Tải bản đầy đủ (.doc) (25 trang)

Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh bắc ninh hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (196.35 KB, 25 trang )

TIỂU LUẬN
MƠN: LÝ LUẬN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

Đề tài:
TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU CƠ QUAN HÀNH CHÍNH
NHÀ NƯỚC Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
Chương 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ TRÁCH NHIỆM NGƯỜI ĐỨNG
ĐẦU CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC...............................................4
1.1. Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước...........................................................4
1.2. Khái niệm về trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước.....4
1.3. Đặc điểm địa vị pháp lý của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà
nước.................................................................................................................11
Chương 2 THỰC TRẠNG TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU CƠ
QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY......15
2.1. Những ưu điểm.........................................................................................15
2.2. Những hạn chế..........................................................................................16
2.3. Khuyến nghị.............................................................................................20
KẾT LUẬN....................................................................................................22
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................23


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn cách mạng nói chung và cơng cuộc đổi mới nói riêng đặt ra
yêu cầu rất cao về trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức trong hệ thống
chính trị (HTCT) nói chung và cấp huyện nói riêng. Đảng, Nhà nước ta đã rất


coi trọng vấn đề này, đã đưa ra những quan điểm, chủ trương, những quy định
về vai trò, trách nhiệm người đứng đầu các tổ chức trong HTCT và chỉ đạo
thực hiện trong thực tiễn. Tuy nhiên, các quy định và hệ thống các quy phạm
pháp luật về trách nhiệm những cán bộ này còn nhiều điểm bất cập, chưa rõ
ràng, cụ thể, gây khó khăn khơng nhỏ trong q trình thực hiện. Trong khi đó,
các cơng trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này, cũng như việc tổng kết
thực tiễn của các cấp uỷ lại chưa nhiều. Bởi vậy, vấn đề này còn nhiều nội
dung rất cần được nghiên cứu tìm lời giải đáp thỏa đáng.
Thực hiện cải cách hành chính do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, đất
nước ta đã thu được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn
hố, xã hội, an ninh quốc phòng. Vai trò và trách nhiệm người đứng đầu từng
bước được đề cao. Vấn đề quan trọng đối với người đứng đầu là phải nắm
chắc chức năng và nhiệm vụ của đơn vị; ý thức đầy đủ và bao qt được cơng
việc hoặc nói cách khác là quản lý được cơng việc mình phụ trách.
Trong tổ chức, thực hiện nhiệm vụ được giao, phải đặc biệt chú trọng
đến việc thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của đơn vị. Sức mạnh của tổ
chức bộ máy là ở chỗ, mọi bộ phận trong dây chuyền vận hành đúng chức
năng được xác định do người đứng đầu điều khiển. Chúng ta thường ít chú
trọng đến vấn đề này, dễ bị những công việc sự vụ hằng ngày cuốn hút. Trong
khi đó, việc kiểm tra, giám sát của cấp trên khơng chặt chẽ, có thể do quan
liêu hoặc hời hợt dẫn đến việc đánh giá hoạt động ở một số đơn vị và của
người đứng đầu thiếu chính xác. Việc làm đó, vơ tình đã khuyến khích chủ
nghĩa hình thức trong một bộ phận cán bộ, cơng chức. Điều đó, một mặt làm

1


giảm động lực thi đua, mặt khác trách nhiệm công vụ có thể bị vi phạm.
Chính vì vậy, việc kiện toàn và xác định trách nhiệm cá nhân người đứng đầu
các cơ quan hành chính nhà nước là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của

quá trình cải cách hành chính gắn liền với tiếp tục đổi mới cơng tác cán bộ.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế đó nên em đã chọn đề tài “Trách
nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Bắc Ninh
hiện nay” để nghiên cứu về môn học lý luận hành chính nhà nước.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội là cơ sở để đổi mới tổ chức và hoạt
động của các cơ quan hành chính nhà nước. Trong đó, việc kiện tồn và xác
định trách nhiệm cá nhân người đứng đầu là một trong những nhiệm vụ trọng
yếu của q trình cải cách hành chính gắn liền với tiếp tục đổi mới cơng tác
cán bộ. Chính vì vậy, thời gian gần đây ở nước ta đã có một số cơng trình
nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến trách nhiệm người
đứng đầu trong các cơ quan hành chính nhà nước như: “Hoạt động lãnh đạo
và quản lý của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ở nước ta’’,
Tạp chí Lý luận chính trị online ; Nguyễn Thế Tài “Trách nhiệm của người
đứng đầu CQHCNN, lý luận và thực tiễn’’, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Học
viện Hành chính, 2011, TP.HCM ; Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh. Hồn thiện pháp luật về trách nhiệm của người đứng đầu các
cơ quan HCNN Việt Nam hiện nay – Vấn đề và giải pháp, Báo cáo tổng hợp
kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp Bộ năm 2009, Cơ quan chủ trì: Viện
Nhà nước và Pháp luật, Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Trịnh Đức Thảo, Hà Nội,
2010; Bùi Thị Ngọc Mai. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành
chính nhà nước. H. NXB Chính trị quốc gia và nhiều cơng trình nghiên cứu
khác nữa.
3. Mục đích, nhiệm vụ của Luận văn
3.1. Mục đích

2


- Làm rõ nội dung, trách nhiệm của Người đứng đầu cơ quan hành chính

nhà nước cấp huyện.
- Đề ra các giải pháp để thực hiện và nâng cao trách nhiệm của người
đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm của người
đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước nói chung và trách nhiệm của người
đứng cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện nói riêng.
- TÌm hiểu thực trạng về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành
chính nhà nước ở tỉnh Bắc Ninh.
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp nâng trách nhiệm của người
đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước nói chung, ở Bắc Ninh nói riêng.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quản lý
hành chính nhà nước và quản lý cán bộ.
Đề tài sử dụng các phương pháp liên ngành và chuyên ngành khác nhau:
phân tích, tổng hợp, so sánh, đặc biệt chú ý phương pháp chuyên ngành phân
tích hệ thống chính trị.
5. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài khảo sát thực tiễn ở các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh trong năm 2021
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
Luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 9 tiết.

3


Chương 1
MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ TRÁCH NHIỆM NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU CƠ

QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.1. Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước
Ở Việt Nam, cơ quan hành chính nhà nước được hình thành từ các cơ
quan quyền lực nhà nước cùng cấp. Chính phủ là cơ quan hành chính nhà
nước cao nhất của nước Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam và là cơ quan
chấp hành của Quốc hội. Chính phủ do Quốc hội thành lập. Uỷ ban nhân dân
là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương và là cơ quan chấp hành của
Hội đồng nhân dân. Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu,
miễn nhiệm và bãi nhiệm. Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp hợp thành
hệ thống cơ quan hành chính nhà nước.
Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận hợp thành của bộ máy nhà
nước, được thành lập để thực hiện chức năng quản lí hành chính nhà nước.
Nghiên cứu địa vị pháp lí hành chính của cơ quan hành chính nhà nước nhằm
xác định vai trị của cơ quan hành chính nhà nước với tư cách là chủ thể của
pháp luật hành chính và là chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính. Khi
tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính, tuỳ từng trường hợp cụ thể mà cơ
quan hành chính nhà nước được xác định là chủ thể mang quyền lực nhà nước
hay chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính.
1.2. Khái niệm về trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành
chính nhà nước
1.2.1. Trách nhiệm
Theo Từ điển Tiếng việt: Trách nhiệm được hiểu là:
- Phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm
làm trịn, nếu kết quả khơng tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả.

4


- Sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn,
nếu sai trái thì phải gánh chịu phần hậu quả [75, tr.1020].

Theo “Sách tra cứu các cụm từ về tổ chức”, thì: “trách nhiệm” là sự tự
giác (theo ý thức đạo đức, nghĩa vụ công dân) hoặc sự bắt buộc (theo quy
định của pháp luật, của quy chế tổ chức) đối với tổ chức hoặc cá nhân phải
làm những công việc, phải thực hiện những nghĩa vụ đã cam kết và ý thức đầy
đủ phận sự của mình. Nghĩa vụ, trách nhiệm đặt ra cho con người phải nhận
thức và thực hiện những yêu cầu của xã hội, phải phấn đấu hoàn thành đến
mức cao nhất những yêu cầu ấy. Trách nhiệm là hệ quả của tự do và ý chí của
con người, là đặc trưng cho hoạt động có ý thức của con người. Khi con
người lớn lên thì trách nhiệm của con người đối với hành vi của mình cũng
lớn lên. Con người ngày càng nhận thức được quy luật khách quan của tự
nhiên và xã hội thì con người ngày càng có khả năng chi phối tự nhiên và xã
hội. Về mặt pháp lý, việc xem xét trách nhiệm cá nhân cần phải xuất phát từ
sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ, quyền càng cao thì trách nhiệm càng
lớn và ngược lại [66, tr.674].
Thuật ngữ trách nhiệm được sử dụng rất phổ biến trong ngôn ngữ đời
sống hàng ngày cũng như trong những các văn bản pháp luật. Tuy nhiên, khó
có một định nghĩa chung về thuật ngữ này.
Ở Việt Nam hiện nay cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ
“trách nhiệm”. Một số tác giả tiếp cận thuật ngữ “trách nhiệm” theo nghĩa là
nghĩa vụ, nhiệm vụ, bổn phận, quyền hạn. Có người hiểu trách nhiệm là “bổn
phận phải thực hiện, nó cịn là điều khơng được làm, được làm, phải làm và
nên làm (...). Trách nhiệm là những gì mà họ buộc phải làm và phải chịu sự
giám sát của người khác”1. Có tác giả viết, trách nhiệm “thường được hiểu là
khả năng của con người ý thức được những kết quả hoạt động của mình, đồng
1

Đỗ Minh Hợp (2007), Tự do và trách nhiệm trong đạo đức học hiện sinh, Tạp chí Triết học, số 12/2007, tr.
27-33

5



thời là khả năng thực hiện một cách tự giác những nghĩa vụ được đặt ra cho
mình’’2. Một quan điểm cho rằng: “trách nhiệm là sự thực hiện bổn phận,
nghĩa vụ của chủ thể đổi với người khác, với xã hội một cách tự giác. Trách
nhiệm đối lập với vô trách nhiệm, gắn liền với chịu trách nhiệm”3 ...
Nhìn chung, các quan niệm trên đều tiếp cận trách nhiệm theo nghĩa là
nghĩa vụ, nhiệm vụ, bổn phận, quyền hạn. Với nghĩa này, trách nhiệm là
nghĩa vụ, bổn phận phải làm, nên làm, được làm hoặc khơng được làm, có thể
từ sự tự nguyện, tự giác hay buộc phải thực hiện do yêu cầu, đòi hỏi của các
quy phạm xã hội (pháp luật, đạo đức...).
Ở cả hai góc độ tiếp cận trên đây về trách nhiệm đều có những điểm
hợp lý, tùy vào mục đích vận dụng mà có thể dùng một trong hai cách hiểu
cho phù hợp. Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh của hành chính cơng, của hoạt
động quản lý nhà nước, nếu chỉ hiểu thuần túy theo một trong hai cách trên
đây thì chưa đầy đủ khi nói về trách nhiệm. Ví dụ, khi nói đến “trách nhiệm
của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ”, nên hiểu đó là “những
bổn phận, nghĩa vụ của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ”, hay
nên hiểu đó là “việc chịu trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính
nhà nước ”? Việc hiểu theo chỉ một trong hai cách này có thể dẫn đến những
khó khăn trong việc quy định, xem xét, đánh giá trách nhiệm của người đứng
đầu cơ quan hành chính nhà nước .
Do đó, quan điểm của tác giả trong đề tài này là: cần tiếp cận thuật ngữ
trách nhiệm theo hướng kết hợp cả hai cách hiểu trên đây. Nghĩa là, khi bàn
về trách nhiệm trong lĩnh vực quản lý nhà nước nói chung và trách nhiệm của
người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước nói riêng cần xem xét đó là một
chỉnh thể của hai nhóm yếu tố:
2

Nguyễn Văn Phúc (2008), Tự do và trách nhiệm trong hoạt động của con người, trong Công bằng xã hội

trách nhiệm đối với xã hội và đoàn kết xã hội, Phạm Văn Đức chủ biên, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.
330-331.
3
Phạm Hồng Thái (2009), Chức vụ và thẩm quyền chức vụ trong cơ quan HCNN, Tạp chí Khoa học Đại học
Quốc gia Hà Nội, Luật học 25, tr. 67-73.

6


- Một là, những việc nên làm, phải làm, được làm (nghĩa vụ, quyền)
- Hai là, việc chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện những việc nên
làm, phải làm, được làm đó.
Điều này cũng phù hợp với cách hiểu về “trách nhiệm” trong Từ điển
Tiếng Việt. Theo từ điển Tiếng Việt, trách nhiệm được hiểu như sau: 1. phần
việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm trịn, nếu
kết quả khơng tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả; 2. sự ràng buộc đối với lời
nói, hành vi của họ, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu phần
hậu quả4. Điểm chung của cả hai cách hiểu trên, đó là đều xem xét trách
nhiệm gồm hai thành phần cơ bản: một là những việc nên làm, phải làm, được
làm, như là bổn phận, nhiệm vụ, quyền hạn; hai là sự cam kết đối với kết quả
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và chịu trách nhiệm đối với kết quả đó.
Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu: Trách nhiệm là những việc
nên làm, phải làm, được làm với kết quả tốt, nếu kết quả không tốt sẽ phải
gánh chịu phần hậu quả.
1.2.2. Trách nhiệm người đứng đầu
Về người đứng đầu, ở Việt Nam, không nhiều tác giả đưa ra quan niệm
về “người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước”. Có quan niệm cho
rằng, “Người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước được hiểu là những
người đứng đầu Nhà nước, Chính phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ và Ủy
ban nhân dân các cấp”5 . Có thể thấy cách hiểu này mới chỉ xác định người

đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước là ai mà chưa đưa ra một cách hiểu
thế nào là người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước.
Quan niệm khác cho rằng: “Người đứng đầu cơ quan hành chính nhà
nước là một định chế pháp lý xác lập vị trí cơng tác cao nhất trong cơ quan
hành chính nhà nước với những thẩm quyền và trách nhiệm tương ứng để
4
5

Viện Ngôn ngữ học, Trung tâm từ điển học (2002), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng
Viện Ngôn ngữ học, Trung tâm từ điển học (2002), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng

7


hồn thành tốt vai trị là người đứng đầu”. Cũng có tác giả cho rằng, “Theo
nghĩa hẹp, người đứng đầu là cá nhân (Thủ trưởng) có quyền lực trong lãnh
đạo, quản lý và đứng đầu chỉ huy, tổ chức một đơn vị hoặc một tổ chức nhất
định để thực hiện mục tiêu lãnh đạo quản lý đã đề ra. Theo nghĩa rộng, người
đứng đầu là chỉ cá nhân hoặc tập thể có quyền lực nhất định trong lãnh đạo,
quản lý, gánh vác trách nhiệm nhất định và đứng đầu chỉ huy, tổ chức một
đơn vị hoặc một tổ chức nhất định để thực hiện mục tiêu lãnh đạo, quản lý đã
đề ra” .
Trong hầu hết các nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay về trách nhiệm của
người đứng đầu CQHCNN, các phân tích từ góc độ lý luận về vấn đề này
chưa nhận được sự quan tâm đúng mức và việc đưa ra cách hiểu thế nào là
người đứng đầu CQHCNN chưa thực sự thống nhất. Có quan niệm cho rằng:
“Người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước được hiểu là những người
đứng đầu Nhà nước, Chính phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ và Uỷ ban
nhân dân các cấp”10. Có thể thấy cách hiểu này mới chỉ xác định người đứng
đầu CQHCNN là ai mà chưa đưa ra một cách hiểu thế nào là người đứng đầu

CQHCNN.
Quan niệm khác cho rằng: Người đứng đầu CQHCNN là một định chế
pháp lý xác lập vị trí cơng tác cao nhất trong CQHCNN với những thẩm
quyền và trách nhiệm tương ứng để hồn thành tốt vai trị là người đứng đầu.
Cũng có tác giả tiếp cận theo nghĩa hẹp, người đứng đầu là cá nhân (thủ
trưởng) có quyền lực trong lãnh đạo, quản lý và đứng đầu chỉ huy, tổ chức
một đơn vị hoặc một tổ chức nhất định để thực hiện mục tiêu lãnh đạo, quản
lý đã đề ra. Theo nghĩa rộng người đứng đầu là chỉ cá nhân hoặc tập thể có
quyền lực nhất định trong lãnh đạo, quản lý, gánh vác trách nhiệm nhất định
và đứng đầu chỉ huy, tổ chức một đơn vị hoặc một tổ chức nhất định để thực
hiện mục tiêu lãnh đạo, quản lý đã đề ra.

8


Các quan niệm trên hợp lý ở chỗ: người đứng đầu CQHCNN là “một
định chế pháp lý”; “xác lập vị trí cơng tác cao nhất”; “là cá nhân”; “có quyền
lực trong lãnh đạo, quản lý”. Tuy nhiên, các cách hiểu trên đây chưa xác định
thật đầy đủ nội hàm khái niệm người đứng đầu CQHCNN. Đồng thời, có một
số điểm trong các cách hiểu chưa thật sự logic, như cách hiểu thứ hai cho
rằng, “theo nghĩa rộng người đứng đầu là chỉ cá nhân hoặc tập thể”.
Hệ thống CQHCNN ở nước ta bao gồm Chính phủ, bộ, cơ quan ngang
bộ (gồm tổng cục, cục), Uỷ ban nhân dân (UBND) các cấp và các cơ quan
chun mơn thuộc UBND13, do đó, người đứng đầu CQHCNN ở Việt Nam
bao gồm các chức danh như sau: thủ tướng, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan
ngang bộ, tổng cục trưởng, cục trưởng, chủ tịch UBND các cấp, giám đốc sở,
trưởng phịng, ban chun mơn thuộc UBND các cấp14. Vì vậy, tác giả tổng
hợp và đưa ra khái niệm người đứng đầu CQHCNN như sau: Người đứng đầu
CQHCNN là thuật ngữ dùng để chỉ thiết chế giữ vị trí pháp lý cao nhất trong
CQHCNN, thực hiện vai trò lãnh đạo, quản lý hoạt động của CQHCNN, có

nghĩa vụ và quyền cao nhất đối với hoạt động CQHCNN và chịu trách nhiệm
về hoạt động của CQHCNN đó.
Tác giả đề tài đồng tình với một số điểm trong cách hiểu của hai tác giả
trên đây, khi các tác giả này cho rằng, người đứng đầu cơ quan hành chính
nhà nước là “một định chế pháp lý”; “xác lập vị trí cơng tác cao nhất”; “là cá
nhân”; “có quyền lực trong lãnh đạo, quản lý”. Tuy nhiên, các cách hiểu trên
đây chưa xác định thật đầy đủ nội hàm khái niệm người đứng đầu cơ quan
hành chính nhà nước. Ví dụ, như cách hiểu thứ hai cho rằng “theo nghĩa rộng
người đứng đầu là chỉ cá nhân hoặc tập thể”.
Nên tơi cho rằng,“Người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước” là
thuật ngữ dùng để chỉ thiết chế giữ vị trí pháp lý cao nhất trong cơ quan hành
chính nhà nước, thực hiện vai trò lãnh đạo, quản lý hoạt động của cơ quan

9


HCNN, có nghĩa vụ và quyền cao nhất đối với hoạt động cơ quan hành chính
nhà nước và chịu trách nhiệm về hoạt động của cơ quan hành chính nhà
nước đó.
Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước bao gồm Chính phủ, Bộ, cơ
quan ngang Bộ, UBND các cấp và các cơ quan chun mơn thuộc UBND. Do
đó, người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam bao gồm các
chức danh sau: Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ
tịch UBND các cấp, Giám đốc Sở, Trưởng phòng và tương đương.
Về trách nhiệm người đứng đầu, là trách nhiệm công vụ là của người
đứng đầu cơ quan hành chính Nhà nước khi thực hiện một hành vi hành chính
trong phạm vi chức năng và quyền hạn được pháp luật và tổ chức cho phép
để phục vụ cho lợi ích tồn xã hội.
Trách nhiệm người đứng đầu là trách nhiệm trong việc lãnh đạo, tổ
chức thực hiện nhiệm vụ được giao. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp

hành Trung ương Đảng khoá IX đã nhấn mạnh và chỉ rõ: “ Tăng cường vai trò
lãnh đạo tập thể của cấp uỷ và tổ chức Đảng, trong đó làm rõ quyền hạn, trách
nhiệm của người đứng đầu tổ chức, của cơ quan tham mưu là nhân tố có ý
nghĩa quyết định trong cơng tác xây dựng Đảng.
Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan Nhà nước trong khi thi hành
nhiệm vụ, công vụ được quy định cụ thể hơn. Nghị định số 157/2007/NĐ-CP
ngày 27 tháng 10 năm 2007, Quy định chế độ trách nhiệm đối với người
đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước trong thi hành nhiệm vụ,
cơng vụ, giải thích:
Chế độ trách nhiệm đối với người đứng đầu, cấp phó của người đứng
đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước là toàn bộ các quy định về chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và thẩm quyền được Nhà nước giao cho người
đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu; trường hợp vi phạm sẽ bị xử lý theo
các hình thức trách nhiệm như sau:

10


1.3. Đặc điểm địa vị pháp lý của người đứng đầu cơ quan hành
chính nhà nước
Địa vị pháp lý của người đứng đầu CQHCNN mang một số đặc điểm
cơ bản sau đây:
Một là, người đứng đầu CQHCNN là vị trí mang tính pháp lý.
Hệ thống các CQHCNN có đặc điểm là do Nhà nước thành lập, việc tổ
chức, hoạt động dựa trên cơ sở các quy định pháp luật, do đó, người đứng đầu
CQHCNN phải là vị trí mang tính pháp lý. Cá nhân ngồi vào “ghế” người
đứng đầu CQHCNN được pháp luật thừa nhận một cách chính thức. Tất cả
các vấn đề liên quan đến quá trình hình thành, hoạt động và kết thúc hoạt
động của một chức danh người đứng đầu CQHCNN đều tuân thủ theo các quy
định của pháp luật.

Hai là, người đứng đầu CQHCNN hoạt động nhân danh nhà nước.
Nhà nước thành lập các CQHCNN để thực hiện những chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nước. Vì vậy, Nhà nước trao cho các CQHCNN và các
chức vụ trong CQHCNN – trong đó có chức vụ người đứng đầu CQHCNN
những thẩm quyền nhất định. Những thẩm quyền này là phương tiện pháp lý
để người đứng đầu CQHCNN thực hiện vai trò người đứng đầu. Thẩm quyền
của người đứng đầu CQHCNN là tổng thể những quyền, nghĩa vụ mang tính
quyền lực – pháp lý do pháp luật quy định. Khi thực hiện các quyền, người
đứng đầu CQHCNN nhân danh Nhà nước, đại diện cho quyền lực nhà nước.
Người đứng đầu CQHCNN được sử dụng quyền lực công cùng các nguồn lực
công để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Đây là đặc
trưng cơ bản để phân biệt người đứng đầu CQHCNN với người đứng đầu các
tổ chức xã hội.
Ba là, địa vị pháp lý của người đứng đầu CQHCNN chịu sự chi phối
của quan hệ hành chính mang tính mệnh lệnh, thứ bậc.

11


Để thực hiện được chức năng QLHCNN trên các lĩnh vực của đời sống
xã hội, hệ thống hành chính nhà nước (HCNN)của hầu hết các nước trên thế
giới đều mang tính thứ bậc, cấp trên,cấp dưới và có sự phân công phân cấp
phù hợp với yêu cầu QLHCNN trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Ở Việt
Nam, nền HCNN được cấu tạo gồm một hệ thống định chế tổ chức theo thứ
bậc chặt chẽ và thông suốt từ trung ương tới các địa phương, trong đó cấp
dưới phục tùng cấp trên, nhận chỉ thị mệnh lệnh và chịu sự kiểm tra, giám sát
của cấp trên.Vì vậy, địa vị pháp lý của người đứng đầu CQHCNN chịu sự chi
phối của quan hệ hành chính mang tính mệnh lệnh, thứ bậc này.
Ví dụ, Thủ tướng là người đứng đầu Chính phủ, chịu trách nhiệm trước
Quốc hội, Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội về nhiệm vụ, quyền

hạn được Hiến pháp, Luật Tổ chức Chính phủ quy định. Bộ trưởng và thủ
trưởng cơ quan ngang bộ là người đứng đầu và lãnh đạo một bộ, cơ quan
ngang bộ, phụ trách một số cơng tác của Chính phủ; chịu trách nhiệm trước
Thủ tướng, trước Quốc hội về quản lý nhà nước ngành, lĩnh vực trong phạm
vi cả nước hoặc về công tác được giao phụ trách. Chủ tịch UBND là người
lãnh đạo và điều hành công việc của UBND, chịu trách nhiệm cá nhân về việc
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cùng với tập thể UBND chịu trách
nhiệm về hoạt động của UBND trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và trước
cơ quan nhà nước cấp trên.
Bốn là, người đứng đầu CQHCNN là người thực hiện vai trò lãnh đạo,
quản lý đối với CQHCNN với cương vị là đứng đầu.
Khi bàn về thuật ngữ “người đứng đầu tổ chức” ở phần trên đã trình
bày thì,người đứng đầu tổ chức là người thực hiện vai trò lãnh đạo, quản lý
trong tổ chức. Đối với người đứng đầu CQHCNN cũng không phải ngoại lệ.
Người đứng đầu CQHCNN là người thực hiện vai trị lãnh đạo, quản lý đối
với CQHCNN mình đứng đầu.

12


Tuy nhiên, cần nói thêm rằng đặc điểm này cịn xuất phát từ nét đặc thù
của mối quan hệ giữa hai yếu tố chính trị và hành chính trong các CQHCNN
ở Việt Nam hiện nay. Tùy thuộc vào đặc điểm hệ thống chính trị ở từng quốc
gia và lý thuyết về tổ chức nền hành chính nhà nước, có hai phương thức lãnh
đạo, điều hành đối với các CQHCNN:
Ở Việt Nam, người đứng đầu được giao cho sử dụng một số quyền lực
để thi hành chức trách, nhiệm vụ được giao. Đó là quyền lực của tập thể trao
cho họ và họ là người đại diện cho quyền lực của tập thể để thực thi cơng việc
sao cho có hiệu quả cao nhất, quyền lực đó khơng phải là của cá nhân họ.
Chất lượng công tác của người đứng đầu thể hiện chất lượng lãnh đạo cụ thể

của tổ chức đảng, chính quyền, đồn thể ở đơn vị mà người đứng đầu đại
diện. Nó bộc lộ tồn bộ khả năng, phẩm chất của người cán bộ, đồng thời
cũng thể hiện chất lượng lãnh đạo cụ thể của tổ chức đảng ở lĩnh vực mà cá
nhân người đứng đầu được trao quyền đại diện. Bác Hồ từng chỉ rõ, cán bộ là
gốc của mọi công việc. Người đứng đầu lại càng là "gốc" quyết định sự thành
công của đơn vị, địa phương, đoàn thể cụ thể, chịu trách nhiệm về toàn bộ
hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý.
Trong mọi trường hợp, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm lớn hơn
cán bộ, nhân viên thuộc quyền, không những chỉ là liên đới trách nhiệm mà
đây còn là trách nhiệm trong chỉ đạo, quản lý, điều hành, kiểm tra, đôn đốc.
Người đứng đầu cơ quan, đơn vị có trọng trách lớn trước mọi thành cơng hay
thất bại trong mọi hoạt động lãnh đạo, tổ chức, điều hành cơ quan, tổ chức,
đơn vị thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, có chất lượng và
đúng thời hạn được giao; tự mình phải chịu trách nhiệm chính trong việc ra
các quyết định, chủ trương, giải pháp cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ và
chịu trách nhiệm về quyết định đó. Việc tự mình biết tạo ra khả năng quán
xuyến, khả năng tổng hợp, khái quát đòi hỏi người đứng đầu có năng lực

13


nghe, nhìn, phân tích mọi hiện tượng, sự việc trong cơ quan, đơn vị. Nhìn
nhận và đánh giá một cách khách quan và chính xác những cán bộ, nhân viên
thuộc quyền có vai trị rất quan trọng đối với người đứng đầu trong sử dụng,
bố trí, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, nhân viên phù hợp. Nếu để xảy ra các sai
phạm thì người đứng đầu trước hết phải chịu kỷ luật đảng, sau đó là trách
nhiệm trước pháp luật, chính quyền và nhân dân.
Trách nhiệm của người đứng đầu thể hiện ở những điểm chính sau đây:
Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ
trách; thể hiện ở tính tiền phong gương mẫu, liêm chính, nói đi đơi với làm;

thể hiện ở tính dân chủ, tinh thần tập thể trong cơng tác và văn hóa ứng xử các
mối quan hệ của người lãnh đạo; thể hiện ở trình độ, năng lực, phẩm chất,
phong cách của người lãnh đạo, có quan điểm, phương pháp làm việc khách
quan, toàn diện và cụ thể…
Người đứng đầu có vị trí, trách nhiệm cá nhân và vai trị như đầu tàu,
quyết định mọi thành cơng hay thất bại trong hoạt động của cơ quan, tổ chức,
đơn vị. Người đứng đầu phải xác định cho thật rõ cơ chế trách nhiệm và chỗ
đứng của mình trong tập thể cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đồn thể và
cơ quan, đơn vị. Phải phân biệt thật rạch ròi quyền và trách nhiệm của mình
đến đâu; mối quan hệ giữa mình và tập thể ban lãnh đạo như thế nào để tránh
trường hợp thành tích thì nhận về mình, cịn thiếu sót, khuyết điểm thì đổ lỗi
cho tập thể. Sự nhập nhằng trong việc xác định mối quan hệ giữa tập thể lãnh
đạo và cá nhân phụ trách sẽ đẩy người đứng đầu rơi vào một trong hai tình
trạng: hoặc là độc đoán, chuyên quyền; hoặc là sợ trách nhiệm, chờ đợi,
khơng dám quyết đốn.

14


Chương 2
THỰC TRẠNG TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU CƠ QUAN
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY
Thời gian qua, những người đứng đầu CQHCNN ở tỉnh Bắc Ninh đã
thể hiện được năng lực trong thực thi trách nhiệm. Bằng kiến thức lãnh đạo,
quản lý, tinh thần dám nghĩ, dám làm, khả năng thực hiện các hoạt động lập
kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra, những người đứng đầu CQHCNN của
tỉnh đã đóng vai trị quan trọng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
các CQHCNN, góp phần vào thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương.
Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, cơng chức (nhất là cán bộ chủ chốt) ở các

cơ quan, đơn vị, địa phương có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ
chun mơn, nghiệp vụ, năng động và sáng tạo; tích cực thực hiện đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Trong vai trò người đứng đầu
các cơ quan hành chính nhà nước của tỉnh những đội ngũ cán bộ, công chức
đã thể hiện rõ những ưu điểm và hạn chế trong thực thi trách nhiệm của mình,
cụ thể như sau:
2.1. Những ưu điểm
Thứ nhất, ưu điểm trong việc chịu trách nhiệm chính trị.
Những người đứng đầu CQHCNN của tỉnh đã thực hiện trách nhiệm
chính trị trước các CQNN, trước người dân, thể hiện qua việc thực hiện chế độ
báo cáo HĐND theo định kỳ, trả lời chất vấn về việc thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của CQHCNN mình đứng đầu, tuân thủ quy trình miễn nhiệm, bãi nhiệm
theo quy định. Đặc biệt, khi thực hiện chưa tốt vị trí người đứng đầu cơ quan,
ngành, lĩnh vực, một số người đứng đầu CQHCNN đã đứng ra “xin lỗi”, “nhận
trách nhiệm chính trị” trước HĐND, trước người dân. Đó là những động thái thể
hiện tinh thần chịu trách nhiệm chính trị của người đứng đầu CQHCNN.

15


Thứ hai, ưu điểm trong việc chịu trách nhiệm pháp lý.
Thời gian qua, nhiều vụ việc, vụ án liên quan đến trách nhiệm của
người đứng đầu CQHCNN, đặc biệt, nhiều vụ việc mang tính chất như những
“đại án” đã được đưa ra nhằm xử lý trách nhiệm của những người có liên
quan, đặc biệt là trách nhiệm của những người đứng đầu CQHCNN một cách
nghiêm minh, kịp thời. Mặc dù cịn nhiều vấn đề cần bàn luận thêm, tuy
nhiên, có thể ghi nhận đó là những ưu điểm trong việc xử lý trách nhiệm pháp
lý của những người đứng đầu CQHCNN.
Thứ ba, ưu điểm trong việc chịu trách nhiệm đạo đức.
Đội ngũ cán bộ, cơng chức của tỉnh, trong đó có những người đứng đầu

CQHCNN “nhìn chung, ln nhận thức một cách đầy đủ và đúng đắn bổn
phận “công bộc ”, trách nhiệm phục vụ nhân dân với tinh thần liêm chính, có
ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần khắc phục khó khăn vượt qua những thách
thức của cuộc sống hiện thực để hoàn thành tốt nhiệm vụ” 6. Trong q trình
thực thi cơng vụ đã xuất hiện những tấm gương, những điển hình tiên tiến tiêu
biểu cho đạo đức, lối sống, liêm khiết, đi đầu trong cuộc đấu tranh chống các
hiện tượng tiêu cực, thể hiện tinh thần tự chủ, tự chịu trách nhiệm trước nhân
dân trong thực thi công vụ. Một số người đứng đầu CQHCNN thể hiện tinh
thần “lăn xả” vì cơng việc, thực hiện trách nhiệm với tinh thần cống hiến, hy
sinh vì cuộc sống tốt đẹp hơn cho nhân dân. Khi để xảy ra những vụ việc
trong phạm vi quản lý gây ảnh hưởng đến sự ổn định, phát triển của ngành,
lĩnh vực, địa phương, một số người đứng đầu CQHCNN đã thể hiện tinh thần
chịu trách nhiệm đạo đức, nhận “lỗi” trên các phương tiện truyền thông, đồng
thời nỗ lực sửa chữa, khắc phục hậu quả, cũng có người xin “từ chức”.
2.2. Những hạn chế
Thứ nhất, hạn chế trong việc chịu trách nhiệm chính trị.
6

Cao Minh Cơng (2012), Trách nhiệm cơng vụ và đạo đức công chức ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sỹ
triết học, Viện Triết học, Hà Nội.

16


Theo nguyên lý của trách nhiệm chính trị, nếu thực hiện khơng tốt vai
trị đứng đầu, trong nhiệm kỳ khơng khiến cho ngành, lĩnh vực, địa phương
ổn định, phát triển thì người đứng đầu CQHCNN phải chịu trách nhiệm chính
trị bằng cách xin lỗi, có hành động thiết thực nhằm thay đổi hiện trạng và cao
nhất là xin “từ chức” - tự nguyện “lùi lại” để người có năng lực hơn đảm
nhiệm vị trí đứng đầu.

Ở tỉnh Bắc Ninh, mặc dù thực tế cho thấy trong nhiều lĩnh vực, ơ nhiều
địa phương còn tồn tại nhiều yếu kém do sự quản lý thiếu hiệu lực, hiệu quả
của người đứng đầu CQHCNN, nhưng thực tế cho thấy có rất ít người đứng
đầu CQHCNN dám nhận trách nhiệm và dám chịu trách nhiệm chính trị. Trên
diễn đàn Quốc hội, HĐND, số người đứng đầu CQHCNN dám công khai xin
lỗi nhân dân, xin lỗi cử tri vẫn chỉ “đếm trên đầu ngón tay”, và hầu như khơng
có người đứng đầu nào tự nguyện “từ chức”, mặc dù vấn đề từ chức đã được
quy định trong Luật cán bộ, công chức 2008.
Thứ hai, hạn chế trong việc chịu trách nhiệm pháp lý.
Mặc dù còn nhiều hạn chế, vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn, nhưng việc chịu trách nhiệm pháp lý của người đứng đầu
CQHCNN chưa thể hiện rõ, nhiều người đứng đầu CQHCNN chưa phải chịu
chế tài trách nhiệm pháp lý tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi.
Đặc biệt, theo Báo cáo về công tác phòng chống tham nhũng một số
năm gần đây cho thấy, các trường hợp người đứng đầu bị xử lý ngày càng
giảm. Con số người đứng đầu các cơ quan bị xử lý khi để xảy ra tham nhũng
có xu hướng giảm đi, tuy nhiên, “khơng hồn tồn đồng nghĩa với việc cơng
tác phịng chống tham nhũng của chúng ta đã thực sự hiệu quả 7. Ngồi ra cịn
nhiều ví dụ khác cho thấy hiện nay việc xử lý trách nhiệm pháp lý đối với
những người đứng đầu CQHCNN chưa đảm bảo tính nghiêm minh, kịp thời,
7

Hồng Châu, Phịng chống tham nhũng: xử lý trách nhiệm người đứng đầu chưa nghiêm, báo điện tử Công
Thương,

17


phổ biến tình trạng nể nang, né tránh, khơng kiên quyết xử lý tới cùng trách
nhiệm của những người đứng đầu CQHCNN. Đối với những người đứng đầu

vi phạm chế độ trách nhiệm, đã có một số xử lý, nhưng khơng kịp thời, khơng
đích đáng. Thực trạng này đi ngược lại nguyên tắc pháp chế, công bằng, gây
ra tâm lý khinh nhờn pháp luật của những người vi phạm và làm mất lòng tin
của nhân dân vào bộ máy nhà nước.
Thứ ba, hạn chế trong việc chịu trách nhiệm đạo đức.
Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều những hạn chế trong việc thực hiện
trách nhiệm xuất phát từ những biểu hiện thiếu vắng đạo đức trong thực thi
công vụ của người đứng đầu CQHCNN. Những biểu hiện này rất đa dạng, ví
dụ như: Chưa tồn tâm tồn ý thực hiện trách nhiệm người đứng đầu; nhiều
trường hợp vô cảm trước những khó khăn của người dân; bng lỏng quản lý,
quan liêu dẫn đến tổ chức khơng hồn thành nhiệm vụ; thiếu kiểm sốt hoặc
dung túng cán bộ cơng chức dưới quyền làm điều sai trái; biết công vụ vượt
quá tầm năng lực nhưng vẫn nhận; Khi thấy mình khơng đủ năng lực, đạo đức
để lãnh đạo, quản lý thì khơng chịu rút lui, khơng có dũng khí từ chức bởi tâm
lý sĩ diện, sợ xấu hổ hoặc tâm lý tham quyền cố vị, muốn giữ chiếc ghế quyền
lực; Khi khơng hồn thành trách nhiệm thì chối quanh, đùn đẩy trách nhiệm,
đổ lỗi cho hoàn cảnh khách quan, cho nhân viên, cho “cơ chế”. Nhiều trường
hợp cố tình sử dụng vị trí cơng để mưu lợi tư, trực tiếp hoặc dung túng cho
cấp dưới vi phạm pháp luật. Khi sự việc vi phạm pháp luật bị phát hiện, họ
tìm mọi cách để trốn tránh việc phải chịu trách nhiệm, “lách luật”, “đổ thừa”,
bưng bít thơng tin, trù dập những người nói lên sự thật. Khi bị điều tra, xét xử
thì “chạy tội”, “chạy án”... gây khó khăn cho q trình điều tra và làm sai lệch
kết quả xét xử.
Thứ tư, Năng lực của người đứng đầu CQHCNN ở Bắc Ninh hiện nay
nhìn chung chưa thực sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Theo Báo cáo tổng kết

18




×