TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA TRIẾT HỌC
----------
BÀI ĐIỀU KIỆN
MÔN TRIẾT HỌC TRONG CÁC KHOA HỌC
TRIẾT HỌC TRONG SỬ HỌC
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Quỳnh
Sinh viên thực hiện
:
Lớp
: K66A
Khoa
: Triết học
Hà Nội, 2017
1
Mục lụcc lục lụcc
I. Khái quát về Triết học và Sử học.................................................................................................3
1. Triết học...................................................................................................................................3
1.1. Khái niệm..........................................................................................................................3
1.2. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................................................4
1.3. Vai trò của triết học trong đời sống xã hội.......................................................................5
2. Khái quát về Sử học.................................................................................................................6
2.1. Khái niệm lịch sử học.......................................................................................................6
2.2. Vai trò của sử học trong đời sống xã hội của con người..................................................8
II. Mối quan hệ giữa Triết học và Sử học........................................................................................9
1. Tác động của triết học tới Sử học............................................................................................9
2. Tác động của Sử học tới Triết học.........................................................................................10
III. Biểu hiện của Triết học trong Sử học......................................................................................10
1. Quan niệm về đối tượng của Sử học trong lịch sử phát triển Sử học....................................10
2. Đặc điểm của đối tượng sử học.............................................................................................12
III. Từ sự kiện đến quy luật lịch sử................................................................................................13
1. Sự kiện lịch sử.......................................................................................................................13
2. Quy luật lịch sử......................................................................................................................18
3. Liệu chúng ta có thể thay đổi được lịch sử............................................................................20
4.1 Khái niệm nhận thức lịch sử................................................................................................21
4.2. Khả năng nhận thức được lịch sử của con người............................................................23
4.3. Các cấp độ trong quá trình nhận thức lịch sử.................................................................27
4.4 Vai trò của chủ thể nhận thức..........................................................................................31
2
I. Khái quát về Triết học và Sử học
1. Triết học
1.1. Khái niệm
Triết học xuất hiện cả ở phương Đông và phương Tây vào khoảng thế kỷ
thứ VIII TCN đến thế kỷ thứ III TCN.
- Ở phương Đông:
+ Trung Quốc: Người Trung quốc cổ đại quan niệm “triết” chính là “trí”, là
cách thức và nghệ thuật diễn giải, bắt bẻ có tính lý luận trong học thuật nhằm đạt
tới chân lý tối cao.
+ Ấn Độ: Triết học được đọc là darshana, có nghĩa là chiêm ngưỡng nhưng
mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con
người đến với lẽ phải.
- Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy lạp được la tinh hố là
Philơsơphia - nghĩa là u mến, ngưỡng mộ sự thông thái. Như vậy Philôsôphia
vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của
con người.
Như vậy, dù ở phương Đông hay phương Tây, triết học được xem là hình
thái cao nhất của tri thức, nhà triết học là nhà thông thái có khả năng tiếp cận
chân lý, nghĩa là có thể làm sáng tỏ bản chất của mọi vật. Có nhiều cách định
nghĩa khác nhau, nhưng bao hàm những nội dung giống nhau, đó là: triết học
nghiên cứu thế giới một cách chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi
phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con
người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống
dưới dạng duy lý.
Khái quát lại ta có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung
nhất của con người về thế giới; về vị trí vai trị của con người trong thế giới đó.
3
1.2. Đối tượng nghiên cứu
- Khi mới xuất hiện, Triết học Cổ đại còn được gọi là Triết học tự nhiên bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực, khơng có đối tượng riêng. Đây
là ngun nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm sau này cho rằng Triết học là
khoa học của mọi khoa học.
- Thời kỳ Trung cổ, ở Tây Âu khi quyền lực của giáo hội Thiên chúa bao
trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì triết học trở thành một bộ phận của thần
học. Triết học chỉ có nhiệm vụ lý giải và chứng minh cho sự đúng đắn của nội
dung trong kinh thánh. Triết học tự nhiên bị thay thế bởi nền Triết học kinh viện.
- Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, để đáp ứng yêu cầu của sản xuất công
nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành có tính chất là khoa học thực
nghiệm đã ra đời với tính cách là các khoa học độc lập. Triết học lúc này có tên
gọi là siêu hình học - khoa học hậu vật lý. Đối tượng của triết học thời kỳ này là
nghiên cứu cái ẩn dấu, cái bản chất đằng sau các sự vật, hiện tượng “vật thể” có
thể thực nghiệm được.
+ Triết học duy vật dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã
phát triển nhanh chóng, đạt tới đỉnh cao mới với các đại biểu như Ph. Bây cơn,
T.Hốpxơ (Anh), Diđrô, Hen Vêtiúyt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)...
+ Mặt khác, tư duy triết học cũng được phát triển trong các học thuyết duy
tâm mà đỉnh cao là triết học Hêghen.
+ Song, cũng chính sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên
ngành cũng từng bước làm phá sản tham vọng của Triết học muốn đóng vai trị
“Khoa học của mọi khoa học”, mà triết học Heghen là triết học cuối cùng mang
tham vọng đó. Heghen xem triết học của mình là một hệ thống phổ biến của
nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ
thuộc vào triết học.
4
- Đầu thế kỷ XIX, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, cùng với sự chuyển
biến tính chất từ khoa học thực nghiệm sang khoa học lý thuyết là cơ sở khách
quan cho triết học đoạn tuyệt triệt để với quan niệm “khoa học của mọi khoa
học”. Triết học Mác - triết học duy vật biện chứng ra đời thể hiện sự đoạn tuyệt
đó. Triết học Mác xít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải
quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng và
nghiên cứu những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Do tính
đặc thù của triết học là xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra
một hệ thống lý luận về chỉnh thể đó. Và điều đó chỉ thực hiện được bằng cách
tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học, lịch sử của bản thân tư tưởng triết học.
Cho nên, vấn đề tư cách khoa học của Triết học và đối tượng của nó đã gây ra
cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay.
Tóm lại, cái chung trong các học thuyết triết học từ cổ tới kim là nghiên
cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối
quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới
xung quanh.
1.3. Vai trò của triết học trong đời sống xã hội
Triết học cung cấp hệ thống thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn
cho con người, giúp con người có thể nhận thức và cải tạo thế giới.
- Vai trò thế giới quan
+ Tồn tại trong mối quan hệ với thế giới xung quanh, dù muốn hay không
con người cũng phải nhận thức thế giới và nhận thức bản thân mình. Những tri
thức này cùng với niềm tin vào nó dần dần hình thành nên thế giới quan.
Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là cơ sở lý luận của hai thế giới
quan cơ bản đối lập nhau. Chính vì vậy chúng đóng vai trị là nền tảng thế giới
quan của các hệ tư tưởng đối lập. Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ
5
nghĩa duy tâm trong triết học biểu hiện bằng cách này hay cách khác cuộc đấu
tranh giữa những giai cấp, những lực lượng xã hội đối lập nhau.
Do vậy:
+ Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực giúp
cho con người sáng tạo trong hoạt động.
+ Thế giới quan sai lầm làm cho con người sống thụ động hoặc sai lệch
trong hoạt động.
+ Việc nghiên cứu triết học còn giúp ta định hướng hồn thiện thế giới
quan trong q trình nghiên cứu những học học cụ thể
Vai trò phương pháp luận của triết học
Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống quan điểm có
tính ngun tắc chỉ đạo việc tìm tịi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương
pháp.
* Triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất
+ Tri thức triết học là hệ thống tri thức chung nhất về thế giới và vai trò con
người trong thế giới, nghiên cứu các qui luật chung nhất chi phối cả tự nhiên, xã
hội và tư duy.
+ Mỗi luận điểm triết học đồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định
phương pháp, là lý luận về phương pháp.
Việc nghiên cứu triết học giúp ta có được phương pháp luận chung nhất,
trở nên năng động sáng tạo trong hoạt động phù hợp với xu thế phát triển chung.
Giúp chúng ta có thể vận dụng ppl chung nhất này vào từng hồn cảnh phù hợp
đối với mỗi mơn khoa học cụ thể
2. Khái quát về Sử học
2.1. Khái niệm lịch sử học
- Khái niệm " lịch sử" có nhiều nghĩa khác nhau trong đó nổi lên hai nghĩa
chính:
6
+ Quá trình phát sinh, phát triển khách quan của tự nhiên và xã hội, diễn ra
theo thứ tự thời gian (thường dùng chỉ phát triển của xã hội loài người)
+ Nhận thức về q trình của xã hội lồi người trên tất cả các mặt của đời
sống con người. khi có các bản văn thì lịch sử mới hình thành một nghĩa như
ngày nay. Nhận thức lịch sử chưa có ngay từ lúc con người xuất hiện. Chỉ
khi xuất hiện chữ viết . Khoa học lịch sử bao gồm nhiều ngành: lịch sử dân tộc,
lịch sử thế giới, lịch sử các chuyên ngành... Khoa học lịch sử không những khơi
phục bộ mặt xã hội đã qua mà cịn vạch ra quy luật phát triển cho xã hội, giúp
cho nhận thức đúng với quá khứ và đoán định sự phát triển tương lai. Lịch sử
học ra đời trong quá trình phát triển của khoa học lịch sử .
- Thuật ngữ "lịch sử học" tương ứng với thuật ngữ "historiographie" bắt
nguồn từ historia ban đầu xuất hiện để chỉ quá trình tìm hiểu physic của các nhà
triết học tự nhiên. Sau đó chỉ q trình phát triển của lịch sử của lồi người từ đó
được gọi là history như ngày nay. Thuật ngữ này có nhiều nghĩa khác nhau song
có hai nghĩa chủ yếu:
+ Chỉ tồn bộ những cơng trình nghiên cứu về một đề tài nhất định hay về
một thời kì lịch sử. Nó cịn chỉ tồn bộ tác phẩm sử học của một nước, một giai
cấp, một thời đại dựa trên cơ sở lý luận, khuynh hướng tư tưởng nhất định như
sử học Pháp, sử học Macxit,...
+ Là khoa học nghiên cứu lịch sử khoa học Lịch sử Đối với chúng ta thuật
ngữ lịch sử học được hiểu đó là một khoa học chuyên nghiên cứu lịch sử của
khoa học lịch sử ( quá trình hình thành, phát triển thơng qua việc tìm hiểu và
tích luỹ tri thức lịch sử, việc xác lập câc quan điểm, các khuynh hướng , tác giả,
các thời đại phát triển của sử học,...). Là một khoa học nên lịch sử học cũng có
đối tượng, chức năng, nhiệm vụ và phương pháp nghiệ cứu của mình. Cũng như
các khoa học khác lịch sử học với tư cách là một khoa học thể hiện ở việc tổng
kết những hiểu biết của con người về lịch sử, đạt tới trình độ khái quát, trừu
7
tượng hoá, đi sâu vào bản chất, phát hiện quy luật của việc nhận thức lịch sử,
tiếp cận chân lí, phục vụ việc nghiên cứu lịch sử.
2.2. Vai trò của sử học trong đời sống xã hội của con người
Lịch sử đóng vai trị vơ cùng to lớn trong cuộc sống nhất là đối với đời
sống xã hội của con người. Cụ thể như sau:
- Sử học đóng vai trị giúp con người nhận thức, vì sử học mang chức năng
nhận thức nên sử học giúp con người trong thế hệ sau có thể nắm được và hiểu
được những sự kiện lịch sử trong quá khứ, thông qua sự tái hiện của lịch sử mà
giống như nó đã từng tồn tại. Lịch sử chứa đựng những nội dung, bản chất và
những bài học kinh nghiệm, ý nghĩa của các quá trình lịch sử, các giai đoạn lịch
sử, sự kiện lịch sử. Do đó, khi con người đi sâu tìm hiểu nội dung bản chất của
lịch sử thì có thể phát hiện ra quy luật vận động và phát triển của lịch sử.
- Bên cạnh đó, lịch sử cịn mang một vai trị khơng kém phần quan trọng đó
là giáo dục. Lịch sử đóng vai trị to lớn vào những việc giáo dục như giáo dục tư
tưởng, tình cảm và đạo đức cho thế hệ sau. Từng giai đoạn lịch sử đều mang một
ý nghĩa nhất định và những bài học kinh nghiệm quan trọng góp phần trau dồi tư
tưởng đạo đức cho lớp trẻ. Thông qua lịch sử mà rút ra bài học kinh nghiệm cho
hiện tại.
- Trong mối quan hệ giữa quá khứ, hiện tại thì sử học như là một cầu nối,
giúp cho những giai đoạn đã qua trở thành bài học, trở thành lời răn dạy cho thế
hệ sau noi theo.
Lịch sử giống như là xã hội loài người, nhưng lại thuộc về quá khứ, và xã
hội ấy bao trùm nhiều lĩnh vực trên phạm vi quốc tế cũng như mỗi quốc gia, các
lĩnh vực ấy bao gồm như kinh tế, chính trị, an ninh quốc phịng, xã hội, văn hóa,
giáo dục, khoa học kĩ thuật, văn học nghệ thuật... Và tất cả các lĩnh vực trên
phạm vi quốc tế ấy mang những giá trị của nhân loại nói chung và của dân tộc
một quốc gia nói riêng. Lịch sử mỗi quốc gia đều có số phận riêng, được quyết
8
định bởi địa lí, nhân văn và bản lĩnh kiên cường của dân tộc đó. Chính vì thế,
lịch sử giống như một phần xương máu của mỗi dân tộc, nó tích hợp rất nhiều
những giá trị của một dân tộc, đóng vai trị vơ cùng to lớn, giống như điểm tựa
của mỗi quốc gia.
Lịch sử cịn đóng vai trị như là cội nguồn của dân tộc – quốc gia, lịch sử
giúp cho con cháu đời sau biết và hiểu về những gì mà cha ơng để lại, ln tự
hào về dân tộc và ln có ý thức tơn trọng lịch sử.
Mặc dù trong cả quá trình lịch sử diễn ra trong q khứ vẫn cịn những sai
sót, có những hậu quả nhất định, nhưng nó vẫn ln mang lại những bài học quý
giá, chưa đựng vai trò to lớn trong đời sống xã hội cũng như trong việc giáo dục
thế hệ sau.
II. Mối quan hệ giữa Triết học và Sử học
1. Tác động của triết học tới Sử học
- Thế giới quan và phương pháp luận:
+ Triết học có ảnh hưởng tới Sử học ở mọi giai đoạn của nó. Mức độ ảnh
hưởng lớn nhất là khi xác lập những quan điểm, quan niệm tư tưởng của nhà
nghiên cứu về đối tượng nghiên cứu
+ Triết học giúp cho các nhà Sử học lựa chọn các phạm trù, các nguyên tắc,
các khái niệm, các phương tiện nghiên cứu phù hợp với bộ mơn khoa học của
mình. Đối với các nhà Sử học, triết học giúp nhà nghiên cứu định hướng giá trị,
lẽ sống và trang bị cho nhà nghiên cứu tri thức về quy luật chung của tồn bộ
q trình nhận thức, về bối cảnh VH – XH của quá trình nhận thức.
2. Tác động của Sử học tới Triết học
- Sử học là một trong những cơ sở cho các khái quát triết học
- Sử học là phương tiện để các nhà triết học thể hiện tư tưởng của mình.
9
- Sử học thu hút các nhà triết học hướng sự nghiên cứu của mình tới các
vấn đề nhân sinh hơn là các vấn đề bản thể, hướng vào vấn đề thực tiễn đời sống
con người hơn là những vấn đề trừu tượng.
- Đứng trước đối tượng nghiên cứu là con người và xã hội con người (vô
cùng phức tạp), cho nên phương pháp tư duy chủ yếu của Sử học có thiên hướng
về lối tư duy biện chứng. Chính vì vậy Sử học có tác động khơng hề nhỏ đến sự
phát triển của phương pháp tư duy biện chứng.
III. Biểu hiện của Triết học trong Sử học
1. Quan niệm về đối tượng của Sử học trong lịch sử phát triển Sử học
*** Quan niệm về đối tượng của sử học cổ đại
Các nhà sử học cổ đại chưa có sự phân biệt một cách rõ ràng về đối tượng
của sử học với các khoa học xã hội khác như văn học, địa lý... Họ coi việc chép
sử chỉ là đơn thuần miêu tả những gì đã diễn ra
*** Quan niệm về đối tượng của sử học phong kiến
- Các sử gia phong kiến đã có quan niệm về đối tượng sử học một cách cụ
thể hơn. Theo họ, đối tượng nghiên cứu của sử học là đời sống sinh hoạt của vua
chúa, quan lại, quý tộc, tướng lĩnh... nói chung là ''lớp trên'' của xã hội và một số
lực lượng siêu nhiên khác. Do vậy, họ thường chú ý nghiên cứu về những nhân
vật đại diện cho giai cấp thống trị; các sự kiện về đời sống sinh hoạt của vua
chúa (các sự việc xảy ra trong triều chính, sự thay thế của các triều đại, những
hoạt động chính trị ngoại giao của vua, những âm mưu chốn cung đình ...);
những cuộc chiến tranh phong kiến ; những cá nhân nổi tiếng (các tướng lĩnh và
những thị dân giàu có); những hiện tượng siêu nhiên thần bí (thần chữa bệnh cho
người, thiên thần mang con chiên ngoan đạo lên trời ...); những câu chuyện về
thượng đế và giáo hội (nhân vật có cơng truyền đạo, những con tin vâng lời
chúa...)
10
- Nhìn một cách tổng thể, chúng ta có thể thấy một số hạn chế của các sử
gia phong kiến như:
+ Do quan niệm lịch sử là đời sống chính trị của vua chúa, thần thánh, giáo
hội... nên các sử gia phong kiến đã bỏ sót một nội dung rất quan trọng trong đối
tượng của sử học đó là đời sống và các cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân
lao động, trong khi quần chúng nhân dân là động lực phát triển của lịch sử thì
khơng được chú ý đến.
+ Họ không chú ý đến những vấn đề về kinh tế, văn hoá, nghệ thuật... làm
cho lịch sử bị cắt xén, bị đơn điệu, bị nghèo nàn hơn nhiều so với hiện thực của
nó.
+ Họ đưa những lực lượng siêu nhiên vào lịch sử làm giảm tính khách quan
của nó, buộc mọi người phải tin vào những điều vớ vẩn một cách mù quáng.
*** Quan niệm về đối tượng của sử học mácxít
- Đối tượng của sử học:
+ Đối tượng của sử học mà chúng ta nghiên cứu là lịch sử xã hội, nó bao
gồm những hoạt động của con người từ xa xưa cho tới ngày nay trên tất cả các
lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hố, xã hội..
+ Quan niệm về đối tượng sử học như vậy cũng nêu lên được mối quan hệ
và tính độc lập tương đối giữa quần chúng và vĩ nhân đối với sự phát triển lịch
sử xã hội. Quần chúng nhân dân là chủ nhân của lịch sử, là động lực và là người
làm nên lịch sử. Do vậy, chúng ta khơng được xem nhẹ hoặc hạ thấp vai trị lịch
sử của họ.
+ Đối tượng nghiên cứu của sử học không chỉ là sự kiện lịch sử mà còn là
quy luật lịch sử, quá trình lịch sử, kể cả hình thái kinh tế - xã hội. Những điều đó
chủ thể hồn tồn có khả năng nhận thức được.
11
2. Đặc điểm của đối tượng sử học
+ Đối tượng của sử học là xã hội loài người đã xảy ra trong quá khứ nên
nhà sử học không bao giờ có tồn bộ đối tượng trước mắt hay lặp lại trong
phịng thí nghiệm để nghiên cứu.
+ Đối tượng của sử học là lịch sử do con nguời sáng tạo ra một cách có ý
thức chứ khơng phải tuỳ tiện như trong giới tự nhiên.
+ Đối tượng của sử học là một hệ thống rất phức tạp, muôn màu muôn vẻ,
gồm nhiều sự kiện diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống lồi người từ
kinh tế, chính trị, xã hội đến quân sự, văn hoá, giáo dục
+ Đối trượng của sử học là những sự kiện - hiện tượng lịch sử và những
quy luật lịch sử diễn xảy ra trong q trình lịch sử ở những khơng gian khác
nhau với những khoảng thời gian khác nhau so với hiện tại, từ những việc rất xa
xưa đến những việc mới xảy ra, thậm chí đang diễn biến.
+ Đối tượng của sử học tuy phức tạp, đa dạng nhưng đều có thời gian và
khơng gian xác định, nhìn chung nó không lặp lại về mặt không gian và thời
gian mà chỉ lặp lại về mặt nội dung, ý nghĩa... Vì vậy, một ngun tắc có tính
chất bắt buộc của nhà nghiên cứu lịch sử là phải xác định thời gian và khơng
gian của sự kiện. Trong ý nghĩa đó, lịch sử cũng là một khoa học chính xác như
các khoa học khác vì nó phải xác định đúng những sự kiện, đúng tên người tên
đất, đúng niên đại, phải rút ra những kết luận đánh giá đúng.
+ Đối tượng của sử học là đời sống xã hội được nghiên cứu trong sự phát
triển của nó, có sự vận động chứ không phải nằm yên. Quá khứ ở thời gian trước
với quá khứ ở thời gian sau vận động theo chiều hướng đi lên và có mối quan hệ
mật thiết với nhau, không tách rời nhau, chủ yếu là mối quan hệ nhân - quả. Vì
vậy, việc nghiên cứu lịch sử khơng chỉ tìm hiểu q khứ và hiện tại mà cịn phải
đốn định tương lai.
12
III. Từ sự kiện đến quy luật lịch sử
1. Sự kiện lịch sử
- Khái niệm: Sự kiện lịch sử là hiện tượng, biến cố xảy ra trong quá khứ
được ghi lại bằng tư liệu, do hoạt động nhận thức của con người, mang theo nó
dấu vết của ý thức xã hội.
- Vai trò: Trong sử học, việc sưu tầm và nghiên cứu các sự kiện là một
trong những vấn đề hết sức quan trọng. Sự kiện được coi là tế bào của hiện thực,
là nguyên liệu để hình thành tri thức khoa học. Nhà sử học bao giờ cũng chú ý
làm sao tìm được sự kiện mới mà trước đây chưa ai biết đến. Khi phát hiện ra sự
kiện này thì nhà sử học nên kiểm tra cẩn thận, phân tích, so sánh rồi mới đưa
vào hệ thống tri thức. Cần phân biệt giữa các khái niệm liên quan với nhau để
nhà sử học có thể xây dựng lý thuyết của mình trên cơ sở các sự kiện.
- Bản chất của sự kiện lịch sử: Sự kiện lịch sử bao giờ cũng mang bản chất
khách quan dù chúng ta đã biết hay chưa biết về đó. Khơng có sự kiện lịch sử
nào là chúng ta không nhận thức được, chỉ có điều là ta đã nhận thức đầy đủ hay
chưa đầy đủ về nó mà thơi. Khác với sự kiên trong khoa học tự nhiên, sự kiện
trong khoa học lịch sử có tính xã hội, là sản phẩm của sự phát triển lịch sử xã
hội và là kết quả của sự hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần của con người
trong quá khứ. Nó được ghi lại bằng tư liệu và do chính con người thực hiện.
- Về đặc điểm của sự kiện lịch sử:
+ Thứ nhất, sự kiện lịch sử bao giờ cũng chứa đựng nội dung lịch sử nhất
định (là cái gì), xảy ra ở khơng gian xác định (ở đâu) và thời gian cụ thể (bao
giờ). Do vậy, chúng ta không thể hiểu được nội dung SKLS nếu đặt nó nằm
ngồi địa đểm và thời gian mà nó ra đời. Vậy thì vấn đề đặt ra ở đây là SKLS có
lặp lại khơng? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta phải xét ở hai khả năng sau:
(1) Nếu xét một sự kiện với những nét riêng của nó trong tồn bộ tính cụ thể và
đầy đủ thì chúng ta đi đến kết luận: trong lịch sử chưa bao giờ có và khơng bao
13
giờ có một sự kiện nào được lặp lại nguyên vẹn như trước đó. (2) Nếu nhìn sự
kiện trong cách có thể bỏ qua những nét riêng, nét đặc thù của nó và đặt nó vào
những hoạt động cùng loại thì ta có thể tìm thấy trong lịch sử có những sự kiện
ít nhiều giống nhau.
+ Thứ hai, sự kiện lịch sử có tính chất phức tạp: Mỗi sự kiện lịch sử dù đơn
giản nhất cũng có thể được xem xét từ nhiều mặt và có vơ số cách nhìn nhận
khác nhau về nó. Hơn nữa, trong một số trường hợp thì các mặt nào đó của sự
kiện lịch sử cịn mâu thuẫn với nhau (về nội dung - khơng gian - thời gian). Bên
cạnh đó, các sử gia đứng trên lập trường quan điểm khác nhau lại có cách đánh
giá khác nhau về một sự kiện.
+ Thứ ba, sự kiện lịch sử có tính hệ thống. Các sự kiện lịch sử có liên quan
chặt chẽ với nhau nên khi nghiên cứu sự kiện này phải đặt nó trong mối liên
quan với sự kiện khác và trong hoàn cảnh sinh ra nó. Sự kiện lịch sử có bộ mặt
của riêng mình, khơng thể hiểu được nó nếu đặt nó ngồi địa điểm và thời gian.
Trong khoa học tự nhiên, dù có những khó khăn nhưng nhiều sự kiện có thể tách
ra và xét riêng còn trong khoa học xã hội thì việc này hết sức phức tạp, dễ làm
mất ý nghĩa của sự kiện. Ví dụ, có giai cấp tư sản, gắn với kinh tế tư bản, xâm
lược thuộc địa, dân tộc thuộc địa đấu tranh, công nhân đấu tranh...
+ Thứ tư, sự kiện lịch sử có tính chất đa dạng. Đó là những hiện tượng của
đời sống tinh thần, đời sống vật chất, từ sự kiện kinh tế, chính trị đến sự kiện
văn hoá xã hội. Trong mỗi lĩnh vực, các sự kiện lại có hình dạng, tính chất, ý
nghĩa, "trọng lượng" của riêng mình. Các sự kiện có thể là ngẫu nhiên hoặc có
tính điển hình. Một số sự kiện khơng có gì quan trọng, số khác để lại dấu vết rõ
rệt. Một số sự kiện chỉ là những việc xẩy ra, số khác lại là những quá trình.
Chúng ta gộp tất cả vào một cái tên chung: SKLS. Nhưng trong cơng tác của
mình, nhà sử học phải phân loại và sắp xếp theo tầm quan trọng của chúng để
nêu rõ vị trí của mỗi sự kiện trong q trình lịch sử. Cơng việc này của nhà sử
14
học rất phức tạp vì thường khơng chỉ những hiện tượng có thật trong thực tế mà
cả những quan niệm sai lạc về những hiện tượng đó.
- Phân loại sự kiện lịch sử
+ Phân loại dựa vào nội dung của sự kiện lịch sử. Cách phân loại này nhằm
nêu những hiện tượng, biến cố cụ thể của quá trình lịch sử. Tùy theo quá trình
lịch sử thuộc phạm vi nào của sự phát triển xã hội mà cách phân loại này chia sự
kiện lịch sử ra:
Sự kiện kinh tế : phản ánh những biến cố, hiện tượng và quá trình của lịch
sử phát triển kinh tế.
Sự kiện chính trị: phản ánh những biến cố, hiện tượng về quá trình lịch sử
phát triển chính trị, đấu tranh giai cấp, chiến tranh, cách mạng, lịch sử phát triển
và suy vong của các quốc gia... Ví dụ, Tun ngơn độc lập là bản khai sinh nước
Mỹ 1776.
Sự kiện về văn hóa - tư tưởng: nêu các hiện tượng lịch sử phát triển của
những hình thái ý thức xã hội của con người, lịch sử tâm lý xã hội và ý thức hệ
hoạt động tinh thần của con người. Ví dụ, ngày 8/9/1945, Hồ Chí Minh ký sắc
lệnh thành lập cơ quan Bình dân học vụ và kêu gọi tồn dân tham gia xóa nạn
mù chữ.
Sự kiện quân sự: Ví dụ, ngày 13/3/1954, quân ta nổ súng tấn cơng tập đồn
cứ điểm Điện Biên Phủ.
Cách phân loại này có ý nghĩa về mặt phương pháp luận, vì nó được xây
dựng trên cơ sở quan điểm duy vật về lịch sử, phân tích đúng cơ cấu xã hội ở
các giai đoạn khác nhau của sự phát triển, nêu được mối liên hệ và tác động giữa
các hiện tượng xã hội, xác định vị trí và vai trị của các hiện tượng ấy trong q
trình lịch sử.
15
+ Phân loại dựa theo cấu tạo của sự kiện: Do kết cấu và đặc điểm về không
gian và thời gian của biến cố, hiện tượng lịch sử quy định. Cách phân loại này
chia sự kiện ra “sự kiện đơn giản” và “sự kiện phức tạp”.
Sự kiện đơn giản: Trước hết, thể hiện tính đơn nhất vì nội dung của nó, như
một biến cố lịch sử được xem như riêng biệt, khơng lặp lại. Nó phản ánh hành
động hay biến cố cụ thể được xác định ở một điểm nhất định trong thời gian
ngắn nào đấy. Song tính đơn nhất được thể hiện ở sự kiện đơn giản cũng có tính
chất tương đối. Cho nên có biến cố tuy về hình thức là một sự kiện đơn giản
song lại bao gồm một hệ thống các yếu tố khác, và nó được thể hiện như một
khái niệm chung Ví dụ, ngày 21/4/1975, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức
Tổng thống.
Sự kiện “phức tạp”: Miêu tả biến cố được hòa thành trong khoảng thời gian
và khơng gian rộng lớn, có tính chất đa dạng, tồn diện (như sự hình thành dân
tộc, sự phân hóa giai cấp, tích lũy tư bản ngun thủy...).
+ Cách phân loại dựa theo ý nghĩa của các sự kiện lịch sử: Nhiệm vụ của
các nhà sử học là làm sao khôi phục một biến cố dưới dạng sự kiện lịch sử khoa
học phải xác định được ý nghĩa thực tiễn của sự kiện ấy, vị trí của biến cố trong
những mối liên hệ với các biến cố khác, tác động của biến cố này đối với biến cố
xảy ra sau. Làm sáng tỏ những vấn đề quan trọng này tức chỉ rõ ràng, sự kiện
lịch sử được nhà sử học chọn lựa phù hợp với đề tài nghiên cứu của mình có ý
nghĩa khoa học khác nhau. Do đó, việc phân loại sự kiện theo ý nghĩa của nó là
điều cần thiết và quan trọng. Theo cách phân loại này, sự kiện lịch sử có thể chia
thành sự kiện cơ bản và sự kiện không cơ bản.
Sự kiện cơ bản là sự kiện phản ánh những biến cố, hiện tượng, những quy
luật chi phối một phạm vi nhất định của quá trình xã hội, những nét đặc biệt và
điển hình của q trình này, có ảnh hưởng đến sự phát triển của thời kỳ sau. Ví
16
dụ sự kiện cách mạng tháng Mười năm 1917 thành công ở Nga, Quang Trung
đại phá quân Thanh...
Sự kiện không cơ bản là sự kiện khôi phục những biến cố, hiện tượng
khơng có ý nghĩa quan trọng, thứ yếu trong một q trình lịch sử và khơng để lại
một dấu vết gì sâu sắc trong sự phát triển sau này.
Sự phân biệt này chỉ có ý nghĩa tương đối. Bởi trong quá trình phát triển
của lịch sử, ý nghĩa của một sự kiện nào đó cũng thay đổi, lúc đầu nó khơng thể
có vai trị to lớn, nhưng sau đó nó có ảnh hưởng đến q trình lịch sử, hoặc
ngược lại.
- Quan niệm giữa sự kiện lịch sử và khái quát lịch sử:
+ Sự kiện lịch sử tồn tại độc lập với khái quát lịch sử nhưng giữa chúng có
mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong mối quan hệ này, SKLS là cơ sở để nhà
sử học rút ra khái quát lịch sử còn khái quát lịch sử là điều kiện quan trọng để
hiểu rõ SKLS. Nhà sử học chỉ có thể xây dựng được lý thuyết của mình dựa trên
cơ sở các sự kiện (đã qua chọn lọc và xác minh) và muốn dựng lại SKLS một
cách chính xác thì phải dùng đến khái quát. Nhà sử học Xô Viết K. Méc- dôn
nhận xét về mối quan hệ này trong tác phẩm của mình: "Trong hệ thống nhận
thức khoa học, sự kiện liên quan chặt chẽ với lý thuyết. Lý thuyết tác động đến
việc nhận thức sự kiện. Khơng phải nó chỉ giải thích mà cịn hướng dẫn việc tìm
tịi khoa học và sự định hướng của nhà nghiên cứu".
+ Trong nền sử học mác xít, lý luận và tư duy trừu tượng ln giữ vai trị
quan trọng. Chính Các Mác đã từng nhận xét: "Khơng thể dùng kính hiển vi hay
những chất phản ứng của hố học để phân tích những hình thái kinh tế - xã hội
được mà chỉ có tư duy trừu tượng mới là sức mạnh duy nhất để phân tích...". Sử
liệu dù phong phú đến đâu cũng chỉ phản ánh từng mặt của đời sống xã hội.
Trên cơ sở sử liệu, lý luận là sức mạnh trừu tượng hố của trí tuệ mới cho phép
nhà sử học phân tích mối quan hệ bên trong ẩn dấu của xã hội, từ đó phát hiện ra
17
quy luật, đặc điểm phát triển của lịch sử. Sử liệu và lý luận, cụ thể và khái quát
là những mặt, những bước cần tiến hành song song trong cả quá trình nhận thức
lịch sử. Với những cố gắng cao nhất, trong điều kiện tư liệu cho phép, người
nghiên cứu phải vận dụng lý luận, tiến hành khái quát để nâng cao một bước
nhận thức của mình.
2. Quy luật lịch sử
- Khái niệm:
+ Quy luật là mối liên hệ bản chất - tất nhiên - phổ biến, lặp đi lặp lại của
các sự vât - hiện tượng trong thế giới, nó bao gồm những quy luật của tự nhiên,
quy luật của xã hội và quy luật của tư duy.
+ Cũng như các khoa học khác, sử học không dừng lại ở việc liệt kê, miêu
tả sự kiện mà phải đi sâu vào bản chất của nó, rút ra những quy luật vận động và
những kết luận khái quát, những bài học kinh nghiệm có giá trị.
- Các quan điểm về quy luật lịch sử:
+ Cách viết và tư duy về lịch sử như một dịng chảy liên tục đã có truyền
thống lâu đời trong lịch sử tư tưởng phương Tây mà ba cột trụ tiêu biểu nhất có
thể điểm qua là I. Kant, G. W. Hegel và K. Marx. Đặc điểm chung của những
triết gia trên là họ tiếp cận lịch sử từ góc độ và nhằm phục vụ cho Siêu hình học,
tức có một xác tín được duy trì rằng, thông qua những sự kiện và biến cố (dù là
riêng lẻ) trong lịch sử, có thể liên nối được tất cả những sự biến ấy nhằm tìm ra
những thực tại, bản chất và quy luật bất biến tồn tại liên tục chi phối bề sâu.
Kant tin rằng có một thực tại siêu vượt quán xuyến toàn bộ những sự kiện tưởng
như ngẫu nhiên của lịch sử. Hegel lại duy trì niềm tin vào một Chủ thể tuyệt đối,
và hơn hết là Lý trí điều khiển những vận động của lịch sử. Marx cũng theo một
xu hướng tương tự khi chỉ ‘lật ngược Hegel lại’ và rơi vào một thứ học thuyết
duy nhân luận đã được làm mới. “Chủ thể tuyệt đối của Hegel lúc này được
Marx thay thế bằng tồn tại người, và lịch sử thế giới như một tiến trình duy lý
18
trong quan niệm Hegel được thay thế bằng nhãn quan của Marx coi lịch sử như
một dòng vận động phát triển có hướng, trải qua những giai đoạn cần thiết và
được định trước.” Tóm lại, mục đích chung của các nhà duy sử luận ấy là thông
qua lịch sử để tìm kiếm những tồn tại phổ quát phi lịch sử. Lịch sử trong quan
niệm của họ mang chức năng của triết học và là một nhánh phụ của Siêu hình
học, thơng qua những bản thế vì hiện hữu để tìm ra một trung tâm tối cao, một
hiện hữu nguyên thủy khác vắng mặt. Quá khứ, theo đó, trở thành một tiến trình
tiếp diễn của những sự kiện hướng về hiện tại, và những trật tự trong hiện tại
cũng vì thế mà được biện hộ trong tư cách là sự phát triển cực độ của quá khứ.
Thứ lịch sử dựa trên tiến hóa luận và việc giảm trừ những hiện tượng riêng biệt
nhằm tạo nên những đại tự sự như vậy sẽ đem đến nhiều hạn chế. Sử học
Marxist với việc nêu cao nguyên lý duy vật biện chứng cộng với việc xem xét
q khứ thơng qua những tiêu chí ‘cứng’ như phương thức sản xuất, đấu tranh
giai cấp và sự tuần tự của những giai đoạn tổ chức xã hội sẽ mắc phải ít nhất hai
khuyết điểm. Thứ nhất, biện chứng là một khái niệm “q tham vọng vì nó tiên
đoán quá nhiều, quyết định quá nhiều”, và rất dễ trở thành một cơng cụ q đơn
giản để tìm hiểu quá khứ, kết quả của thứ công cụ ấy sẽ rất có thể cho ra những
sự ổn định sai lầm. Họ dường như chỉ hướng sự tập trung của mình vào những
vấn đề liên quan đến giai cấp và có xu hướng khơng đủ cởi mở để tìm kiếm
những cái ngẫu nhiên, khơng ngờ. Và thứ hai, ln có một khuynh hướng đồng
dạng hóa trong phương pháp biện chứng, chỉ chú trọng đến những nét tương
đồng, liên nối giữa những sự kiện mà bỏ qua những mặt khác biệt, bất quy luật.
+ Một số nhà sử học tư sản khác lại đồng nhất quy luật lịch sử với quy luật
tự nhiên, không thấy được sự khác nhau giữa chúng. Nhà sử học Mỹ E.Chêni
khẳng định rằng, lịch sử loài người giống như sự chuyển động của các thiên thể
do các quy luật độc lập và bất biến chi phối (theo ông đó là QLLS). Tác động
của những quy luật này cũng tất yếu như các quy luật về trọng lực hoặc quy luật
19
về sự tiến hố của sinh vật (theo ơng, có sáu quy luật điều khiển lịch sử xã hội:
Tính kế thừa; sự thay đổi; sự độc lập; nền dân chủ; sự đồng tình giữa mọi người;
sự tiến bộ về luân lý).
+ Một số nhà sử học lại cho rằng, không có quy luật lịch sử nào cả. Từ việc
phủ nhận các quy luật lịch sử nên họ cho rằng, mục đích chủ yếu và duy nhất
của khoa học lịch sử là nghiên cứu những sự kiện không lặp lại chứ không phải
nghiên cứu các quy luật lịch sử. Tiêu biểu là Foucault. Trái lại với những trường
phái sử học truyền thống, Foucault phá bỏ tất cả khung thông diễn lớn đóng vai
trị như những siêu cấu trúc quy chiếu cho tồn bộ các sự kiện khác biệt. Thay
vào đó, ơng cho rằng giới sử học bây giờ không nên tiếp tục đổ dồn vào những
‘giai đoạn hay những thế kỷ rộng lớn, mà cần lưu ý đến những “hiện tượng đứt
gãy, khơng liên tục. Thay vì trình hiện một giai đoạn nhất định nào đó như một
viên đá tảng nguyên khối, đơn diện, thống nhất, chúng ta phải xem cách mà giai
đoạn ấy hé mở ra “rất nhiều quá khứ, rất nhiều quan hệ, rất nhiều hệ phân cấp về
mức độ quan trọng, rất nhiều mạng lưới quyết định, rất nhiều định hướng…khác
nhau. Mỗi giai đoạn lịch sử tồn tại một khung tri thức khác nhau quyết định đến
những trật tự kinh nghiệm và thực hành xã hội của riêng giai đoạn cụ thể ấy. Khi
diễn ra sự chuyển tiếp giữa các giai đoạn lịch sử, sẽ luôn xuất hiện những sự
chồng lấn, đứt gãy và không liên tục do những diễn ngôn trong xã hội đã được
thay đổi để phù hợp với mơi trường mới.
3. Liệu chúng ta có thể thay đổi được lịch sử
Các giả định phản thực tế này dường như rất phổ biến và rất thú vị. Nó xuất
phát một cách tự nhiên từ những giả thiết về những động lực làm xoay chuyển
và thúc đẩy lịch sử. Lịch sử khơng có chữ “nếu”. Tuy nhiên, với sự ra đời của
Thuyết tương đối, khi vấn đề du hành thời gian đã khơng cịn là điều viễn tưởng
(dù mới chỉ ở trên lý thuyết) thì vấn đề này mang một ý nghĩa quan trọng, giúp
chúng ta giải đáp một loạt các câu hỏi triết học: Bản chất của lịch sử là gì? Quá
20