TIỂU LUẬN
MƠN: THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI ĐƯƠNG ĐẠI
Đề tài:
THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ MỸ: QUYỀN LỰC CỦA TỔNG THỐNG MỸ
MỤC LỤC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ...............................................................................................1
II. NỘI DUNG..................................................................................................2
2.1. Khái niệm thể chế chính trị........................................................................2
2.2. Lịch sử thể chế chính trị Mỹ và vai trò của tổng thống..............................5
2.3 Quyền lực của tổng thống Mỹ.....................................................................9
III. KẾT LUẬN..............................................................................................24
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................26
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước Mỹ đã và đang là cường quốc hàng đầu thế giới với sức ảnh
hưởng mạnh mẽ về chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, qn sự lan toả tới
nhiều quốc gia, nhiều khu vực trên khắp các châu lục. Nhìn nhận vai trị và vị
thế đặc biệt đó, cả giới nghiên cứu lẫn phương tiện thông tin và dư luận công
chúng đều rất quan tâm đến chế độ tổng thống Mỹ - một lĩnh vực quan trọng
bậc nhất của hệ thống chính trị Hoa Kỳ.
Chế độ tổng thống Mỹ là mơ hình ngun thủ quốc gia cộng hoà mang
bản chất tiên phong, tiêu biểu và có tác động rộng rãi. Tiên phong vi đây là
một trong ít hình thức ngun thủ quốc gia cộng hoả đầu tiên, tự thân hình
thành, khẳng định và phát triển. Tiêu biểu vì nó thể hiện rõ ràng, đầy đủ nhất
các đặc tính của một mơ hình ngun thủ quốc gia cộng hoả hiện đại: tính
quyền lực tối cao, tính dân chủ, tính xã hội, tính liên tục và ổn định. Có tác
động rộng rãi vì nó tồn tại, phát triển suốt hơn hai thế kỷ qua, là trung tâm và
chi phối tồn bộ nền chính trị Mỹ, đồng thời ngày càng trở thành mơ hình
ngun thủ quốc gia mẫu của nhiều nước (khoảng gần 1/3 số quốc gia trên thế
giới hiện nay theo kiểu chế độ tổng thống này).
Tìm hiểu về chế độ tổng thống Mỹ là việc rất cần thiết để góp phần hiểu
rõ cơ cấu, hoạt động và cốt lõi của hệ thống chính trị Mỹ, giúp xây dựng, phát
triển quan hệ phù hợp giữa hai nước. Ngồi ra, việc nghiên cứu, tìm hiểu chế
độ tổng thống Mỹ chắc cũng sẽ gợi mở việc chia sẻ, chọn lọc, tiếp thu một số
điểm tích cực, tương đồng đối với q trình đổi mới, phát triển và hồn thiện
định chế chủ tịch nước Việt Nam.
Chính vì lý do đó, tác giả tiến hành lựa chọn đề tài: “Thể chế chính trị
Mỹ: Quyền lực của tổng thống Mỹ”.
1
II. NỘI DUNG
2.1. Khái niệm thể chế chính trị
Là một bộ phận của thể chế xã hội, thể chế chính trị, một hiện tượng
chính trị - xã hội đặc thù của một xã hội, được phân chia thành giai cấp và tổ
chức thành nhà nước. Nó là những định chế, chuẩn mực hợp thành những
nguyên tắc, phương thức vận hành của chế độ chính trị, của hệ thống chính trị
của xã hội ở một giai đoạn phát triển nhất định.
Khi xem xét khái niệm thể chế chính trị, các nhà chính trị học Trung
Quốc như: Tần Thụy Sinh, Chu Mãn Lương, Long Nguyên Chinh, trong cuốn
sách Cải cách thể chế chính trị Trung Quốc (Nxb. Đại Liên, Viện Thơng tin
khoa học thuộc Viện Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí
Minh dịch. Hà Nội, 1995), cho rằng: thể chế chính trị là các loại chế độ chính
trị cụ thể xây dựng trên cơ sở chế độ chính trị cơ bản và tổng hồ của cơ chế
vận hành, thuộc kiến trúc thượng tầng. Với cách tiếp cận như vậy, các nhà
chính trị học Trung Quốc đã gần như đồng nhất khái niệm thể chế chính trị
với khái niệm chế độ chính trị.
Để hiểu đúng khái niệm thể chế chính trị, cần thiết làm rõ: chính trị là
gì? chế độ chính trị là gì? hệ thống chính trị là gì?
- Chính trị là gì? Cịn có nhiều quan niệm khác nhau về chính trị, song
thơng thường, chính trị được hiểu là các lĩnh vực hoạt động và tương ứng với
nó là các quan hệ giữa con người với nhau trong những lĩnh vực quyền lực,
thể chế chính trị là các loại chế độ chính trị cụ thể xây dựng trên cơ sở chế độ
chính trị cơ bản và tổng hoà của cơ chế vận hành, thuộc kiến trúc thượng
tầng. Với cách tiếp cận như vậy, các nhà chính trị học Trung Quốc đã gần như
đồng nhất khái niệm thể chế chính trị với khái niệm chế độ chính trị.
2
Để hiểu đúng khái niệm thể chế chính trị, cần thiết làm rõ: chính trị là
gì? chế độ chính trị là gì? hệ thống chính trị là gì?
- Chính trị là gì? Cịn có nhiều quan niệm khác nhau về chính trị, song
thơng thường, chính trị được hiểu là các lĩnh vực hoạt động và tương ứng với
nó là các quan hệ giữa con người với nhau trong những lĩnh vực quyền lực,
chế độ chính trị được hiểu là nội dung, phương thức tổ chức và hoạt động của
hệ thống chính trị của một quốc gia, mà trọng tâm là của nhà nước. Chế độ
chính trị được biểu hiện rõ nét nhất trong mơ hình tổ chức của nhà nước,
trong hiến pháp của mỗi nước, quy định về nguồn gốc và tính chất của quyền
lực và mối quan hệ giữa các cơ quan quyền lực nhà nước, về mối quan hệ
giữa nhà nước với công dân và các đảng phái chính trị, cũng như với các tổ
chức xã hội, giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội, giữa các dân tộc trong
nước. Trên phạm vi quốc tế có những chế độ chính trị khác nhau: chế độ quân
chủ chuyên chế, chế độ quân chủ lập hiến, chế độ dân chủ tư sản, chế độ dân
chủ xã hội chủ nghĩa. Chế độ chính trị được quy định bởi hình thái kinh tế xã hội. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội có thể có các chế độ chính trị khác nhau,
nhưng hình thái kinh tế - xã hội và chế độ chính trị khơng đồng nhất với nhau.
Chế độ chính trị thuộc phạm trù kiến trúc thượng tầng, bao gồm bộ máy nhà
nước, pháp luật và các thể chế kinh tế, chính trị, xã hội nhằm bảo vệ quyền
lực của giai cấp cầm quyền. Như vậy, chế độ chính trị có thể được xem xét
dưới những góc độ khác nhau:
Thứ nhất, nếu xem xét dưới góc độ nội dung, phương thức tổ chức và
hoạt động của hệ thống chính trị, thì chế độ chính trị là cơ chế vận hành của
hệ thống chính trị.
Thứ hai, nếu xem xét dưới góc độ cấu trúc, thì chế độ chính trị bao gồm:
bộ máy nhà nước, luật pháp, đảng cầm quyền, các tổ chức chính trị - xã hội
3
khác và các thể chế kinh tế, chính trị, xã hội nhằm bảo vệ quyền lực của giai
cấp cầm quyền.
Thứ ba, nếu xem xét dưới góc độ hình thức của nhà nước, thì chế độ
chính trị là phương thức cai trị, quản lý xã hội của giai cấp cầm quyền phương thức dân chủ hay chuyên chế (phản dân chủ).
Thứ tư, nếu xem xét dưới góc độ pháp luật thì chế độ chính trị là những
định chế pháp luật bao gồm: hiến pháp, pháp luật và những quy định dưới luật
nhằm duy trì và bảo vệ chế độ xã hội đương thời và quyền lợi của giai cấp
cầm quyền.
- Hệ thống chính trị là gì? Khái niệm hệ thống chính trị, mặc dù đã được
sử dụng khá rộng rãi, song cho tới nay vẫn chưa có sự nhận thức thống nhất.
Tựu trung lại có hai loại quan niệm cơ bản như sau:
Quan niệm thứ nhất cho rằng, hệ thống chính trị là hệ thống quyền lực
của giai cấp cầm quyền, hay gọi là hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm
quyền, nghĩa là hệ thống chính trị chỉ bao gồm các tổ chức chính trị - xã hội
do giai cấp cầm quyền lập ra để bảo vệ quyền lực và lợi ích của chính giai cấp
cầm quyền - giai cấp nắm quyền lực về kinh tế. Các tổ chức chính trị - xã hội
khác không được coi là thành tố của hệ thống chính trị.
Quan điểm thứ hai, xem hệ thống chính trị khơng chỉ là hệ thống chun
chính của giai cấp cầm quyền mà là tất cả các tổ chức chính trị - xã hội hợp
pháp hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến quyền lực thống trị của giai
cấp thống trị. Đó là hệ thống tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp, trong đó ưu
thế cơ bản thuộc về các thiết chế của giai cấp nắm quyền lực về kinh tế để tác
động vào các quá trình kinh tế - xã hội nhằm bảo vệ, duy trì và phát triển chế
độ xã hội đương thời và lợi ích của giai cấp cầm quyền.
4
Từ những quan niệm trên có thể xem, hệ thống chính trị là hệ thống các
tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp (trong đó có cả những tổ chức do giai cấp
thống trị lập nên và cả các tổ chức do giai cấp không thống trị lập nên), các
đảng chính trị hợp pháp và nhà nước của giai cấp cầm quyền, cùng quan hệ
qua lại trong sự tác động của các yếu tố đó để chi phối các quá trình kinh tế xã hội nhằm bảo vệ, duy trì và phát triển chế độ xã hội đương thời, bảo đảm
quyền lực và lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Từ những quan niệm như trên, có thể hiểu khái niệm thể chế chính trị
như sau:
Thể chế chính trị là hệ thống các định chế, các giá trị, chuẩn mực hợp
thành những nguyên tắc tổ chức và phương thức vận hành của một chế độ
chính trị, là hình thức thể hiện các thành tố của hệ thống chính trị thuộc
thượng tầng kiến trúc, là cơ sở chính trị - xã hội quy định tính chất, nội dung
của chế độ xã hội nhằm bảo vệ quyền lực và lợi ích của giai cấp cầm quyền.
2.2. Lịch sử thể chế chính trị Mỹ và vai trò của tổng thống
2.2.1 Lịch sử thể chế chính trị Mỹ
Lịch sử nước Mỹ thực sự bắt đầu từ năm 1607, khi nước Anh thành lập
thành phố Jamestown, quản lý thuộc địa bằng luật pháp, bầu Chính phủ,
Thống đốc chịu trách nhiệm trước Nữ hoàng. Năm 1714, Liên hiệp nước Anh
mới được ra đời, khẳng định vị thế của người Anh ở Bắc Mỹ. Năm 1768,
cuộc đấu tranh giành độc lập dưới sự lãnh đạo của Oasinhtơn bắt đầu.
Tư tưởng liên kết các vùng thành một liên bang thống nhất nảy sinh từ
giữa thế kỷ XVIII, nhưng đều bị Anh bác bỏ. Ngày 4-7-1776, Đại hội lục địa
tại Philađenphia thông qua Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố thành lập nhà nước
liên bang gồm 13 bang. Sau khi liệt kê hàng loạt những lạm quyền đủ loại của
Chính phủ Anh, Tuyên ngôn này tuyên bố rằng: nhân dân bị áp bức có quyền
5
nổi dậy, quyền lực tối cao thuộc về nhân dân. Tuy nhiên cơ cấu liên bang còn
lỏng lẻo, thực chất là hợp bang. Năm 1777, Hội nghị Liên bang lần 2 thơng
qua “Quy chế về Chính phủ liên bang” hay còn gọi là “Các điều khoản của
liên minh” và được phê chuẩn năm 1782. Theo đó, mỗi bang bảo lưu “chủ
quyền, tự do, độc lập và mọi quyền lực, tính pháp lý và chủ quyền”, có Nghị
viện, Chính phủ, hiến pháp riêng. Hằng năm các bang cử 1 đại diện của mình
đến họp Quốc hội. Giữa các kỳ họp Quốc hội, chức năng đó trao cho Uỷ ban
các bang.
Năm 1782, bị thua trong chiến tranh với Mỹ, Anh phải ký hồ ước Pari,
cơng nhận nền độc lập của Mỹ, trao trả vùng lãnh thổ phía Nam cho Mỹ. Năm
1784, Niu c trở thành Thủ đơ lâm thời của Mỹ. Năm 1787, đại biểu các
bang nhóm họp, soạn thảo hiến pháp liên bang. Trong số 55 đại biểu có 24 tài
phiệt, 11 chủ tàu thuỷ, 15 chủ nô. Không thủ tiêu quyền độc lập của các bang,
nhưng hiến pháp tập trung quyền lực cho trung ương, liên minh đã chuyển
thành liên bang. Đến năm 1789, trải qua 2 năm đấu tranh quyết liệt giữa các
phe nhóm, các bang đã phê chuẩn hiến pháp liên bang. Năm 1789, Quốc hội
liên bang khai mạc, Oasinhtơn được bầu là Tổng thống đầu tiên. Năm 1791,
thành phố Oasinhtơn được chọn là Thủ đơ chính thức. Lãnh thổ liên bang
ngày càng được mở rộng. Năm 1803, Mỹ mua lại vùng Lousiana của Pháp;
năm 1819, mua lại Phloriđa của Tây Ban Nha; năm 1846, mua lại Oregon của
Anh; sau đó, sáp nhập Texas, Tân Mêhicơ và Caliphcnia sau khi đánh bại
Mêhicô.
Đây là thời kỳ phát triển mạnh về kinh tế. Miền Bắc thực hiện cơng
nghiệp hố, thi hành chính sách bảo hộ; trong khi đó miền Nam chủ yếu phát
triển nông nghiệp, thực hiện tự do thương mại, duy trì chế độ nơ lệ. Năm
1854, Đảng Cộng hịa ra đời, chủ trương xóa bỏ chế độ nơ lệ. Năm 1860,
Lincon, thủ lĩnh Đảng Cộng hòa trúng cử Tổng thống. Các bang miền Nam
tách ra và tuyên bố lập các hợp bang châu Mỹ. Năm 1861 - 1865, chiến tranh
6
nổ ra giữa hai miền, và kết thúc với thắng lợi thuộc về miền Bắc, chế độ nô lệ
bị bãi bỏ. Cuộc nội chiến này, theo C.Mác, khơng là gì khác cuộc đấu tranh
giữa hai hệ thống xã hội: hệ thống chiếm hữu nô lệ và hệ thống lao động tự
do. Đến năm 1870, tất cả các bang miền Nam gia nhập trở lại liên bang. Phái
cấp tiến của Đảng Cộng hòa trong Quốc hội tiến hành nhiều biện pháp để kiến
trúc lại miền Nam, các bang miền Nam đặt dưới sự kiểm soát của quân đội,
bãi bỏ điều luật phân biệt đối xử với người da đen. Tòa án Tối cao tuyên bố
quyền rút khỏi liên bang bị bãi bỏ.
Chiến thắng của miền Bắc đã kích thích mạnh mẽ cho sự phát triển năng
động của nền kinh tế Mỹ. Công cuộc khai phá các vùng đất mới của người da
đỏ, mở đường sắt xuyên lục địa đã thúc đẩy q trình định cư ở miền Tây.
Làn sóng người nhập cư ào ạt đổ vào Mỹ, dân số tăng nhanh (từ 40 triệu năm
1870 đến 74 triệu năm 1900).
Năm 1867, Mỹ mua vùng Alaska của Nga; năm 1893, chiếm Haoai;
năm 1895, can thiệp vào Cuba, chiếm Pueetơ Ricơ, Guam, Philíppin, mở rộng
ảnh hưởng sang châu Á. Năm 1914, Mỹ kiểm sốt hồn tồn kênh đào
Panama. Năm 1917, Mỹ tham gia Chiến tranh thế giới thứ nhất, đứng về phía
quân Đồng minh chống Đức.
Năm 1929-1933, Mỹ bị khủng hoảng kinh tế nghiêm trong. Năm 1932,
Rudoven trúng cử Tổng thống, thi hành chính sách mới, nhanh chóng phục
hồi nền kinh tế. Năm 1941. khi bị Nhật Bản tấn công ở Trân Châu Cảng
(Pearl Harbour), Mỹ bắt đầu tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai và giàu lên
nhanh chóng sau chiến tranh. Mỹ lập ra hàng loạt các tổ chức kinh tế, quân
sự, chính trị như: GATT, IMF, WB, NATO... mở ra thời kỳ chiến tranh lạnh,
chạy đua vũ trang với phe xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô. Năm 1950,
Mỹ can thiệp vào chiến tranh Triều Tiên. Từ cuối thập kỷ 50 của thế kỷ XX,
Mỹ can thiệp sâu vào chiến tranh Việt Nam. Những năm 1965 - 1967, Mỹ
7
đưa gần nửa triệu quân vào miền Nam Việt Nam và ném bom đánh phá miền
Bắc. Năm 1973, bị thất bại, Mỹ buộc phải ký kết Hiệp định Pari chấm dứt
chiến tranh ở Việt Nam.
Năm 1976, Đảng Dân chủ (Tổng thống Cartơ) cầm quyền, năm 1980
Đảng Cộng hòa lên thay (Tổng thống Rigân) đẩy mạnh chạy đua vũ trang,
làm thâm hụt ngân sách. Năm 1993, Đảng Dân chủ thắng cử (Tổng thống
Klintơn) trong hai khố liền, có cơng phục hồi nền kinh tế. Năm 2000, Đảng
Cộng hòa cầm quyền, G. Bus trở thành Tổng thống thứ 43 của Mỹ. Bus thi
hành chính sách cứng rắn, thực hiện mưu đồ bá chủ của Mỹ trên thế giới:
triển khai chiến lược phòng thủ tên lửa quốc gia (NMD), từ sau vụ khủng bố
ngày 11-9-2001, Mỹ đã lợi dụng chiêu bài chống khủng bố, tăng cường can
thiệp chủ quyền các nước: Ápganixtan, Irắc và đe dọa các nước không theo
Mỹ, đẩy thế giới vào thế đối đầu, chạy đua vũ trang.
2.2.2 Vai trò của Tổng thống
Tổng thống Mỹ là một trong những chức vụ có nhiều quyền lực nhất thế
giới. Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia, đứng đầu bộ máy hành pháp,
vừa là tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang.
Về lập pháp, Tổng thống giám sát chặt chẽ quá trình sáng tạo luật, có
quyền triệu tập Quốc hội bất thường, hằng năm gửi thông điệp đến Quốc hội,
đề xuất những văn bản pháp luật (có 30% dự luật là của Tổng thống); quyền
phủ quyết dự luật (từ 1789 - 1989, quyền này được sử dụng 1.421 lần, chỉ có
103 trường hợp Quốc hội vượt qua được quyền phủ quyết này). Quốc hội
không thể buộc Tổng thống trả lời bất cứ vấn đề nào, ngoại trừ đang có lời
buộc tội.
Về hành pháp, Tổng thống có quyền thành lập Chính phủ, bổ nhiệm (với
sự đồng ý của Thượng viện) các Bộ trưởng, Thẩm phán liên bang, hội đồng
8
cố vấn, đại sứ... tất cả khoảng 3.000 chức vụ (nếu kể cả quân đội, cảnh sát,
các cơ quan tình báo thì con số được bổ nhiệm lên đến 75.000 chức vụ). Tổng
thống thường chỉ thay đổi các vị trí then chốt, bộ máy bên dưới ít thay đổi, và
Thượng viện cũng ít khi phủ định sự bổ nhiệm (thực tế mới chỉ có 8 lần).
Tổng thống có quyền chuẩn bị dự án ngân sách, các dự luật tài chính;
ban hành các văn bản lệnh thừa hành, quy tắc, quy chế, kế hoạch cải tổ. Hiện
nay có trên 15.000 lệnh thừa hành đang có hiệu lực.
Là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, Tổng thống có quyền tun bố
tình trạng khẩn cấp trong cả nước hay từng địa phương, có quyền dùng sức
mạnh quân sự lập trật tự.
Về đối ngoại, Tổng thống có quyền thay mặt quốc gia ký kết các hiệp
định với các nước, hoạch định chính sách đối ngoại. Quyền tun bố chiến
tranh và hịa bình thuộc về Quốc hội, nhưng từ khi lập quốc đến nay, Quốc
hội chỉ sử dụng 5 lần, còn Tổng thống sử dụng quyền này trên 200 lần, sau đó
báo cáo Quốc hội.
Về tư pháp, Tổng thống bổ nhiệm các Thẩm phán
Tòa án liên bang, ra lệnh ân xá. Trên thực tế, Tổng thống có quyền lực
nhiều hơn so với quy định của hiến pháp. Tổng thống thường dùng các biện
pháp gây ảnh hưởng của mình trong Quốc hội, quan tâm đến quyền lợi của
các lãnh tụ các nhóm trong Quốc hội, các đảng viên của đảng mình và vận
động sự ủng hộ của dân chúng, nhất là trong việc sử dụng các phương tiện
thông tin đại chúng.
Tuy nhiên, Tổng thống vẫn có thể bị truất quyền, trong trường hợp bị
luận tội. Quy trình như sau: đầu tiên Uỷ ban pháp luật của Hạ viện soạn thảo
công thức buộc tội, Hạ viện xem xét, thông qua, sau chuyển sang Thượng
viện dưới sự chủ tọa của Chánh án Tòa án Tối cao. Nếu đạt 2/3 số phiếu
9
thông qua, Tổng thống bị truất quyền. Trong lịch sử có Giơnsơn, Níchsơn,
Clinton bị khởi tố, Giơnsơn thiếu 1 phiếu để kết tội, Níchsơn phải từ chức,
cịn Clinton khơng đủ số phiếu cần thiết.
2.3 Quyền lực của tổng thống Mỹ
Quyền lực là quyền lực đoạt một công việc quan trọng về mặt chính trị
và sức mạnh để bảo đảm việc thực hiện quyền ấy, Quyền lực được hình thành
với hai yếu tố là quyền và lực, trong đó quyền là điều mà pháp luật hoặc xã
hội công nhận cho được hưởng được làm được đòi hỏi những điều do địa vị
hay chức vụ mà làm được và lực là sức mạnh.
Như vậy, quyền lực đó là sức mạnh được thừa nhận của chủ thể này đối
với chủ thể khác phải thực hiện theo ý chí của mình. Hay nói cách khác quyền
lực là khả năng áp đặt ý chí của một cá nhân, tổ chức, công động lên một cá
nhân, tổ chức, cơng đồng khác. Trong bất kỳ hình thái kinh tế – xã hội nào
cũng có quyền lực.
Quyền lực bản thân nó ban đầu mang tính tự nhiên, được hình thành từ
những bản năng mang tính sinh vật trong quá trình đấu tranh để sinh tồn và
phát triển. Sau này, do nhu cầu của việc quản lý và kiểm soát các hoạt động
chung để phối hợp các thành viên trong xã hội với nhau mà quyền lực tiếp tục
nảy sinh theo những cách khác nhau.
Là cường quốc kinh tế, quân sự, chính trị số một thế giới, Tổng
thống Mỹ vì thế cũng được cho là một trong những lãnh đạo quyền lực
nhất thế giới. Chỉ vài giờ nữa, danh tính nhân vật này sẽ được xướng lên.
Vậy theo Hiến pháp, Tổng thống Mỹ có quyền lực gì?
Theo Hiến pháp Mỹ, tân Tổng thống sẽ nhậm chức vào trưa ngày 20/1
của năm sau năm bầu cử; nhiệm kỳ của Tổng thống cũ cũng chấm dứt vào
10
thời điểm đó. Lễ nhậm chức Tổng thống được tiến hành tại Nhà Trắng ở thủ
đô Washington.
Mỗi nhiệm kỳ Tổng thống Mỹ kéo dài 4 năm, và theo điều bổ sung sửa
đổi Hiến pháp được thông qua ngày 27/2/1951, mỗi Tổng thống chỉ có thể
được đảm nhiệm chức vụ này không quá hai nhiệm kỳ, hoặc quá một lần nếu
đã có hơn nửa nhiệm kỳ thay thế hoặc làm quyền tổng thống.. Trên thực tế
trước khi có quy định này, trong lịch sử Mỹ chỉ có một người đắc cử Tổng
thống 3 nhiệm kỳ liền là Franklin Roosevelt làm Tổng thống 12 năm liên tiếp
từ 1933 đến 1945; 4 người đắc cử 2 nhiệm kỳ là Dwight D.Eisenhower (19521959), Richard Nixon (1969-1975), Ronald Reagan (1980-1987), Bill Clinton
(1992-2001), George Walker Bush (2001-2009).
2.3.1.Quyền trong lĩnh vực hành pháp
Về nguyên tắc, Nhà nước Mỹ được tổ chức theo học thuyết "Tam quyền
phân lập": quyền lực nhà nước phân thành 3 nhánh rõ rệt (lập - hành - tư
pháp) trong cơ chế kiểm soát và đối trọng lẫn nhau. Tuy nhiên, do nhu cầu
phức tạp của việc điều hành, quản lý một siêu cường quốc, quyền hành pháp
ngày càng chiếm ưu thế tuyệt đối so với quyền lập pháp và tư pháp trong cơ
cấu quyền lực nhà nước Mỹ. Vai trò của Tổng thống vì thế trở nên đặc biệt
quan trọng với sự uỷ thác trọn vẹn của Hiến pháp: "Quyền hành pháp được
trao cho vị Tổng thống Hợp chủng quốc Mỹ" (Khoản 1 Điều II). Trên cơ sở
vững chắc đó, Tổng thống thể hiện những quyền hạn và hoạt động hành pháp
chủ yếu sau:
(1). Trực tiếp lãnh đạo ngành hành pháp, toàn quyền thực thi những
chính sách, luật lệ do Quốc hội thơng qua, trên phạm vi toản liên bang.
(2). Đề ra và quyết định các cơ cấu tổ chức, hoạt động của nền hành
chính quốc gia.
11
(3). Lãnh đạo và quản lý chung tất cả các bộ cùng rất nhiều cơ quan, uỷ
ban liên bang và đội ngũ quan chức dân sự. Hiện nay, Tổng thống Mỹ thống
quản 16 bộ ngành hành pháp, hàng trăm cơ quan, uỷ ban liên bang và gần
800.000 quan chức dân sự.
(4). Sử dụng rộng rãi và mạnh mẽ quyền lập quy bằng việc ban hành rất
nhiều văn bản để hoạch định chính sách, thực thi pháp luật và điều hành, quản
lý quốc gia. Các loại văn bản phổ biến nhất là sắc lệnh (decree), lệnh hành pháp
(executive order) và chỉ thị (presidential directive) - chúng ngày càng thông
dụng và chiếm ưu thế hơn so với những đạo luật, nghị quyết của Quốc hội.
(5). Đề cử và bổ nhiệm những thành viên Nội các, những chức vụ chính
trị quan trọng khác trong Chính phủ, những vị trí cơng chức hành chính quan
trọng trong bộ máy hành pháp liên bang, những quan chức cao cấp của các bộ
ngành. Tuy nhiên, sự bổ nhiệm của Tổng thống cần phải được Thượng viện
phê chuẩn' nên có thể sẽ khó sn sẻ nếu đảng đối lập có đa số nghị sĩ trong
Thượng viện. Tổng thống đôi khi né tránh sự chấp thuận của Thượng viện
bằng cách sử dụng phương thức "bổ nhiệm trong kỳ nghỉ" - tức là đưa ra
quyết định bổ nhiệm khi Thượng viện đã ngưng họp (sự bổ nhiệm trong kỳ
nghỉ có hiệu lực cho đến đầu phiên họp khoá sau của Thượng viện, ví dụ: một
người được bổ nhiệm vào năm 2008 có thể giữ chức đến cuối năm 2009).
Tổng thống cũng sử dụng một phương thức khác nữa để né tránh sự xác nhận
của Thượng viện, đó là việc bổ nhiệm các quan chức với tư cách "tạm quyền".
Chẳng hạn, năm 1998, 20% vị trí trong Chính phủ địi hỏi phải có sự chấp
thuận của Thượng viện (64 trong số 320 vị trí trống) đã được những nhân vật
"tạm quyền" nắm giữ. Bất mãn trước thực tế đó, Thượng viện đã đề xuất và
thơng qua Đạo luật Các vị trí bỏ ngỏ năm 1998. Đạo luật này xác nhận các
ứng viên dựa "theo ý kiến (xem xét, cố vấn) và được sự chấp thuận (thông
qua, phê chuẩn) của Thượng viện", và họ có thể được phép của Thượng viện
12
giữ chức trên cơ sở "tạm quyền", nhưng bị Thượng viện giới hạn về mặt thời
gian nhiệm kỳ.
(6). Toàn quyền bãi miễn những quan chức của Chính phủ nếu họ khơng
hồn thành nhiệm vụ, mắc sai lầm, gây thiệt hại nghiêm trọng trong công
việc... Nếu như sự đề cử và bổ nhiệm quan chức hành pháp cao cấp cần phải
được Thượng viện xem xét, thơng qua thì sự bãi miễn không chịu bất cứ sự
can thiệp nào của Thượng viện hoặc cả hai Viện của Quốc hội.
Khó thể liệt kê hết những quyền hạn cụ thể của Tổng thống Mỹ trong
lĩnh vực hành pháp rộng lớn và phức tạp. Tuy vậy, điều rất dễ nhận thấy là
những quyền hạn đó tạo nên phần cơ bản nhất của quyền lực tổng thống,
chúng ngày càng được tăng cường và giúp Tổng thống kiềm chế hữu hiệu đối
với hệ thống cơ quan lập pháp, tư pháp. Việc sử dụng khéo léo quyền hành
pháp còn khiến Tổng thống nâng cao được vị thế cá nhân mình và hoạt động
sn sẻ, thuận lợi hơn. Ví dụ, các đạo luật hiện đại cho phép Tổng thống ấn
định hợp đồng và lựa chọn địa điểm xây dựng những cơ sở của Chính phủ;
Tổng thống dùng quyền này để gây sức ép với các thành viên của những uỷ
ban và tiểu ban quan trọng có liên quan tới quốc phòng thường được Tổng
thống cho phép xây dựng các cơ sở quốc phịng ở khu vực mình để đổi lấy sự
ủng hộ của họ về những yêu cầu quân sự.
2.3.2. Quyền trong lĩnh vực lập pháp
Dù không thuộc ngành lập pháp, không nắm giữ quyền lập pháp nhưng
Tổng thống Mỹ vẫn có nhiều quyền hạn quan trọng trong lĩnh vực này.
2.3.2.1. Công bố luật
Tổng thống với tư cách nguyên thủ quốc gia - là người duy nhất thay
mặt Nhà nước công bố với nhân dân những đạo luật mà Quốc hội thông qua.
13
Chỉ khi được Tổng thống công bố, những đạo luật đó mới được ban hành và
mới bắt đầu có hiệu lực, giá trị thực thi.
2.3.2.2. Sáng quyền lập pháp
Sáng quyền lập pháp (quyền sáng kiến về lập pháp) là sáng kiến đề nghị
luật. Trong bất cứ một thể chế chính trị nào, sáng quyền lập pháp luôn là một
phương tiện tạo ảnh hưởng có hiệu quả của cơ quan hành pháp đối với cơ
quan lập pháp. Với chế độ tổng thống Mỹ, Hiến pháp trao cho Quốc hội chức
năng lập pháp và không quy định rõ ràng cho Tổng thống sáng quyền đó.
Việc quy định như vậy nhằm mục đích biểu hiện sự phân quyền tuyệt đối của
chính thể, đồng thời cũng để nâng cao vai trị đích thực của Quốc hội trong
lĩnh vực lập pháp vốn đã được Hiến pháp phân chia. Nhưng thực tế, Tổng
thống vẫn có quyền hạn rất lớn trong lĩnh vực này. Tổng thống dù khơng
thuộc ngành lập pháp nhưng vẫn đóng một vai trị ngày càng quan trọng trong
tiến trình lập pháp. Cả Tổng thống lẫn nhiều bộ phận hành pháp đều có quyền
thơng qua, ban hành những văn bản pháp lý. Quyền đó hoặc là "được suy
diễn", được biến thái từ quyền hạn của Tổng thống, hoặc là được Quốc hội uỷ
thác (trao lại) cho Tổng thống. Nếu như trong thế kỷ XIX, người ta có xu
hướng coi vai trị của ngành hành pháp Mỹ là thực thi những luật mà Quốc
hội lập ra và thơng qua, thì từ đầu thế kỷ XX đến nay, người ta lại thường
mong đợi người đứng đầu hành pháp có chương trình và cách thức thúc đẩy
các nhà lập pháp thông qua những đạo luật. Khoản 3 Điều II Hiến pháp quy
định: "Tổng thống sẽ thông báo thường kỳ cho Quốc hội về tình hình của liên
bang và đề nghị Quốc hội xem xét những biện pháp mà Tổng thống thấy cần
thiết và thích hợp". Như vậy, Tổng thống có quyền cung cấp thơng tin và thực
hiện những biện pháp thích hợp để tác động hoặc trợ giúp Quốc hội trong tiến
trình lập pháp. Hai sáng quyền lập pháp quan trọng của Tổng thống Mỹ là gửi
thông điệp cho Quốc hội' và sáng kiến về luật ngân sách.
14
(1). Quyền gửi thơng điệp cho Quốc hội: Có tới gần một nửa số dự luật
tại Quốc hội Mỹ do Tổng thống đề nghị qua các thông điệp gửi cho Quốc hội.
Hành vi Tổng thống gửi thông điệp cho Quốc hội thể hiện rõ nét vừa như một
quyền vừa như một nghĩa vụ. Nếu coi là quyền thì Tổng thống có thể thực
hiện mà khơng bị ràng buộc bởi một chế tài nào và có thể xem đây là phương
tiện để Tổng thống thuyết phục Quốc hội hoặc một hình thức sáng quyền lập
pháp. Nếu coi đây là nghĩa vụ thì động lực thúc đẩy Tổng thống thực hiện
nghĩa vụ này là bắt nguồn từ trách nhiệm, và mục đích của hành vi là tránh
phản ứng bất lợi về sau của Quốc hội chứ không phải là tạo cơ hội ủng hộ,
cảm thơng nhằm thơng qua nhanh chóng các dự luật.
Trong trường hợp Tổng thống đích thân đọc thơng điệp thì mục đích của
thơng điệp khi đó khơng chỉ thơng báo tình hình trong nước và quốc tế, mà
cịn nhằm sửa đổi những đạo luật cũ hoặc kiến tạo những đạo luật mới điều
chỉnh lĩnh vực liên quan tới đời sống toàn dân và phù hợp với nhu cầu chung.
Chẳng hạn, năm 1946, nhân cuộc đình cơng của cơng nhân ngành tàu hoả,
Tổng thống Truman đã thành công trong việc đích thân ra trước Quốc hội u
cầu thơng qua ngay một đạo luật để Tổng thống có quyền kiểm sốt việc đình
cơng. Sau này, các Tổng thống Kennedy và L.Johnson sử dụng các kỹ thuật
hiến định đó để đề nghị với Quốc hội nhiều biện pháp cần thiết. Hình thức
này thu hút sự chú ý, quan tâm đặc biệt của quần chúng. Mặc dù việc sử dụng
thơng điệp có tác dụng tạo ưu thế cho ngành hành pháp trong nhiều trường
hợp nhưng đôi lúc kỹ thuật này thất bại - nhất là khi Tổng thống không được
sự ủng hộ của đa số nghị sĩ trong Quốc hội.
Tổng thống cũng có thể sử dụng phương thức "đề nghị luật qua đảng
viên đảng cầm quyền": dự thảo nhiều dự luật rồi trao cho nghị sĩ thuộc đảng
mình để trình trước Quốc hội. Các Tổng thống Wilson, F. D. Roosevelt,
Truman đã sử dụng hiệu quả phương thức này. Nhiều người cho rằng Tổng
15
thống được coi là động lực của Quốc hội và phần lớn những dự luật đều có
nguồn gốc ở Tổng thống.
(2). Quyền sáng kiến về luật ngân sách Tổng thống, với tư cách là người
đứng đầu hành pháp, có trách nhiệm soạn thảo và trình trước Quốc hội dự án
ngân sách liên bang, trong đó định những khoản chi tiêu cần thiết cho các bộ
phận thuộc hành pháp. Ở một mức độ nào đó, chương trình ngân sách nhà
nước cũng là một đạo luật - chỉ khác với các đạo luật bình thường ở chỗ nó có
sức sống 1 năm. Quyền sáng kiến về luật ngân sách của Tổng thống là một
phương tiện quan trọng hoạch định chính sách quốc gia. Việc soạn thảo đạo
luật ngân sách có thể coi là một đặc quyền của Tổng thống và ngành hành
pháp. Chỉ cơ quan hành pháp mới đủ khả năng nắm rõ mọi nhu cầu và tài
nguyên, tiềm lực quốc gia. Hơn nữa, ngân sách không chỉ là một phương tiện
điều hành hoạt động bộ máy nhà nước mà còn là một phương tiện để điều hoà
sinh hoạt kinh tế xã hội, là yếu tố cần thiết cho chính sách kinh tế xã hội của
Chính phủ. Đạo luật ngân sách liên bang thể hiện chương trình hoạt động của
Chính phủ.
Đứng đầu hành pháp, Tổng thống Mỹ - theo luật định - là người chịu
trách nhiệm chính trước cơ quan lập pháp về vấn đề xây dựng (tạo lập) và
chấp hành (thực hiện) ngân sách liên bang. Do vậy, Tổng thống thành lập, chỉ
đạo Văn phòng Quản lý và Ngân sách (nằm trong Văn phòng Điều hành của
Tổng thống). Thủ trưởng các bộ, ngành - kể cả Bộ Tài chính - chỉ phải chịu
trách nhiệm trước Quốc hội trong phạm vi thẩm quyền quy định theo Hiến
pháp, tức là chỉ phải chịu trách nhiệm về số kinh phí ngân sách dự trù cho
hoạt động của cơ quan mình trong khn khổ dự án ngân sách hành chính do
Tổng thống trình Quốc hội. Nhiệm vụ chính của những cơ quan này là soạn
thảo ngân sách quốc gia rồi trình Tổng thống xem xét. Sau khi Tổng thống
phê chuẩn, dự luật ngân sách được chuyển cho Quốc hội thông qua. Như vậy,
16
sáng kiến luật trong lĩnh vực tài chính - ngân sách thực sự được chuyển vào
tay Tổng thống.
2.3.2.3. Triệu tập kỳ họp Quốc hội bất thường
Khoản 3 Điều II Hiến pháp Mỹ quy định: "Trong trường hợp cần thiết,
Tổng thống có quyền triệu tập hai Viện hoặc một trong hai Viện. Trong
trường hợp bất đồng giữa hai Viện về thời gian hoãn họp, Tổng thống sẽ
quyết định về thời gian cuộc họp sẽ hoãn đến bao giờ mà Tổng thống cho là
thích hợp". Như vậy, bên cạnh việc quy định các kỳ họp thường lệ, Hiến pháp
cũng ghi nhận những kỳ họp bất thường nhằm dự liệu giải quyết các vấn đề
xảy ra trong hoàn cảnh đặc biệt. Đây là lúc Tổng thống cần phải tiếp xúc với
Quốc hội để cùng giải quyết những vấn đề trọng đại có liên quan đến sự hưng
vong của đất nước. Với vai trò nguyên thủ quốc gia, đứng đầu hành pháp và
thống lĩnh các lực lượng vũ trang, trong những hoàn cảnh phức tạp thì vị thế
đặc biệt của Tổng thống cho phép dễ dàng giải quyết một số vấn đề mà trước
đó đã vấp phải trở lực lớn lao từ phía cơ quan lập pháp, đảng phái cũng như
các nhóm áp lực khác. Các kỳ họp bất thường, nhìn bề ngồi, người ta cảm
tưởng đó là sự hợp tác thuần túy giữa hai cơ quan lập pháp và hành pháp, bởi
lẽ một kỳ họp bất thường khơng có ý nghĩa nào khác hơn là sự "cần thiết" gặp
nhau giữa hai cơ quan để ứng phó với tình thế mới hoặc trong một tình thế
đặc biệt của đất nước. Nhưng thực tế thì đằng sau ý nghĩa đó cịn có ngầm ý
của Tổng thống muốn tác động đến Quốc hội một cách khéo léo để đạt được
mục đích của mình. Chính vì vậy, mỗi kỳ họp bất thường đều có thể mang ý
nghĩa, sắc thái khác nhau qua tác dụng và mục đích của nó.
2.3.2.4. Bổ nhiệm ghế thượng nghị sĩ tạm thời bỏ trống
Khoản 2 Điều II Hiến pháp Mỹ quy định: "Tổng thống sẽ có quyền bo
sung vào những chỗ trống có thể xảy ra trong thời gian giữa hai kỳ họp của
Thượng viện bằng cách cấp giấy uỷ nhiệm có thời hạn đến cuối kỳ họp sau
17
của Thượng viện". Quyền bổ nhiệm này giúp Tổng thống có thể ít nhiều thay
đổi tỷ lệ nghị sĩ trong Thượng viện theo hướng có lợi cho mình và đảng cầm
quyền.
2.3.2.5. Phủ quyết
Một quyền hạn tổng thống Mỹ có ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực lập pháp
là sự phủ quyết, theo đó, Tổng thống có thể chấp thuận hoặc khơng chấp
thuận (bằng phủ quyết) những dự luật đã được Quốc hội thông qua. Quyền
phủ quyết (veto – nghĩa gốc Latinh là “tôi cấm”) được trang bị cho Tổng
thống với ba ý nghĩa: (1) là một phương thức để Tổng thống bảo vệ Hiến
pháp; (2) là một công cụ đắc lực để chống lại sự vội vàng và độc đoán của
Quốc hội trong lĩnh vực lập pháp; và (3) là một phương tiện hữu hiệu để bảo
vệ chính sách quốc gia do Tổng thống hoạch định. Như vậy, quyền phủ quyết
không đơn thuần chỉ là quyền từ chối. Tổng thống cũng có thể sử dụng nó để
đề xuất những mục tiêu chính sách của mình, ví dụ, những đe doạ phủ quyết
thường thúc đẩy các uỷ ban và các nhà lập pháp điều chỉnh cho phù hợp với
những đề nghị và mục tiêu của ngành hành pháp. Các Tổng thống còn thử áp
dụng cái gọi là "chính trị phân biệt" trong việc sử dụng quyền phủ quyết: một
cuộc chiến phủ quyết với Quốc hội có thể sẽ giúp cho Tổng thống nhấn mạnh
vấn đề với cử tri về sự khác nhau giữa quan điểm của mình, của đảng cầm
quyền với điểm của đảng đối lập. quan
Theo Khoản 7 Điều I Hiến pháp Mỹ, tất cả những dự luật do Quốc hội
thông qua, trước khi được ban hành (trở thành đạo luật) phải đệ trình lên
Tổng thống. Trong vịng 10 ngày (khơng kể Chủ nhật), nếu đồng ý, Tổng
thống sẽ ký công bố dự luật đó (thực tế cho thấy đa số dự luật sẽ được Tổng
thống phê chuẩn và Tổng thống thỉnh thoảng cho cơng bố "một bản tường
trình về sự phê chuẩn của mình", trong đó có giải thích những quy định của
các đạo luật mới này). Nếu không đồng ý, Tổng thống sẽ phủ quyết - gửi trả
18