Tải bản đầy đủ (.pdf) (59 trang)

Tư tưởng triết học trước mác và triết học phương tây hiện đại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (668.46 KB, 59 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA TRIẾT HỌC
--------------

TIỂU LUẬN
MÔN: LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRƯỚC MÁC VÀ
TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI

Giảng viên hướng dẫn

: TS. Trần Thị Ngọc Anh

Học viên

: Trần Nhật Minh

Khóa

: K30

Mã học viên

: K300765

Hà Nội – 2021


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU....................................................................................................................3
Lý do chọn đề tài ...................................................................................................3
CHƯƠNG 1: NGUỒN GỐC CỦA HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG VÀ CÁC GIAI


ĐOẠN BIẾN ĐỔI CỦA HAI YẾU TỐ ÂM - DƯƠNG .........................................10
1.1 Nguồn gốc của học thuyết Âm Dương ........................................................10
1.2 Các giai đoạn biến đổi của hai yếu tố Âm - Dương ...................................12
1.2.1. Thái cực và Lưỡng nghi .........................................................................12
1.2.2. Tứ tượng..................................................................................................15
1.2.3. Bát quái ...................................................................................................16
1.3 Huyền nghĩa của Âm Dương .......................................................................20
1.4 Con số tham thiên lưỡng địa ........................................................................27
CHƯƠNG 2: QUY LUẬT VẬN ĐỘNG VÀ ỨNG DỤNG CỦA ÂM DƯƠNG ..32
2.1 Quy luật vận động của Âm Dương ..............................................................32
2.1.1. Dịch là giao dịch .....................................................................................32
2.1.2. Dịch là biến dịch .....................................................................................38
2.1.3. Dịch là bất dịch .......................................................................................43
2.2 Ứng dụng của học thuyết Âm Dương .........................................................50
2.2.1. Âm Dương với y học Trung Hoa ...........................................................50
2.2.2. Âm Dương với triết học và khoa học châu Âu hiện đại .......................53
KẾT LUẬN ..............................................................................................................59

2


MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Là một sinh viên khoa Triết, tơi thật hết sức may mắn khi có nhân duyên được
gặp thầy PGS.TS. Lê Văn Đoán – một người thầy luôn tâm huyết, tận lực với sự
nghiệp trồng người. Thầy là người rất uyên bác về Kinh Dịch và luôn mong mỏi
được truyền lại cái sở học về Kinh Dịch mà thầy đã dày công nghiên cứu, chiêm
nghiệm trong suốt cả cuộc đời. Những tiết giảng của thầy về sự vận hành biện chứng
của Âm Dương trong Kinh Dịch quả thật đã khơi nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho tơi.
Thầy chính là người dẫn tơi vào “Đạo”. Qua sự nghiên cứu, tìm tịi, tơi càng ngày

càng say mê; thế giới của Kinh Dịch, của Âm Dương mở ra trước mắt tôi. Những
câu hỏi về nhân sinh, về vũ trụ của tôi xưa nay đều được Kinh Dịch giải đáp. Thật là
thỏa niềm mong ước bấy lâu.
Suy đến cùng thì những tư tưởng, triết lý trong Kinh Dịch về vũ trụ, về nhân
sinh chẳng qua cũng do hai yếu tố Âm Dương vận động, biến hóa mà thành. “Dịch”
có nghĩa là biến dịch; mà biến dịch là biến dịch của hai yếu tố Âm và Dương. Và
chính 64 quẻ trong Kinh Dịch cũng làm sâu sắc, rõ ràng hơn về sự biến hóa ấy của
Âm Dương. Bởi vậy, muốn nghiên cứu về Âm Dương và làm rõ học thuyết Âm
Dương thì phải gắn liền với Kinh Dịch, khơng tách rời khỏi Kinh Dịch. Tơi nhắc đến
điều này vì trong bài viết, từ nguồn gốc, quy luật vận động đến ứng dụng của học
thuyết Âm Dương, tôi đều đặt trong mối tương quan với Kinh Dịch. Và chỉ có như
vậy thì mọi người mới có được cái nhìn sâu sắc, tồn diện về Âm Dương.
Kinh Dịch đối với Trung Hoa quả là một “kỳ thư” gồm nắm được tất cả mọi
nguyên lý sinh thành và suy hủy của vạn vật. Có người bảo: “Dịch, quán quần kinh
chi thủ” (Dịch là quyển sách đầu não bao quát tất cả mọi kinh sách của nền văn học,

3


nghệ thuật và khoa học của Trung Hoa). Theo bản thống kê các sách bàn về Dịch từ
đời Chu đến đời Thanh đã có 158 bộ, 1761 quyển... Đó chỉ là ước lượng.
Kinh Dịch chứa đựng các giá trị triết học trong việc giải thích sự hình thành
và phát triển của vũ trụ, sự vận hành của các quy luật tự nhiên, cũng như sự phát
triển biện chứng của các nền văn minh của xã hội loài người. Hầu hết các ngành
khoa học Á Đơng đều thốt thai từ Kinh Dịch như: y học, thiên văm học, địa lý, giáo
dục, tâm lý học, quản trị cùng các khoa dự báo khác
Trong lịch sử triết học Trung Quốc cổ đại, Kinh Dịch là số ít các tác phẩm
hiếm hoi cho chúng ta thấy bức tranh tổng thể thống nhất biện chứng về thế giới và
con người. Hai yếu tố Âm và Dương luôn luôn đối lập nhau nhưng lại thống nhất
với nhau và chúng là khởi nguyên của mọi quá trình sinh thành và biến hóa. Âm

Dương khơng phải là hủy thể của nhau mà là điều kiện tồn tại của nhau, là động lực
của mọi sự vận động và phát triển. Với những biểu hiện cụ thể như các cặp đối lập
trong tự nhiên như: trời – đất; sáng – tối; nóng – lạnh; lửa – nước; rắn – mềm; nhanh
– chậm,... Trong xã hội như: nam – nữ; thiện – ác; xấu – đẹp; thịnh – suy,... trong đó
mặt thứ nhất thuộc Dương, mặt thứ hai thuộc Âm. Tuy nhiên, sự phân biệt giữa Âm
và Dương cũng chỉ là tương đối vì trong mọi lĩnh vực khơng có gì là thuần Âm hoặc
thuần Dương mà trong Âm có Dương, trong Dương có Âm, chúng tương tác chuyển
hóa lẫn nhau.
Như vậy, chỉ bằng một vài dẫn chứng khái lược về sự vận động của hai yếu
tố Âm Dương, Kinh Dịch đã cho chúng ta thấy: thế giới là một chỉnh thể thống nhất,
có sự tác động biện chứng qua lại lẫn nhau theo quy luật và ngay bản thân con người
cũng là một phần không thể thiếu trong thế giới đó. Con người chính là một “tiểu vũ
trụ” ( con người cũng là một vũ trụ thu nhỏ), số phận của con người cũng có thể dự
đốn được trên cơ sở của các quẻ Bát quái trong Kinh Dịch.

4


Tư tưởng biện chứng không chỉ ảnh hưởng đến hầu hết tư tưởng của các học
thuyết, mà nó cịn chi phối sự phát triển của văn hóa, nghệ thuật, phong tục, tín
ngưỡng…Nghĩa là mọi mặt của đời sống xã hội Trung Quốc. Việt Nam trước kia
cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của quan niệm này.
Những ý tứ, tư tưởng thâm sâu của Dịch về các quy luật của vũ trụ vạn vật,
mối liên hệ giữa các sự vật, sự phát triển của vũ trụ… đã góp phần làm nên hình thái
riêng cho tư duy phương Đông- tư duy linh hoạt. Các học phái đương thời thường
bị thiên lệch về một phương diện nào đó, khơng thấy được phía bên kia. “Thận Tử
thấy có ở sau mà khơng thấy ở trước. Lão Tử thấy gian dối mà khơng thấy tín nghĩa.
Mặc Tử thấy ở chỗ bằng mà không thấy ở chỗ khác nhau. Tống Tử thấy ít mà khơng
thấy nhiều”( Tn Tử, Thiên, “ Thiên luận”). Nhưng Kinh Dịch thì khơng như vậy.
Đạo Dịch cho chúng ta thấy trong Âm có Dương, trong Dương có Âm; Âm thịnh thì

Dương suy, Dương thịnh thì Âm suy (Dương trưởng thì Âm tiêu, Âm trưởng thì
Dương tiêu); vạn vật hết sinh rồi tử, hết tử rồi lại sinh, cứ như thế lần hồi với nhau.
Khơng gì là khơng thể biến thiên.
Tư tưởng biện chứng đó áp dụng vào nhân sinh quan đã có tác dụng rất to
lớn với tư duy Á Đơng. Đó là tinh thần lạc quan, nghiêm túc, lành mạnh, bình thản,
ung dung “dĩ bất biến ứng vạn biến” trước mọi việc sinh tử, được mất, thịnh suy, bĩ
thái, họa phúc,… của cuộc đời. Khi hiểu được ra rằng Âm Dương tuy hai mà một và
trong Âm có Dương, trong Dương có Âm cũng như trong họa có phúc, trong phúc
có họa, hết Bĩ đến Thái, hết thịnh đến suy, Dịch là động mà động trong cái tịnh, con
người bấy giờ mới hiểu ra được cái chân tướng của sự vật, biết hành động đúng mức
đúng thời, nhất là khi người đó là bậc cầm quyền trị nước, lo cho sự tồn vong của
dân tộc, hoặc người đó chỉ là một người thường muốn sống ra lẽ sống, một người
làm ăn lương thiện, một người vợ, một người chồng, một người cha, một người mẹ,

5


một người con, một người anh, một người em,... Dịch không phải chỉ nêu lên lẽ Âm
Dương trong vũ trụ, Dịch còn đem luật vũ trụ đặt thành đạo sống cho con người.
Chỗ cao siêu của Dịch là thế.
Một triết gia Tây phương, trước sự đảo lộn giá trị đạo đức đã khiến xã hội
đắm chìm trong vật chất, điêu linh thống khổ chưa từng thấy trong lịch sử loài người,
đã bảo: “đời là phi lý!”
Họ bảo như thế là đúng! Có điều là họ khơng rõ tại sao “phi lý”, phải chăng
vì chúng ta thấy sự đời xảy ra rất mâu thuẫn, có trước khơng sau, khơng đáp ứng với
những mong mỏi, đòi hỏi của chúng ta, đòi hỏi sự vật trên đời phải xảy ra theo lòng
sở nguyện của mình mà khơng chấp nhận nó phải xảy ra như nó đã xảy ra. Ta trách
trời mưa, ta trách trời nắng, ta trách trời nóng, ta trách trời lạnh,... Ta mong muốn
chỉ có ngày mà khơng có đêm, chỉ có xn hạ mà chẳng có thu đơng, nghĩa là chỉ có
sinh mà khơng có diệt!

Sở dĩ chúng ta khơng làm sao hiểu được nổi cái ý nghĩa thâm sâu huyền bí
của đời sống hiện tại của ta mà ta cho là “phi lý” là bởi chúng ta chỉ nhìn có cái hiện
tại mà khơng thấy được tồn diện lịch trình thiên diễn của sự vật. Nhờ có nhìn thấy
được lịch trình chung của cuộc đại hóa lưu hành mới nói: Tất cả những gì xảy ra tốt
hay xấu, lợi hay hại đối với từng cá nhân đều có ý nghĩa cả, ngay đối với cái mà
riêng ta cho là “vô ý nghĩa” nhất. Học Kinh Dịch, hiểu Âm Dương thật vô cùng giá
trị cho nhân sinh quan của ta, giúp ta sống đời tự tại, hạnh phúc, chẳng gì có thể làm
cho ta đau khổ, điêu đứng khi đã thấu suốt lẽ Âm Dương.
Ngoài những lý do nêu trên, thì gần đây, cụ thể là cách đây khoảng 1 tháng,
lại có thêm một lý do nữa giúp tơi càng tăng thêm động lực trên con đường nghiên
cứu về Kinh Dịch cũng như học thuyết Âm Dương. Đó chính là lập luận cho rằng

6


nguồn gốc của Kinh Dịch là của người Lạc Việt. Với những mâu thuẫn về thời điểm
xuất xứ, về phương pháp lý giải bản nguyên vũ trụ ở Trung Hoa, Nguyễn Vũ Tuấn
Anh và Bùi Văn Nguyên đã đưa ra giả thuyết rằng thuyết Âm Dương, Ngũ hành
thuộc về nền văn minh Văn Lang.
Chính vì ln có ý đồ đồng hóa, xóa sổ dân tộc ta, đặc biệt là hơn 1000 năm
Bắc thuộc mà những quan niệm về thế giới của ông cha ta như Âm Dương, Ngũ
hành đã được gửi gắm vào truyền thuyết (Bánh chưng, bánh dày), vào trị chơi ơ ăn
quan, trị chơi kim mộc thủy hỏa thổ,...
Hai ông cho rằng Kinh Dịch Phục Hy cũng là sản phẩm văn hóa của văn minh
Việt cổ. Ngay Lạc thư cũng là của người Việt vì thời Hùng Vương, văn gọi là Lạc
hầu, võ gọi là Lạc tướng, ruộng gọi là Lạc điền, sách là Lạc thư.
Bọc của Âu Cơ tượng trưng cho Thái cực, 100 trứng là tổng số của Hà đồ (55)
với Lạc thư (45), trong đó 50 vòng tròn đen thuộc Âm (50 người con gái) theo Âu
Cơ lên núi (Dương), 50 vòng tròn trắng thuộc Dương (50 người con trai) theo Lạc
Long Quân xuống biển (Âm). Lạc thư thuộc Dương vì tỷ lệ Âm Dương là 20/25, Hà

đồ thuộc Âm – 30/25. Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm. Âm thuộc hình
thể nên những người con theo mẹ lên lãnh đạo đất nước. 15 bộ của nước Văn Lang
chính là tổng số Ma Phương Lạc thư dù cộng theo kiểu nào.
4

9

2

3

5

7

8

1

6

Khi Văn Lang bị diệt, nền văn minh Hoa Hạ đã tiếp thu một cách rời rạc,
khơng hồn chỉnh những thư tịch cổ cịn sót lại của một nền văn minh đã mất; sau

7


đó lại hiệu đính và hiểu một cách sai lạc khiến vũ trụ quan này mang tính chất huyền
bí.
Chữ Khoa Đẩu cũng được nhắc đến trong truyện Thủy Hử, trong sách Thơng

Chí, trên bãi đá cổ Sapa. Ngay trên trống đồng cũng khắc những người một tay cầm
rìu, cịn tay kia cầm văn bản để đọc. Đó là chữ hình con nịng nọc mà cóc đẻ ra –
thầy đồ cóc trong cá tranh dân gian Đông Hồ (Lão Oa độc giảng). Dĩ nhiên có nhiều
loại chữ khác nữa mà chữ Khoa Đẩu chỉ là một loại.
Các nhà viết sử do đứng trên lập trường Nho giáo nên đôi chỗ đã đi theo quan
điểm của người phương Bắc một cách vô thức, từ đó đã gán ghép một cách chủ quan.
Muốn hiểu rõ ràng, cặn kẽ hơn thì mọi người hãy tìm đến cuốn Tìm về cội nguồn
Kinh Dịch của tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Những cơ sở, lập luận chứng minh
Kinh Dịch là sản phẩm của nền văn minh Việt cổ trong tác phẩm quả là phát hiện vô
cùng giá trị và có ý nghĩa lớn lao đối với nền tư tưởng của dân tộc.
Nếu vậy thì học và tìm hiểu về Âm Dương, về Kinh Dịch thật ý nghĩa xiết bao
vì nghiên cứu nó, học nó là tìm về cội nguồn tư tưởng của dân tộc. Thậm chí, ta cịn
phải mang trong mình khát vọng khơi phục và khẳng định học thuyết Âm Dương
cũng như Kinh Dịch chính là của dân tộc ta, do cha ông ta để lại. Trên thế giới, chỉ
có hai dân tộc bị đơ hộ hàng nghìn năm mà vẫn khơng bị đồng hóa, khơng mất đi vị
trí của mình trên bản đồ thế giới. Đó là dân tộc Do Thái và dân tộc Việt Nam. Sở dĩ
làm được điều phi thường cũng chính là nhờ chúng ta vẫn ln giữ được nền văn
hóa, tư tưởng, phong tục, tập quán riêng biệt của dân tộc mình. Mất độc lập, tự do,
ta có thể đấu tranh để giành lại được nhưng một khi đã mất văn hóa, mất tư tưởng là
ta đánh mất tất cả. Chúng ta, những thế hệ tương lai cần ý thức được trách nhiệm
giữ gìn, bảo vệ, hơn thế nữa là khôi phục lại nền tư tưởng tinh hoa của dân tộc đã
tích lũy, đã đúc kết qua các thế hệ trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ

8


nước. Muốn vậy, chúng ta phải hiểu rõ, hiểu sâu, hiểu tường tận, nghiên cứu nó một
cách bài bản, hệ thống, khoa học trên lập trường duy vật biện chứng.
Vì tôi mới chỉ là người sơ cơ học đạo, cái sở học về Kinh Dịch, về Âm Dương
vẫn còn kém cỏi nên trong bài tiểu luận này, khi tìm hiểu về nguồn gốc của học

thuyết Âm Dương thì tơi vẫn lý giải học thuyết này xuất phát từ Trung Hoa. Nhưng
kỳ thực trong lòng vẫn mong muốn một tương lai khơng xa, giới nghiên cứu trong
nước sẽ tìm ra được những cơ sở vững chắc để khẳng định học thuyết Âm Dương
cũng như Kinh Dịch có nguồn gốc từ nước Việt ta.

9


CHƯƠNG 1: NGUỒN GỐC CỦA HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG VÀ
CÁC GIAI ĐOẠN BIẾN ĐỔI CỦA HAI YẾU TỐ ÂM - DƯƠNG
1.1 Nguồn gốc của học thuyết Âm Dương
1. Nhà học giả Marcel Granet, trong quyển La Civilisation Chinoise, đã cho
rằng: theo truyền thống Trung Hoa, thì hai chữ Âm Dương có lẽ đã được các nhà
thiên văn học Trung Hoa đầu tiên tạo ra.
Nếu vậy thì quan niệm Âm Dương đã có ít nhất là từ thời vua Nghiêu (2357
– 2255 trước Cơng ngun) vì trong Kinh Thư, thiên Nghiêu điển, ta thấy đề cập đến
mấy nhà thiên văn học như Hy Hịa, Hy Trọng, Hy Thúc.
2. Ơng M. Maspéro thì cho rằng tác giả Hệ Từ đã sáng tạo ra quan niệm Âm
Dương.
3. Nhưng nếu ta chấp nhận rằng Phục Hy (2852 – 2737 trước Công nguyên)
là người đầu tiên đã lập ra Bát quái, thì ta thấy ngay rằng quan niệm Âm Dương đã
được phát sinh từ khi nước Trung Hoa mới có văn, chưa có tự, nghĩa là từ khi còn
dùng vạch thay chữ, tức là vào khoảng 2852 trước Cơng Ngun, vì ngay khi ấy ta
đã thấy:
Khảo Kinh Thư ta thấy hai chữ Âm Dương được dùng liền nhau trong thiên
Chu Quan. Thiên này có chữ tiếp lý Âm Dương, và cho rằng công việc điều hịa Âm
Dương (điều hịa trời đất) là cơng việc quan Tể tướng.
4. Khảo Kinh Thi, ta thấy: Âm thường chỉ trời tối hoặc có mây, hay chỗ khuất,
chỗ kín. Dương thường chỉ mặt trời, chỗ sáng, hoặc màu sắc rực rỡ, hoặc tháng 10,
hoặc phía Nam của núi, phía Bắc của sông.


10


Hai chữ Âm Dương được dùng đi đôi với nhau trong bài thơ Công Lưu, nơi
thiên Đại Nhã:
Tướng kỳ Âm Dương,
Quan kỳ lưu tuyền.
(Xem chỗ râm, chỗ sáng,
Xem dòng nước, dịng sơng)
5. Khảo Kinh Dịch ta thấy Hệ từ và Thuyết quái nhiều lần đề cập đến Âm
Dương, nhưng không giải thích cặn kẽ. Trong Hệ Từ ta thấy những câu:
Nhất Âm nhất Dương chi vị đạo. (Hệ Từ Thượng, chương V)
Âm Dương bất trắc chi vị thần. (Hệ Từ Thượng, chươngV)
Âm Dương chi nghĩa phối nhật nguyệt. (Hệ Từ Thượng, chương VI)
Dương quái đa Âm, Âm quái đa Dương. (Hệ Từ Hạ, chương IV)
Kiền Dương vật dã, Khôn Âm vật dã. (Hệ Từ Hạ, chương VI)
Trong Thuyết Quái ta thấy những câu:
Lập Thiên chi đạo viết Âm dữ Dương. (Thuyết Quái, chương II)
Âm Dương tương bác. (Thuyết Quái, chương V)
7. Khảo Đạo Đức Kinh, ta thấy Lão Tử viết: Vạn vật phụ Âm nhi bão Dương
(Vạn vật cõng Âm mà ơm Dương: nghĩa là Âm ngồi mà Dương trong)
Những sự khảo sát trên cho thấy:
1/ Quan niệm Âm Dương manh nha từ thời Phục Hy.

11


2/ Quan niệm này thịnh hành thời Chu nhất là vào thời Lão Tử, Khổng Tử
(thế kỷ V trước Công nguyên).

3/ Quan niệm này thực ra đã được khai sinh do các đại hiền triết Trung Hoa
chứ không phải do các nhà thiên văn học, các nhà bốc phệ, hay các âm nhạc gia như
Marcel Granet đã chủ trương.
Dịch rất đơn giản. Chỉ có Thái cực, Lưỡng nghi và Tứ tượng. Lưỡng nghi là
Âm Dương, mà Tứ tượng cũng chỉ là Âm Dương mà thôi, nghĩa là Âm Dương được
phân chia ra làm bốn giai đoạn: hai giai đoạn thuộc Dương và hai giai đoạn thuộc
Âm. Hay nói cách khác: Tứ tượng là nói về lẽ tiêu tức của Âm Dương. Dù cho tồn
bộ Kinh Dịch có đến 64 quẻ, nhực thực sự có 12 quẻ cầm đầu, tức là những quẻ
Phục, Lâm, Thái, Đại tráng, Quải, Kiền thuộc Dương gọi là lục Dương quái; những
quẻ Cấu, Độn, Bĩ, Quán, Bác, Khôn thuộc Âm gọi là lục Âm quái. Chung quy cũng
chỉ có Âm và Dương mà thơi. Bởi vậy mới nói: “Dịch giả, Âm Dương nhi dĩ hỉ”.
(Dịch, chỉ là Âm Dương mà thôi).
Nhưng, tuy gọi là Âm Dương, mà thực sự chỉ có một khí mà thơi. Khí Âm mà
lưu hành thì gọi là Dương; khí Dương mà ngưng tụ thì gọi là Âm. Âm Dương thực
sự chỉ là những danh từ tương đối: Âm mà gần một bên cái Âm hơn thì lại thành
Dương; Dương mà gần một bên cái Dương hơn thì lại biến thành Âm. Cũng như trái
đất đối với mặt trời thì thuộc Âm, nhưng đối với mặt trăng thì trái đất lại thuộc
Dương. Đây là một trong những mật nhiệm của khoa Âm Dương học.
1.2 Các giai đoạn biến đổi của hai yếu tố Âm - Dương
1.2.1. Thái cực và Lưỡng nghi
Cốt tủy của Kinh Dịch nằm trong câu này của Hệ từ thượng: “Dịch hữu Thái
cực, thị sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái”. Dịch

12


có Thái cực, Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh
Bát quái. Chữ “sinh” đây có nghĩa là “biến” (sinh giả biến dã), chứ khơng có nghĩa
là từ cái “khơng” sinh ra cái “có”.
Như thế Dịch là lịch trình đại biến hóa của vũ trụ vạn vật. Có thể nói rằng

khởi điểm của lịch trình biến hóa là Thái cực. Thái cực ấy, là một thứ “khí tiên
thiên”, một thứ “linh căn” bất diệt, vơ cùng huyền diệu, trong đó tiềm phục hai
nguyên lý Âm Dương. Nói “Thái cực sinh Lưỡng nghi”, kỳ thực chữ “sinh” có nghĩa
là “ứng hiện”, vì hai ngun lý mâu thuẫn ấy trước khi thành hình, đã tiềm ẩn trong
Thái cực. Cái khí của Thái cực cũng được gọi là Hổn nguyên khí, hoặc gọi tắt là
nguyên khí.
Theo Trịnh Huyền, “Thái cực là đạo cực trung, là khí thuần hịa chưa bị phân
đơi”. Vì vậy ta có thể nghĩ rằng: Vơ cực là một bầu điện khí chưa phân âm điện và
dương điện. Gọi là âm điện hay dương điện, thực sự không phải là hai vật khác nhau,
mà chỉ là một chất điện, nhưng mực độ khá nhau, hóa ra có hai luồng điện khác nhau.
Hai luồng điện ấy vì khác tính nên hấp dẫn nhau gây ra sự va chạm và phát sinh ra
ánh sáng.
Tất cả mọi cuộc biến hóa nhỏ lớn gì trên đời đều từ hai lẽ Âm Dương mà ra.
Có cả Âm lẫn Dương mới có biến hóa, nhất định khơng có trạng thái “cơ Âm” hay
“cơ Dương”. Nếu chỉ có một Âm hay một Dương, thì Âm ấy hay Dương ấy sẽ bị tự
diệt, điều mà Dịch không chấp nhận: “...vật bất khả dĩ chung tận... vật vô tận bác chi
lý” (... vật, không có vật nào có thể bị tiêu hủy đến cùng... mà cũng khơng có cái lý
nào rằng vật sẽ bị hủy hoại đến cùng). Bởi vậy sẽ không bao giờ có cái tượng “cơ
Âm” hay “cơ Dương”, và hai lẽ ấy không bao giờ rời nhau mà tồn tại. Hai lẽ Âm
Dương ràng buộc nhau trong bất cứ một Thái cực nào, lớn hay nhỏ đến đâu. Dịch
học nhận rằng “các hữu Thái cực” nghĩa là khơng có sự vật nào trong đời mà tự nó

13


không phải là một Thái cực, từ vật cực tế đến vật cực đại. Ngay trong Thái cực
Lưỡng nghi: mỗi “nghi” cũng là một Thái cực: điểm Dương trong Âm, điểm Âm
trong Dương đã biến Dương thành một Thái cực, Âm thành một Thái cực. Mỗi cái
đều chứa cả Âm Dương. Đó cũng gọi là Tứ tượng sẽ bàn rộng sau này.
Đây là một quy luật rất quan trọng: dù là một phần tử nhỏ bé rời rạc đến bậc

nào cũng chứa đựng đầy đủ một toàn thể như cái đại tồn thể của vũ trụ. Hay nói
một cách khác, người là một tiểu vũ trụ cùng đồng cấu tạo tổ chức như một đại vũ
trụ.
Tất cả, từ nhỏ đến lớn, đều chịu chung một quy luật như thế. Cho nên biết
được chân tướng của một vật cực tiểu cũng có thể biết được chân tướng của cái cực
đại, cũng như tất cả mọi sự vật trên đời. Và chính vì thế một triết gia Đơng phương
mới cả quyết: “Bất xuất hộ tri nhi thiên hạ; bất khuy dữ nhi kiến thiên đạo” (không
ra khỏi cửa nhà mà biết cả việc dưới Trời; khơng nhìn qua khe cửa mà thấy rõ đạo
Trời).
Chu Tử đưa ra một hình ảnh khơi gợi đầy thi vị này để ta dễ hội ý. Ông nói:
“gốc vốn chỉ là một Thái cực. Mn vật đều bẩm thụ Thái cực ấy, và tự mình có đủ
một Thái cực. Chẳng khác nào mặt trăng ở trên trời vốn có một, kịp khi đã tán ra ở
các mặt sông hồ, chỗ nào cũng thấy mặt trăng. Không thể vì vậy mà cho rằng mặt
trăng đã bị chia ra làm muôn mảnh”.
Con người vừa là một tiểu vũ trụ mà cũng vừa là một đại vũ trụ. Là một tiểu
vũ trụ, nghĩa là một vũ trụ thu nhỏ lại, hay là, một tổng thể của vũ trụ là đối với cái
đại vũ trụ trong không gian vô tận của tinh tú hằng hà, bao la, vạn tượng. Đối với
cái vũ trụ, thì người chỉ là một vật cực tiểu, có thể khơng nhận thấy được dưới kính
hiển vi. Nhưng đối với một vật nhỏ hơn nó nhiều, như một hạt nguyên tử, thì người

14


sẽ lại lớn vô cùng như một đại vũ trụ. Tức là chỗ mà Trang Tử, nơi thiên Thu Thủy,
bảo: “Biết trời đất như một hạt thóc, biết mảy lơng như hòn núi”, nghĩa là “nhân cái
lớn hơn mà cho là lớn, thì vạn vật khơng có vật nào là khơng lớn; nhân cái nhỏ hơn
mà cho là nhỏ, thì vạn vật khơng có vật nào là khơng nhỏ”.
Vì vậy ta có thể nói: lớn nhỏ như nhau, thảy đều là một Thái cực.
1.2.2. Tứ tượng
Tứ tượng là Thiếu dương, Thái dương, Thiếu âm và Thái âm, tức là để nói lên

luật doanh hư, tiêu trưởng của khí Âm Dương, lúc dày lúc mỏng. Dày là Thái; mỏng
là Thiếu. Luật đại hóa lưu hành là sự diễn biến từ lúc khởi thủy đến hồi chung cuộc
của vạn vật qua 4 giai đoạn: thành, thịnh, suy, hủy tương đương với điều mà nhà
Phật gọi là thành, trụ, hoại, không.
Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê, trong Đại cương Triết học Trung Hoa nhận xét
rất đúng:
“Giai đoạn thành là giai đoạn của Thiếu dương – giai đoạn khí Dương từ khí
Thái âm sinh ra.
Giai đoạn thịnh là giai đoạn của Thái dương – giai đoạn khí Dương phát triển
đến cực độ.
Giai đoạn suy là giai đoạn của Thiếu âm – giai đoạn khí Âm từ khí Thái dương
sinh ra.
Giai đoạn hủy là giai đoạn của Thái âm – giai đoạn khí Âm phát triển đến cực
độ, lấn át hết khí Dương”.
Ta thấy rằng Tứ tượng chính là 4 trạng thái biến thiên chính yếu, 4 cơ cấu
chính yếu, 4 hiện tượng chính yếu, 4 giai đoạn biến thiên chính yếu, trong đại chu

15


kỳ biến hóa của vũ trụ. Phân ra bốn phương thì Tứ tượng là phân thể của Thượng
đế. Hợp lại làm một ta lại được Thái cực hoặc Thượng đế.
Nhìn ký hiệu của Tứ tượng ta có thể nhận định thêm như sau: Vạn vật có thể
có cơ cấu, khí chất ngược nhau như Thái dương, Thái âm; hoặc có nhiều hướng vận
chuyển trái ngược nhau như Thiếu dương, Thiếu âm. Nói cách khác, vạn vật có thể
hoặc tụ, hoặc tán, hoặc hướng ngoại, hoặc hướng nội, hoặc tiến từ tinh thần đến vật
chất, hoặc từ vật chất trở ngược về tinh thần.
Ta có thể lồng Tứ tượng vào chu kỳ biến hóa của 4 mùa trong một năm, 4 lứa
tuổi trong một đời người, 4 giai đoạn biến hóa trong chu kỳ vũ trụ:
Thiếu dương: Dương khí từ lịng đất vươn lên; Dương khí bắt đầu hoạt động.

(Xuân, tuổi thiếu niên, sáng, Sinh)
Thái dương: Dương khí tới thời tồn thịnh, phát huy vạn vật, khuếch tán vạn
sự. (Hạ, tuổi thanh niên, trưa, Trưởng.)
Thiếu âm: Âm khí thu liễm vạn vật. (Thu, tuổi thành niên, chiều, Liễm)
Thái âm: Âm khí hàm tàng vạn vật. (Đông, tuổi lão thành, tối, Tàng)
1.2.3. Bát quái
Bát quái do Tứ tượng mà ra. Tứ tượng thì mỗi tượng chỉ có 2 hào. Bát qi,
mỗi qi có 3 hào.
1. Chồng lên một hào Dương hay hào Âm trên tượng Thái dương, ta có quẻ
Kiền và quẻ Đoài:
Kiền
Thái dương
Đoài

16


2. Chồng thêm một hào Dương hay hào Âm trên tượng Thiếu dương, ta có
quẻ Ly và quẻ Chấn:

Ly
Thiếu dương
Chấn

3. Chồng thêm một hào Dương hay hào Âm trên tượng Thiếu âm, ta có quẻ
Tốn và quẻ Khảm:

Tốn
Thiếu âm
Khảm


17


4. Chồng thêm một hào Dương hay hào Âm trên tượng Thái âm, ta có quẻ Cấn
và quẻ Khơn.

Cấn
Thái âm
Khơn

18


THÁI CỰC, LƯỠNG NGHI, TỨ TƯỢNG
(sắp ngang hàng)

Kiền

Thái
Dương

Đồi

Ly

Thiếu
Dương

Chấn


Tốn

Thiếu
Âm

Khảm

Cấn

Thái
Âm

g

Dương

Âm

Thái cực

19

Khơn


1.3 Huyền nghĩa của Âm Dương
Âm Dương là bất nhị: Một mà là hai, hai mà là một.
Một mà hai cũng có nghĩa là Âm tự nó là một Thái cực, Dương tự nó cũng là
một Thái cực, nghĩa là Âm có hai bộ mặt, mà Dương cũng có hai bộ mặt. Hay nói

cách khác, Dương tượng trưng cho thần Thiện, nhưng tự nó có hai bộ mặt: Thiện mà
Ác. Cũng như Âm tượng trưng cho thần Ác, nhưng tự nó có hai bộ mặt: Ác mà
Thiện. Thực tế trên đời, khơng có một cái hay nào mà khơng có cái dở của nó, cũng
như khơng có cái dở nào mà chẳng trong có cái hay của nó. Khơng có cái lợi nào mà
khơng có cái hại của nó, cũng như khơng có cái hại nào mà khơng có cái lợi của nó.
Phải nhận thấy được cái Âm Dương, cái Dương trong Âm, cái phúc trong cái họa,
cái họa trong cái phúc mới là người tinh thông Dịch lý, hiểu thấu được chỗ huyền
nghĩa của Âm Dương.
Tóm lại, Âm hay Dương, khơng có cái nào tự nó là thuần thiện hay thuần ác,
thuần lợi hay thuần hại cả. Chỉ có khi nào “đắc thời”, “đắc vị” mới là hay đẹp mà
thôi.
***
Mộ trong những điểm quan trọng mà ta cần lưu ý là Âm Dương không bao
giờ rời nhau: hễ nội Dương ngoại Âm là Dương tụ, trái lại hễ nội Âm ngoại Dương
là Dương tán. Hay nói cách khác, hễ Âm mà bọc Dương là Dương tụ, Dương mà
bọc Âm là Dương tán. Với những con số ở Hà đồ, nếu ta thấu được huyền nghĩa của
nó, ta có thể nắm được quyền sinh sát của Tạo hóa. Nên nhớ: hễ nội Dương ngoại
Âm, đó là tượng của quẻ Thái (Địa Thiên Thái). Trái lại, hễ nội Âm ngoại Dương là
tượng của quẻ Bĩ (Thiên Địa Bĩ). Bởi vậy, thời mà Thiếu dương và Thái dương (quân
tử) làm chủ là thời thái bình, cịn thời mà Thiếu âm và Thái âm (tiểu nhân) làm chủ

20


là thời ly loạn: thuyết chu kỳ quan trọng nhất là ở điểm này, như sau đây sẽ nói rõ
hơn. Âm bọc Dương thì ở phương Đơng, cịn Dương bọc Âm thì ở phương Tây. Và
như vậy, cái sáng của phương Đơng là cái sáng của Thái dương, cịn cái sáng của
phương Tây là cái sáng của Thái âm.
***
Nhờ có khí Âm bao bọc mà khí Dương mới tụ lại được mà thành hình, vì tự

nó khí Dương có tính hay thăng và tán. Chân Dương mà thốt khỏi hình hài, đó là
hơi thở cuối của ta trên cõi đời sắc tướng này. Có khác nào những tinh trùng do
người đàn ơng sinh ra, nếu khơng được nỗn bào của người đàn bà chấp nhận và ơm
ấp, thì chúng phải chết hết trong một thời gian rất ngắn. Noãn bào của đàn bà sinh
ra mà không được cấu hợp với tinh trùng của người đàn ông, cũng sẽ không sống
được trong vịng vài ngày. Khơng bao giờ có hiện tượng cô Âm hay cô Dương mà
sự vật được tồn tại trên đời. Đó là hiện tượng đầu tiên "Âm bọc Dương" mà ta thấy
trong bất cứ một hạt nguyên tử nào.
Ta có thể nói, vai trị của Âm là giúp cho Dương trụ lại mà không tán thất nữa,
nhưng đồng thời nó lại cũng hạn chế sự tự do bành trướng của khí Dương. Dương
khí bị giam hãm trong một hình thức, bao giờ cũng tìm cách thốt ly hình thức ấy
bằng mọi cách. Nếu hình thức ấy càng kiên cố bao nhiêu là tạo cho Dương lực chứa
đựng bên trong càng thêm mãnh liệt bấy nhiêu. Là vì Âm Dương khơng bao giờ lìa
nhau mà đơn phương tồn tại. Khoa học ngun tử ngày nay khơng nói khác hơn.
Mỗi hạt nguyên tử từ chất nhẹ đến chất nặng, từ chất lỏng đến chất rắn đều do cái
“số nguyên tử” (nombre atomique) thấp hay cao mà ra. Nguyên tử Hydrogene rất
nhẹ, đơn giản chỉ có một electron, mà nguyên tử Uranium có đến con số 92 electrons.
Hạt nguyên tử nào cũng là một Thái cực, nên Âm Dương bao giờ cũng đồng nhau.
Âm khí bọc ngồi càng nhiều thì Dương khí bên trong càng tăng. Đó là điều ta nên

21


lưu ý kỹ. Đây cũng là mật nhiệm của Âm Dương theo Huyền bí học của Đơng
phương qua câu này của Kinh Dịch: “Các hữu Thái cực”. Đem Âm mà ức Dương sẽ
làm cho Dương khí bị bao bọc bên trong càng tăng, chứ không bao giờ giết được
Dương lực bên trong. Bởi vậy, những quy luật khắt khe của nghệ thuật càng gị bó
nặng nề bao nhiêu sẽ giúp cho nghệ sĩ có cơ hội vượt lên bấy nhiêu mà thành những
bậc tài hoa trên thiên hạ. Không một văn nghệ sĩ xuất chúng nào mà không gặp đầy
trở ngại thử thách. Tôi cũng muốn nhắc đến luật thử thách trong lịch sử lồi người:

khơng bị thử thách, khơng vượt nổi thử thách, khơng bao giờ có tiến bộ.
Trong con mắt của thế nhân, của những người còn lặn hụp trong giới nhị
nguyên, Âm với tính chất thu tàng và hạn chế sự thăng tán của khí Dương nên bị
xem lầm như là kẻ thù địch của Dương. Vì vậy, Âm thường dùng để tượng trưng
những hung thần ác quỷ. Có những thứ tơn giáo hướng thiện triệt để gán cho Âm cái
tên là hung thần Satan, đối lập với một vị Thượng đế tồn thiện.
Thói thường, theo nhị nguyên luận, người ta xem vật chất như đối nghịch với
tinh thần, xem sự hủy diệt như kẻ thù của sáng tạo. Họ là những người chỉ muốn
thấy có ngày mà khơng có đêm, có lên mà khơng có xuống, có nóng mà khơng có
lạnh, có nam mà khơng có nữ, có phúc mà khơng có họa, có đúng mà khơng có sai,
có đẹp mà khơng có xấu,... Hay nói tắt một lời, họ là người chỉ muốn có Dương mà
khơng có Âm.
Trong đời sống hàng ngày, xã hội là Âm mà cá nhân là Dương. Trong tình
yêu, gia đình là Âm, hợp với người đàn bà mà không hợp với người đàn ơng thích
u đương mà khơng thích ràng buộc. Sở dĩ người ta lập ra lễ cưới với một nghi tiết
vơ cùng nghiêm trọng là vì như linh tính báo trước, người đàn bà nào cũng lo sợ cái
tính phóng túng tự do của khí Dương, khơng thích sự gị bó an trụ vào một nơi nào
cả.

22


Âm là để cầm giữ Dương, nhưng nếu lại cố mà tù hãm nó, như một số người
đàn bà đem cái tình u kích kỷ của mình để biến người u thành một tên tù giam
lỏng, họ đã vơ tình làm tan vỡ mà không hay.
Tâm linh con người là một bầu mâu thuẫn: vừa thích Âm mà cũng vừa ưa
Dương: “người ta, ai ai cũng thích những hạn chế của thể xác, nhưng lại cũng muốn
có được một sự tự do phóng khóang tinh thần vơ bờ bến, có một linh hồn bất tử. Có
một cái gì làm cho ta như bị thu hút vào cái tâm trạng mâu thuẫn lạ thường ấy: đâu
phải ta chỉ ưa thích uống chén rượu đào ngon ngọt đầy hương thơm bát ngát, mà ta

lại cũng thích những gì cay đắng, khó ngửi. Âm hay Dương đều có sức hấp dẫn của
nó: người ta ưa thiện mà cũng thích ác. Bởi vậy mới có câu: Lịng ta là một bài chiến
trường, nơi đó trỗi lên một bản tình ca bất tận.
***
Phải ln ln giữ mức quân bình giữa Âm và Dương. Nhưng cần để ý kỹ đến
cái điểm rất quan trọng này là có hai thứ qn bình: qn bình tịnh và qn bình
động.
Quân bình tịnh là thứ quân bình đứng im lìm khơng máy động. Đó là cái tịnh
của Đạo, nhưng mà thực sự nó ngấm ngầm chỉ huy tất cả mọi biến động trên đời. Nó
là Thái cực, tượng trưng bằng con số MỘT.
Quân bình động là quân bình của cái đang chuyển động, tượng trưng ở con số
5, con số của Hồng cực ở trung cung Bát qi. Đó là cái động của Đức, tức là cái
“động trong cái tịnh”. Số 5 là con số quân bình của hiện tướng, Dương và Âm được
điều hòa theo tỉ lệ 3/2 (gọi là con số tham thiên lưỡng địa). Nên nhớ: Âm Dương
đồng nhau, đó là qn bình tịnh. Trong hiện tướng, Âm Dương phải có cái thừa cái
thiếu. Khơng có gì thuần Âm hay thuần Dương. Cũng khơng có gì thật quân bình,

23


mặc dù quân bình là cốt tử của đạo Dịch. Âm hay Dương bao giờ cũng phải có thừa
hay thiếu, có vậy mới có động. Khơng vậy, vạn vật sẽ đừng dừng lại, dừng lại nơi
điểm chết (point morty).
Con số 5 là tổng số của con số 3 và con số 2. Con số 3 là con số của Thái
dương, còn con số 2 là con số của Thái âm. Dương xướng Âm họa: tinh thần phải
làm chủ vật chất.
Dương thăng, Âm giáng là để giữ mức quân bình, nhưng phần thăng phải cao
hơn phần giáng mới thuận Đạo, mới chuyển được sự vật trên đời.
***
Khôn (Âm) vừa là nguyên lý bảo vệ sự sống, nhưng lại cũng là yếu tố sát hại

sự sống: hình thể phải trước tụ sau tan, thì sứ mạng của nó mới viên thành. Phá hoại,
tự nó, đâu phải là khơng nên.
Phàm “hữu hình hữu hoại”. Sự vật mà chỉ có Khí, chưa có Hình, sự vật ấy
chưa thực hiện hoàn toàn cái Dụng của nó. Có Thể mà chưa có Tướng, thì cái Thể
kể như chưa có. Đã có “đại tai Kiền ngun” thì phải “chí tai Khơn ngun” thì Kiền
khí mới đạt thành diệu dụng của nó là sáng tạo. Có Dương để sinh, thì phải có Âm
để thành. Nhưng có thành mà khơng có hủy thì sự vật trên đời sẽ bị bế tắc: điều
khơng thể có trên cõi đời sắc tướng này, theo Dịch lý.
Vai trị của Khơn (Âm) là cấu tạo và tổ chức, nhưng sự vật một khi đã được
cấu tạo và tổ chức có hình thức rồi, thì chính hình thức ấy trở lại giết lần mịn cái
tinh thần nguyên thủy của cơ cấu ấy. Các học thuyết, các tơn giáo có tổ chức rất chu
đáo nghiêm ngặt sẽ là những học thuyết, những tôn giáo bắt đầu chết khơ, khơng
cịn sinh khí buổi ban đầu nữa. Phật giáo, Thiên chúa giáo ngày nay đều đã đang
chết ngộp trong những tổ chức quá nghiêm khắc và cứng rắn của họ.

24


Krishnamurti quả quyết: “Tất cả các tơn giáo có tổ chức đều là những khám
cung chôn chặt tinh thần con người”. Nói về Phật giáo ngày nay, một thiền sư đã u
mặc bảo: “Đạo Phật ngày nay chỉ có thể tìm thấy may ra ở những nơi nào khơng cịn
bóng dáng Phật giáo”.
Ngày nay toàn thể nhân loại đang ở trong thời hắc ám bị Âm khí bao vây dày
đặc quá, khí Dương đang bị dồn vào đường cùng. Một cuộc đại cách mạng đã và
đang bắt đầu phá tan những hình thức cũ kỹ các học thuyết và tơn giáo bấy lâu nay
giữ vai trị bá chủ tồn cầu. Nên nhớ, quẻ Bĩ thì Âm làm chủ mà Dương là khách:
thời nay người ta chú trọng đến hình thức nhiều hơn. Tây phương với văn minh cơ
khí đang đi dần đến tình trạng phá sản và tiêu diệt bằng chính khoa nguyên tử đang
cho bùng nổ các hạt nhân trong khắp mọi lĩnh vực học thuật của họ.
Hào Thiếu dương ở sơ hào quẻ Phục đã bắt đầu máy động để dọn đường cho

một cuộc phục sinh tinh thần chưa từng thấy có trong lịch sử lồi người. Hiện “thần
chiến tranh” đang hoành hành và phá hoại triệt để chẳng những về hình thức mà cả
tinh thần quá cũ kỹ của Tây phương và cả Đông phương bị Tây phương hóa, hay nói
cho đúng hơn, bị nhị nguyên hóa đến cực độ.
***
Một điều khá quan trọng mà ta nên lưu ý là bất cứ một thứ Đạo học chân chính
và thuần túy Đơng phương nào cũng khun ta “đắc ý nhị vong ngơn”. Là vì Ý là
Dương mà Lời là Âm: đừng để Lời giết Ý. Nhưng cũng không nên hiểu là ta phải
tuyệt đối bỏ văn tự mà cầu Đạo. Dù sao Âm bao giờ cũng có cơng dụng của nó là
tạo nên một hình thức. Phải có hình thức để nhân đó hiểu được cái ngồi hình thức
đó.

25


×