiểu, tuyên truyền, thuyết phục là hoạt động truyền bá, phổ biến,
giải thích của chủ thể về một tư tưởng, một học thuyết hay một vấn đề nào đó
đối với đối tượng tuyên truyền nhằm đạt tới mục đích làm thay đỏi nhận thức,
hình thành một kiểu ý thức xã hội, xây dựng thế giới quan nhất định ở đối
tượng tuyên truyền cho phù hợp với lợi ích của chủ thể tuyên truyền đạt tới
hiệu quả là kích thích, thúc đẩy đối tượng hành động theo quan điểm, đường
lối, mục đích đã đề ra.
Phương pháp tuyên truyền, thuyết phục là tổng hợp các phương tiện các
phương tiện, thao tác, cách thức, quy trình mà củ thể sử dụng để cung cấp cho
đối tượng những thông tin nhất định nhằm củng cố, bổ sung hoặc xây dựng ở
họ một thế giới quan, nhân sinh quan mới hay nhận thức mới về tự nhiên hoặc
xã hội. Thơng qua đó tác động mạnh mẽ đến nhận thức, thái độ và hiệu quả
hành động thực tiễn của họ trong đời sống xã hội.
Có thể phân ra ba nhóm phương pháp tuyên truyền, thuyết phục:
9
- Nhóm phương pháp dùng lời nói trực tiếp, bao gồm bài giảng, báo
cáo, thuyết trình, kể chuyện, nói chuyện thời sự, chính sách, trao đổi, tọa đàm,
tranh luận, hỏi đáp, ...
- Nhóm phương pháp trực quan, bao gồm việc sử dụng các phương tiện
tượng trưng như: sơ đồ, biểu bảng, bản đồ, ... và các phương tiện tạo hình như
tranh cổ động, tranh biếm họa, ảnh thời sự, khẩu hiệu, biểu ngữ, tờ rơi, triển
lãm, mơ hình, sa bàn, các nhóm tượng đài, hội thi, hội chợ, tham quan điển
hình tiên tiến...
- Nhóm các phương pháp sử dụng các phương tiện kỹ thuật làm
khâu trung gian, bao gồm: sách, báo in, đài truyền hình, đài phát thanh,
phim, băng đĩa...
Hoạt động tuyên truyền là quá trình bao gồm từ việc truyền bá quan
điểm, đường lối, chính sách của một chính đảng, một giai cấp để củng cố
niềm tin, hình thành phương pháp suy nghĩ mới và cổ vũ hành động mới cho
quần chúng nhân dân tham gia vào công việc của xã hội.
Phương pháp tuyên truyền, thuyết phục chịu tác động của nhiều yếu tố:
mục đích tuyên truyền, đối tượng tuyên truyền và nội dung tuyên truyền.
Trong đó, nội dung tuyên truyền là yếu tố cơ bản, quan trọng, quy định tính
xác định về chất cho phương pháp tun truyền.
Có bốn quy tắc trong phương pháp tuyên truyền, thuyết phục: Một là,
đơn giản hóa (cá nhân hóa thành một kẻ địch duy nhất). Hai là, hòa tấu (lặp đi
lặp lại mãi những thơng điệp đã được đơn giản hóa và bóp méo). Ba là, dẫn
truyền cho phép thích ứng với nhiều loại công chúng. Bốn là, lây lan (tạo sự
nhất trí của tồn thể cơng chúng).
Khi tun truyền, thuyết phục, cần phải đảm bảo những yêu cầu sau:
- Tính khoa học: tuyên truyền khách quan, toàn diện, cụ thể, phản ánh
đúng quy luật vận động của lịch sử nhằm nâng cao nhận thức, xây dựng hành
động cách mạng cho nhân dân; tuyên truyền phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn;
tuyên truyền bằng sự thật – người thật, việc thật.
10
- Tính cách mạng: đấu tranh bảo vệ cái tốt, tiến bộ, phê phán cái xấu,
lạc hậu; là thuyết phục nhân dân xóa bỏ lối sống cũ đã lỗi thời, chống chủ
nghĩa cá nhân, hình thành ý thức xã hội mới tốt đẹp.
- Tính đại chúng: tuyên truyền ngắn gọn, dễ hiểu nhưng sâu sắc, thiết
thực, cụ thể, phù hợp với trình độ nhận thức và hồn cảnh của đơng đảo quần
chúng nhân dân để họ dễ nhớ, dễ hành động theo. Để đạt được mục đích này
địi hỏi phải chuẩn bị nội dung chu đáo, có thể sử dụng nội dung ngơn từ của
dân gian, chọn lọc cách nói có vần điệu như thành ngữ, ca dao, ... hạn chế
dùng từ nước ngồi.
- Tính nghệ thuật: tính truyền cảm, giàu cảm xúc trong ngơn từ, tính
dân chủ, gợi mở vấn đề cho đối tượng tự tìm ra chân lý; kiên trì nhưng biết
chớp thời cơ tuyên truyền những vấn đề mang tính thời sự; tuyên truyền phải
phù hợp với nhận thức, tâm lý – xã hội của đối tượng; hình thức tuyên truyền
phải đa dạng, phong phú về hình thức; phải kết hợp lời nói với hành động, ...
Như vậy, đối với giai cấp cầm quyền, một trong những nhiệm vụ quan
trọng là tuyên truyền, thuyết phục quần chúng nhân dân tin tưởng vào nhà
nước đương thời, vào hệ tư tưởng thống trị, vào chế độ xã hội để nhân dân
yên tâm sống, làm việc và tích cực tham gia đóng góp cho sự phát triển xã
hội. Nhờ đó, quyền lực nhà nước được củng cố vững chắc, lợi ích của giai cấp
thống trị tiếp tục được duy trì.
1.3.2. Ra quyết định chính trị
Quyết định chính trị là sự lựa chọn có chủ định một trong các khả năng
có thể của hoạt động chính trị. Chế độ chính trị bao hàm nhiều cấp độ với
những quy mô khác nhau: quyết định của cử tri trong bầu cử, quyết định của
chủ thể cầm quyền, ... Đối với giai cấp cầm quyền, các quyết định chính trị có
tầm quan trọng đặc biệt, nó mang tính định hướng chính trị nhằm bảo vệ, phát
triển hay thay đổi hiện thực theo hướng có lợi cho mình. Việc ban hành quyết
định chính trị đúng đắn, khoa học là một trong những yếu tố đảm bảo cho
quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền.
11
Quy trình thơng qua và thực thi quyết định chính trị bao gồm các giai
đoạn: nghiên cứu vấn đề; phân tích thơng tin ban đầu; đánh giá việc lựa chọn
các giải pháp trái ngược nhau và việc lựa chọn được giải pháp khả thi; thông
qua quyết định; kiểm tra, giám sát việc thực hiện; tỏng kết, đánh giá kết quả
được thực hiện.
Một quyết định chính trị đúng đắn và phù hợp phải đảm bảo cho sự
thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng. Đề đảm bảo tính khoa học
của quyết định chính trị cần phải thực hiện đầy đủ các thao tác kỹ thuật và
tính tồn diện của vấn đề, xem xét tình huống ban hành quyết định chính trị
trong mối quan hệ biện chứng, hữu cơ với các cơ cấu xã hội. Quyết định
chính trị là hành vi chính trị hướng tới tương lai, vì vậy nó phải căn cứ trên
những sự kiện, dữ liệu hiện tại để dự đốn kết quả. Quyết định chính trị đúng
phải bao quát được cả triển vọng vận động, phát triển của hiện thực.
Một quy trình kỹ thuật hợp lý để có được một quyết định chính trị đúng
đắn cần phải nghiên cứu xây dựng. Người ra quyết định cần chứng minh và lý
giải cho các mục đích mà quyết định hướng tới trên cơ sở những giá trị được
thừa nhận trong xã hội. Khi ban hành quyết định chính trị, cần phải biết chắc
chắn về các tình tiết, hồn cảnh có khả năng ảnh hưởng tới việc đạt mục đích
cuối cùng; về ý kiến, lập trường, hệ thống các giá trị của những người thực
hiện quyết định; về nhóm xã hội trực tiếp hoặc gián tiếp chịu tác động bởi
quyết định, ...
1.3.3. Quản lý, điều hành chính trị
Việc quản lý chính trị được xem xét trước khi nhân dân tham gia vào
quá trình quản lý, quá trình soạn thảo và hiện thực hóa các quyết định quản lý
của chính quyền, các đường lối chính trị, lựa chọn những người lãnh đạo có
năng lực nhất để tham gia trực tiếp và gián tiếp vào quá trình quản lý nhân
dân, xã hội.
Việc quản lý chính trị là nghệ thuật điều hành chính trị. Nó được thể
hiện ở những điểm sau:
12
- Làm rõ những đặc trưng và sự tác động của hệ thống các tổ chức
chính trị, cơ quan nhà nước vào việc soạn thảo đường lối chính trị và các biện
pháp quản lý, điều hành các q trình chính trị.
- Làm rõ những nguyên nhân thất bại trong thực hiện đường lối chính
trị và các biện pháp. Cần kiểm tra các tiêu chí đánh giá, mối quan hệ tương
tác của các nhà lãnh đạo đối với xã hội cũng như mối quan hệ với các bộ phận
điều hành cấp trên và cấp dưới.
- Khuynh hướng kinh tế và chính trị: sử dụng các tiêu chí như tính chất
của hệ tư tưởng, mục đích và ý nghĩa của các đảng cầm quyền, các kết quả
bầu cử, các hình thức quản lý, các hoạt động của cơ quan chính phủ, ...
Việc quản lý chính trị gắn với các chủ thể chính trị có lợi ích mâu thuẫn
nhau, thậm chí cả những lợi ích gây xung đột. Những lợi ích này ở một chừng
mực nào đó dẫn đến sự tranh cãi gay gắt trong việc xây dựng chính sách đối
nội và đối ngoại.
Sự điều hành quyền lực chính trị được thể hiện thơng qua việc hoạch định
các thủ đoạn chính trị, cách áp dụng, thực hiện các quyết định có tính hành
chính, các phương hướng, giải pháp chính trị và việc kiểm sốt việc thực hiện.
Trong chế độ dân chủ, các cơng nghệ điều hành chính trị phát triển hơn cả. Cơng
dân đucợ tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành chính trị, mà hình
thức tham gia trực tiếp và hiệu quả hơn cả là bầu cử và trưng cầu dân ý. Dư luận
xã hội chính là sự tác động trực tiếp vào q trình điều hành chính trị, thể hiện
qua việc thăm dò dư luận, các phương tiện thơng tin đại chúng và thơng qua các
hình thức tham gia chính trị khác như biểu tình, mít tinh, ...
Các cơ quan do nhân dân bầu ra, các đảng phái, các tổ chức chính trị xã
hội đóng vai trị đại diện cho quyền lợi của các tầng lớp nhân dân giữ vai trị
trung gian giữa nhân dân và chính quyền.
1.3.4. Vận động hành lang
Vận động hành lang là một nghề khá phổ biến ở các nước phát triển.
Đó là hoạt động ảnh hưởng đến tiến trình ban hành quyết định, là phương
13
pháp tiếp cận một cách có hệ thống giữa hai hay nhiều bên, theo đó, mục tiêu
cuối cùng là quá trình xây dựng chính sách. Vận động hành lang là khi cá
nhân hay nhóm lợi ích gây sức ép để các quan chức nhà nước hành động theo
ý muốn của họ.
Chuyên gia vận động hành lang là những người đại diện cho khách
hàng của mình thực hiện việc tiếp xúc trực tiếp với các quan chức có thẩm
quyền. Đó là các cựu nghị sỹ, cựu quan chức cấp cao của chính phủ, các luật
sư chuyên nghiệp, các chuyên gia về thu thập dư luận xã hội, ... Họ đã duy trì
được các mối quan hệ và uy tín cảu mình để thực hiện các hoạt động này.
Nhiệm vụ chính của họ là đạt được việc phản ánh hoặc củng cố những quyền
lợi riêng của các nghiệp đồn, nhóm nghề nghiệp, chủng tộc, tôn giáo, ...,
nhưng không được mâu thuẫn với quyền lợi chung của xã hội. Theo quy định,
họ phải báo cáo hàng năm ai đã trả tiền thuê họ, bao nhiêu và họ làm việc ở
lĩnh vực nào, ...
Hiện nay, ở phương Tây tồn tại hai mơ hình: Mơ hình Ănglsăcsơng – các
tổ chức vận động hành lang phải đăng ký ở cấp quốc gia, hoạt động trong khuôn
khổ quy định; mơ hình lục địa – khơng có vận động hành lang chính thức, nhưng
các tổ chức có thể tác động vào cơ quan lập pháp, tham gia chính thức vào công
việc của các cơ cấu cố vấn được thành lập một cách chun nghiệp.
Có nhiều hình thức và phương pháp vận động hành lang. Đối với cơ
quan lập pháp, các nhà vận động hành lang thu thập thông tin, cung cấp thông
tin cho các nhà lập pháp; lắng nghe ý kiến trong các cuộc họp ủy ban, đệ trình
các dự luật đã chuẩn bị, tham gia soạn thảo dự luật; thông báo cho các nghị sỹ
biết kết quả hoặc thơng tin nào đó có liên quan đến dự luật đang được xem
xét; các cuộc tiếp xúc khơng chính thức; chiến dịch tuyên truyền, thư tín, điện
tử và điện thoại; các kinh phí cho các chiến dịch bầu cử; tham gia hướng dẫn
hoặc giúp đỡ những người tham gia chiến dịch bầu cử; tác động đến các nhà
lập pháp qua việc phổ biến kết quả bầu cử, ... Các phương pháp trên chủ yếu
theo quan hệ với cơ quan lập pháp. Vận động hành lang chủ yếu do một tổ
chức thực hiện, nhưng cũng có thể một vào tổ chức cùng tiến hành.
14
Đối với các cơ quan, tổ chức chính phủ, ngồi những phương pháp nêu
trên, các nhà vận động hành lang còn sử dụng các biện pháp khác như: tác
động vào q trình bổ nhiệm của chính phủ; trợ giúp về chính trị cho các cơ
quan ngang bộ, tác động qua các ủy ban tư vấn; lắng nghe các luận chứng có
điều chỉnh, ...
Vận động hành lang trực tiếp thường diễn ra trong các ủy ban Quốc
hội, các bộ của chính phủ. Họ cung cấp thông tin về một vấn đề được quan
tâm, tranh luận với quan chức, thậm chí giới thiệu khách hàng của mình gặp
trực tiếp các nhà hoạch định chính sách. Kiến thức, các mối quan hệ cá nhân,
tính chun nghiệp và sự có mặt thường xun ở các cơ quan nhà nước khiên
shọ có những vị trí, uy tín nhất định. Vận động hành lang gián tiếp có thể bao
gồm các chiến dịch vận động viết thư ồ ạt, sử dụng các ngân hàng điện thoại
để có chữ ký của cử tri; hoặc có thể thuyết phục các nhóm lợi ích khác tham
gia cùng mình trong một cuộc vận động cấp cơ sở - làm cho cử tri liên hệ
được với các quan chức.
Ưu điểm của vận động hành lang là bổ sung những nhóm xã hội, các
chun gia có uy tín vào soạn thảo và thực hiện các quyết định chính trị. Về
mặt pháp lý, hệ thống thể chế vận động hành lang đã tạo điều kiện đảm bảo
tính cơng khai và dự đốn các q trình chính trị; kiểm tra, giám sát hoạt động
của bộ máy nhà nước; mở rộng số người tham gia tích cực vào q trình chính
trị; kiểm tra tác động qua lại giữa lợi ích cá nhân và các cơ quan chính quyền.
1.3.5. Sử dụng cơng nghệ thơng tin trong chính trị
Máy vi tính là cơng cụ của cơng nghệ chính trị. Hiện nay, ở hầu khắp
các nước trên thế giới, chiến dịch bầu cử không thể thiếu được máy vi tính.
Nó lập và phân tích danh sách các ứng cử viên và cử tri, xử lý các nghiên cứu
xã hội, đáng giá tình hình chính trị - xã hội trong nước và ở từng vùng riêng
biệt; phân tích chỉ số phổ biến và uy tín của các thủ lĩnh chính trị và tổ chức
chính trị, giám sát các q trình này; lập biểu đồ dự tốn và đánh giá tình hình
15
khủng hoảng; mơ hình hóa cách thức bầu cử; dự đoán kết quả bầu cử, đưa ra
kết quả cuối cùng, ...
Trong hoạt động nghị viện, công nghệ tin học giúp việc đăng ký của
các nghị sỹ, biểu quyết một cách nhanh chóng; giúp khai thác, sử dụng tài liệu
của các trung tâm thư viện thế giới; giúp tra cứu khi soạn thảo, giám định, áp
dụng các luật, các quyết định và kiểm tra việc thực hiện chúng; nhận các sách
điện tử qua các modem fax, các báo, tài liệu; xử lý các bài phát biểu của các
nghị sỹ và các thông tin từ cử tri, liên lạc với các địa phương, ...
Nhờ sự trợ giúp của cơng nghệ máy tínhm người ta có thể đọc báo,
nhận thư tín, mua bán, đọc sách từ các thư viện, sắp xếp các công việc tài
chính của mình, gửi thành quả lao động trí óc của mình đến người đặt hàng.
Các phương tiện cơng nghệ hiện đại được sử dụng để tiến hành các cuộc thăm
dò dư luận xã hội, đưa ra kết quả một cách khả quan; trong tiến hành các
tranh luận chính trị nghiệp vụ, tổ chức trưng cầu dân ý...
Ngoài ra, cơng nghệ thực thi quyền lực chính trị cịn thực hiện cải cách
chính trị, sử dụng bạo lực nhằm đạt được những mục đích có lợi cho giai cấp
cầm quyền.
Cải cách chính trị là một dạng hoạt động chính trị có ý thức và có mục
đích của một cá nhân hay một nhóm, một giai cấp. Hoạt động này nhờ vào
quyền lực chính trị có sẵn để điều chỉnh, thay đổi quan hệ giữa các giai cấp,
thay đổi một lĩnh vực nào đó của đời sống xã hội, nhân danh việc bảo vệ trật
tự xã hội hiện hành. Các cuộc cải cách có thể được tiến hành nhờ vào các
phương tiện chính thức, hợp pháp hoặc sử dụng các phương tiện trấn áp. Cải
cách phải được tiến hành đồng bộ, tồn diện trên tất cả các lĩnh vực, trong đó
cần cải cách kinh tế trước, trên cơ sở đó cải cách chính trị. Cơng cuộc cải cách
phải được hoạch định một cách khoa học với những bước đi phù hợp, tránh
chủ quan, nóng vội dẫn đến sai lầm, khơng kiểm sốt được tình hình.
Bất cứ quốc gia nào cũng phải duy trì, củng cố lực lượng vũ trang – bảo
lực để bảo vệ chủ quyền quốc gia. Trong quốc gia, nhà nước của giai cấp
16
thống trị có quyền sử dụng bạo lực để đe dọa, và khi cần thiết đàn áp các lực
lượng chống đối, bảo vệ quyền thống trị của mình. Vì vậy, mọi quốc gia đều
có qn đội, cơng an và các lực lượng vũ trang khác. Vấn đề đặt ra là nhà
nước xây dựng và sử dụng các lực lượng này như thế nào. Điều đó phụ thuộc
vào điều kiện lịch sử cụ thể, tình hình an ninh khu vực và thế giới n ổn, thì
khơng cần thiết phải duy trì lực lượng vũ trang quá đông mà tập trung mọi
nguồn lực vào phát triển kinh tế. Sức mạnh quân sự không chỉ phụ thuộc vào
số lượng quân sỹ và kinh nghiệm, ý thức kỷ luật, sự tinh nhuệ của họ mà còn
phụ thuộc vào mức độ hiện đại của vũ khí. Lực lượng đó phải đủ sức bảo vệ
an ninh quốc gia, sẵn sàng đạp tan các thế lực chống đối trong nước như bạo
loạn, khủng bố, ...
17
Chương 2
THỰC TRẠNG CƠNG NGHỆ CHÍNH TRỊ,
VẬN ĐỘNG HÀNH LANG Ở MỸ
2.1. Khái quát về nước Mỹ
2.1.1. Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội Mỹ
Hợp Chúng quốc Hoa Kỳ là tên đầy đủ của Hoa Kỳ hay còn gọi là
nước Mỹ, được thành lập khi 13 bang thuộc địa cũ của Anh tại Bắc Mỹ tuyên
bố vào năm 1776 rằng họ là những bang tự do và độc lập. Từ giữa thế kỷ XX,
nước này đã vượt xa tất cả các quốc gia khác về lĩnh vực kinh tế, chính trị,
quân sự và ảnh hưởng văn hóa.
Hoa kỳ được thành lập theo truyền thống chính phủ dân cử kiểu dân
chủ đại nghị (có Tổng thống và Quốc hội). Từ đó, nhiều quốc gia, phần nhiều
ở Trung Mỹ và Nam Mỹ đã chịu ảnh hưởng của hệ thống này. Sau tuyên ngôn
độc lập, 13 bang thuộc địa đầu tiên trở thành quốc gia theo kiểu các quốc gia
châu Âu vào thời đó. Trong các năm sau đó, số tiểu bang ở Hoa Kỳ dần dần
tăng thêm.
- Điều kiện tự nhiên
Hoa Kỳ là một nước Cộng hòa liên bang, phần lớn nằm tại Bắc Mỹ
nhưng cũng có nhiều đảo rải rác khắp Thái Bình Dương. Hoa Kỳ trải dài từ
bờ biển Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương, có cùng ranh giới với Canada
về phía Bắc và Mêhicơ về phía nam, cách với Nga về phía tây qua eo biển
Bering.
Tổng diện tích Hoa Kỳ là 9.631.418 km2, chiếm 6,2% diện tích tồn
cầu, trong đó diện tích đất đai là 9.158.960 km2. Diện tích Hoa Kỳ bằng nửa
Nga; bằng khoảng 3/10 châu Phi; bằng khoảng nửa Nam Mỹ; rộng hơn Trung
Quốc không đáng kể.
Tài nguyên chủ yếu của Hoa Kỳ là than đá, đồng, chì, phốt phát,
uranium, vàng, quặng sắt, thủy ngân, niken, muối kali, bạc, thiếc, dầu lửa, gỗ.
18
Hoa Kỳ có nhiều tài ngun khống sản, trong đó có nhiều mỏ vàng, dầu,
than đá. Đây là một trong những điều kiện giúp nền kinh tế Hoa kỳ phát triển.
Dân số Hoa Kỳ tính đến năm 2015 là 297.883.332 người, với khoảng
75% dân số sống ở thành thị, có 170 thành phố có hơn 100.000 dân, trong đó
có 24 thành phố có hơn 500.000 dân. Phần lớn các trung tâm thành thị nằm
dọc theo các bờ biển Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, vịnh Mexico và
vùng Đại Hồ (the Great Lakes). Vùng đông dân nhất là Đông Bắc, diện tích
tương đối nhỏ, chiếm ¼ dân số của cả nước.
- Về kinh tế - xã hội
Ngành nông nghiệp thành công đưa Hoa Kỳ trở thành nước đứng đầu
trong việc sản xuất bắp, lúa mì, đường và thuốc lá. Ngành cơng nghiệp chế
tạo gồm có sản xuất ơ tơ, máy bay, đồ dùng điện tử và nhiều thứ khác. Ngành
công nghiệp lớn nhất hiện nay là dịch vụ, khoảng ¾ người Mỹ làm việc trong
ngành này.
Nước có mậu dịch lớn nhất với Hoa Kỳ là Canada, nước láng giềng ở
phía Bắc. Các nước mậu dịch quan trọng khác là Mêhicô, Liên minh châu Âu
và các nước công nghiệp ở châu Á như: Nhật Bản, Ấn Độ và Hàn Quốc. Năm
2014, GDP của Hoa Kỳ là 21,7 nghìn tỷ USD, đạt mức tăng trưởng là 6,3%.
Văn hóa Hoa Kỳ có ảnh hưởng lớn đến văn hóa các nước khác, đặc biệt
là các nước phương Tây. Nhiều chương trình truyền hình Hoa Kỳ xuất hiện ở
khắp nơi trên thế giới. Ở Hoa Kỳ, người ta có thể tìm thấy một loạt cơng trình
trí tuệ và nghệ thuật của lồi người trong hầu hết các thành phố quan trọng,
các trung tâm nghiên cứu và viện bảo tàng về lịch sử, khoa học và nghệ thuật;
các vũ hội, nhạc kịch; các cơng trình nghệ thuật ngoài trời và kiến trúc mang
tầm quốc tế.
2.1.2. Khái quát về hệ thống chính trị nước Mỹ
Hợp Chúng quốc Hoa Kỳ là khối liên hiệp của nhiều bang Hoa Kỳ (50
bang) lập nên theo Hiến pháp năm 1789. Thủ đơ nước Mỹ là Washington
D.C. Ở Mỹ, mỗi bang có một chính phủ riêng, thủ phủ riêng và trong mỗi
19