Tải bản đầy đủ (.pdf) (115 trang)

Giáo trình lịch sử văn minh thế giới 2

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (835.57 KB, 115 trang )

GIÁO TRÌNH
LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI 2


LỊCH SỬ VĂN MINH II
MỤC LỤC

CHƯƠNG 1. NƯỚC NGA THỜI KỲ TRUNG ĐẠI ........................................... 3
1.1. Chính sách bành trướng cúa nước nga dưới thời các Sa hoàng ............... 3
1.1.1. Sự cần thiết của sự phục hưng............................................................ 3
1.1.2. Những kiểu hình bành trướng ............................................................ 5
1.1.3. Sự tiếp xúc của phương tây và chính sách của nhà Romanov ........... 6
1.2. Sự Tây phương hóa lần thứ nhất của Nga 1690-1790.............................. 8
1.2.1. Chuyên chính Sa hồng của Peter Đại Đế ......................................... 8
1.2.2. Sự củng cố dưới thời Catherine Đại Đế ............................................. 9
1.2.3. Catherine Đại Đế ................................................................................ 9
CHƯƠNG 2. CHÂU MỸ LATINH BUỔI BAN ĐẦU ...................................... 13
2.1. Người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha: từ tái chinh phục đến chinh phục13
2.2. Những nền kinh tế và chính quyền thuộc địa ......................................... 16
2.2.1. Nơng trại và làng .............................................................................. 16
2.2.2. Công nghiệp và thuơng mại ............................................................. 16
2.3. Các xã hội đa chủng tộc.......................................................................... 18
CHƯƠNG 3. CHÂU PHI VÀ NGƯỜI CHÂU PHI TRONG THỜI KỲ MUA
BÁN NÔ LỆ ĐẠI TÂY DƯƠNG ....................................................................... 22
3.1. Châu Phi và sự hình thành hệ thống Đại Tây Dương............................. 22
3.2. Các xã hội Châu Phi, chế độ chiếm hữu nô lệ và việc mua bán nô lệ.... 26
3.2.1. Asante và Dahomey ......................................................................... 27
3.2.2. Đông Phi va Sudan ........................................................................... 30
3.3. Những người định cư da trắng và người châu phi ở Nam Phi ............... 33
CHƯƠNG 4. CÁC ĐẾ QUỐC HỒI GIÁO ....................................................... 37
CHƯƠNG 5. SỰ THAY ĐỔI CỦA CÁC NƯỚC CHÂU Á TRONG THỜI


ĐẠI TỒN CẦU ................................................................................................ 45
5.1. Q trình giao lưu buôn bán của các nước Phương Tây đến với châu Á 45
5.2. Tình hình Trung Quốc, Nhật Bản trước sự xâm nhập của các nước
phương Tây ..................................................................................................... 47
CHƯƠNG 6. CÁC CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP Ở PHƯƠNG TÂY
(1750 - 1914) ....................................................................................................... 51
6.1. Một số cuộc cách mạng công nghiệp ở phương Tây ............................... 51
6.2. Những biến đổi về kinh tế, xã hội và văn hóa ở phương Tây trong thời kỳ
cơng nghiệp hóa .............................................................................................. 52
CHƯƠNG 7. CHÂU MỸ LA TINH (1830 - 1930)............................................ 58
7.1. Cuộc đấu tranh giành độc lập ở các nước châu Mỹ La Tinh ................... 58
7.2. Nền kinh tế châu Mỹ La Tinh và thị trường thế giới ............................... 60
CHƯƠNG 8. CÁC NƯỚC CƠNG NGHIỆP HĨA Ở CHÂU Á....................... 69
8.1. Nhật Bản ................................................................................................... 69
8.2. Nga ........................................................................................................... 71
1


CHƯƠNG 9. CHIẾN TRANH THẾ GIỚI VÀ SỰ PHÁ HOẠI NỀN VĂN
MINH .................................................................................................................. 75
9.2. Sự bùng nổ của chiến tranh ...................................................................... 77
9.3. Đại suy thối tồn cầu .............................................................................. 79
CHƯƠNG 10. CUỘC CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC TIÊU BIỂU Ở
CHÂU PHI VÀ CHÂU Á ................................................................................... 80
10.1. Các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở châu Phi .............................. 80
10.2. Các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở châu Á ................................ 85
CHƯƠNG 11. SỰ HỒI SINH CỦA CÁCH QUỐC GIA ĐÔNG Á SAU
CHIẾN TRANH THẾ GIỚI................................................................................ 90
11.1.Nhật Bản .................................................................................................. 90
11.2. Trung Quốc ............................................................................................ 91

11.3. Hàn Quốc................................................................................................ 92
11.4. Đài Loan ................................................................................................. 96
CHƯƠNG 12. CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VÀ GIÀNH ĐỘC
LẬP Ở VIỆT NAM. ............................................................................................ 98
12.1. Giai đoạn kháng chiến chống Pháp ........................................................ 98
12.2. Giai đoạn kháng chiến chống Mỹ ........................................................ 103
12.3. Việt Nam xây dựng đất nước ............................................................... 104
CHƯƠNG 13. Q TRÌNH TỒN CẦU HĨA TRÊN THẾ GIỚI .............. 110
13.1. Sự thay đổi trật tự thế giới sau chiến tranh lạnh .................................. 110
13.2.Ảnh hưởng của tồn cầu hóa đến một số lĩnh vực trên thế giới ........... 111

2


CHƯƠNG 1.
NƯỚC NGA THỜI KỲ TRUNG ĐẠI
I. Mục tiêu
1.Kiến thức:
Cung cấp cho sinh viên những kiến thức về Chính sách bành trướng của nước Nga
dưới thời kỳ Sa Hoàng và ảnh hưởng của phương Tây đến nước Nga (1690 – 1790)
2. Kỹ năng:
+ Sinh viên sẽ được rèn luyện phương pháp nghiên cứu đa ngành và liên ngành
trong nghiên cứu lịch sử văn minh thế giới
+ Thơng qua các hình thức như thảo luận, làm việc theo nhóm, sinh viên cũng được
rèn luyện kỹ năng trình bày vấn đề, làm việc theo nhóm.
II.Hình thức và phương pháp dạy - học
- Trình chiếu Power Point, sử dụng hình ảnh sinh động để minh họa giúp sinh
viên nắm nội dung chính của bài.
- Thơng qua hình thức thuyết trình, vấn đáp để giảng viên kiểm tra đánh giá
mức độ hiểu bài, củng cố nội dung cơ bản của bài giảng và khả năng vận dụng vào

thực tế của sinh viên
III. Nội dung chi tiết:
1.1. Chính sách bành trướng cúa nước nga dưới thời các Sa hoàng
1.1.1.

Sự cần thiết của sự phục hưng

Vào khoảng giữa thế kỷ 14, quyền lực của quân Mông Cổ bắt đầu suy giảm và
các Đại công tước cảm thấy có thể cơng khai vùng lên phá tan xiềng xích của qn
Mơng Cổ. Vào năm 1380, tại Kulikovo trên sông Đông, quân xâm lược Mông Cổ đã bị
đánh tan tác, và mặc dù chiến thắng nhọc nhằn này không chấm dứt được ách thống trị
của người Tatar đối với Nga, nhưng nó đã đem lại danh tiếng lớn cho Đại cơng
tước Dmitry Ivanovich Donskoy. Vai trị thủ lĩnh của Moskva tại Nga bấy giờ đã được

3


thiết lập vững chắc và vào giữa thế kỷ 14 lãnh thổ của nó đã được mở rộng ra nhiều
thơng qua mua bán, chiến tranh và hôn nhân.
Trong thế kỷ 15, các đại công tước Moskva tiến hành tập hợp các vùng đất Nga
để tăng dân cư và tài sản dưới sự cai trị của họ. Người thi hành thành cơng nhất chính
sách này là Ivan III, người đặt nền móng cho nhà nước dân tộc Nga. Ivan cạnh tranh
cùng kẻ thù hùng mạnh ở phía tây bắc là Đại cơng quốc Litva để giành quyền kiểm
sốt một số cơng quốc Thượng Oka bán độc lập ở vùng thượng nguồn sông
Dnepr vàsông Oka. Thông qua li khai của một số công tước, các cuộc giao tranh biên
giới và cuộc chiến tranh kéo dài với Cộng hòa Novgorod, Ivan III đã có thể sáp nhập
cả Novgorod lẫn Tver. Kết quả là Đại cơng quốc Moskva đã tăng ba về diện tích dưới
thời của ông. Trong cuộc giao tranh của ông với công quốc Pskov, một giáo sĩ tên
là Filofei (Philotheus của Pskov) đã viết một bức thư gửi tới Ivan III, với lời tiên tri
rằng công quốc này sẽ trở thành Đệ Tam La Mã. Không những thế, vào năm 1453,

Sultan Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman là Mehmed II xua quân đánh thành Constantinopolis, phá
được thành Đệ Nhị La Mã này. Việc vị Hịang đế Ki-tơ giáo Chính Thống Hy Lạp cuối
cùng hy sinh trong trận đánh này đã góp phần vào ý tưởng mới về Moskva như là "Tân
La Mã" và là nơi của Ki-tơ giáo chính thống.
Để tuyển mộ lính, các Sa hoàng bắt đầu ban phát quyền thừa kế lãnh thổ cho các
quí tộc quân sự, quyền này bao gồm quyền kiểm sốt chặt chẽ đối với những nơng nơ
trên đất của họ. Tình trạng khốn khổ khiến cho nhiều nông nô chạy trốn đến những
vùng biên giới, với hai hệ quả: Thứ nhất, các qui định về việc giữ lại các nông nô được
siết chặt, để buộc chặt họ vào đất đai vì sợ rằng sẽ có một sự thiếu hụt lao động
nghiêm trọng. Điều này đã khởi động cho một kiểu hình của những hạn chế đối với
nông nô, trái ngược lại với những khuynh hướng ở Tây Âu vào thời kỳ đó, nơi mà thân
phận nơng nô dễ chịu hơn. Tuy nhiên, các nông dân chạy trốn, giúp cung cấp cả sức cơ
bắp cho quân sự và lao động cho sự bành trướng thêm nữa của Nga, ví dụ, bành trướng
vào Siberia. Các thuộc địa Cossack, được hình thành từ những nơng dân đấu tranh
giành độc lập, giữ một vai trị lớn trong thảnh cơng của ngưởi Nga.
Sức mạnh của các địa chủ quí tộc, được gọi là boyar, cũng đã dẫn đến những
xung đột với những yêu sách của các Sa hoàng: Họ muốn cai trị mà không chịu sự can

4


thiệp. Những xung đột này rải rác trong lịch sử Nga trong thế kỷ 16 và 17, trước khi
các quí tộc sau củng bị tước quyền. Kiểu hình này, cùng với những áp lực sâu xa và
bền bỉ trên các nơng nơ, đả định hình những phát triển then chốt ở Nga, thậm chí là
vượt ra ngồi những thế kỷ đầu của thởi hiện đại.
Sự phát triển quyền lực tuyệt đối của Sa hoàng lên tới đỉnh điểm trong thời kỳ
cầm quyền (1547–1584) của Ivan IV ("Ivan Bạo chúa"). Ông tăng cường vị trí quyền
lực của mình tới một mức độ chưa từng có trước đó, bằng cách thẳng tay sắp xếp giới
quý tộc theo ý thích, trục xuất hay hành quyết nhiều người chỉ vì những tội lỗi nhỏ
nhất. Tuy nhiên, Ivan thường được coi là một nhà lãnh đạo có tầm nhìn, người đã cải

cách nước Nga khi đưa ra một bộ luật mới (Sudebnik năm 1550), thiết lập cơ quan đại
diện chính quyền phong kiến đầu tiên của Nga (Hội nghị hội đồng tự quản địa
phương), cắt giảm ảnh hưởng của giới tăng lữ, và lập ra cơ quan tự quản cấp vùng tại
các khu vực nông thôn. Những cuộc chinh phục của ông rất thành công, tuy nhiên, và
cũng có những thành tựu quan trọng khác như việc đưa kỹ thuật in vào nước Nga.
1.1.2.

Những kiểu hình bành trướng

Sự tạo thành một đế quốc đất đai rộng lớn của Nga khiến cho nó vào một tầm
quan trọng trong lịch sử thế giới, sau cùng đã có tác động trực tiếp đến Châu Âu, Đông
Á và Trung Á. Chính sách bành trướng lãnh thổ được tạo động cơ bởi một mong muốn
để đẩy lùi các lãnh chúa Mông Cổ ra xa hơn. Nga là một đất nước của những đồng
bằng rộng lớn, với ít rào cản tự nhiên đối với sự xâm lược. Các Sa hoàng ban đầu đã
chuyển bất lợi này thành lợi thế bằng cách tiên về phía Nam, hướng về biển Caspian;
họ cũng di chuyển về phía Đơng tiến vào dãy núi Ural và bên ngoài. Cả Ivan III và
Ivan IV đã tuyển mộ nông dân để di cư đến những vùng đất mới chiếm được. Đặc biệt
là ở phía Nam, và những nỗ lực để chạy thốt khỏi thân phận nơng nơ đã cung cấp một
yếu tố kích thích khác. Những nơng dân phiêu lưu này, hay Cossacks, là những người
Nga đi tiên phong, kết hợp nơng nghiệp với những chiến tích qn sự gan dạ trên lưng
ngựa. Các lãnh thổ bành trướng từ lâu có một chất lượng biên giđi thơ sơ, chỉ dần dần
ổn định với sự quản lý thưởng trực hơn. Tinh thần Cossack cung cấp những người tình
nguyện cho việc bành trướng thêm nữa, vì nhiều người tiên phong - giống như những
người tiên phong ở châu Mỹ vào thế kỷ 19 - bực bội dưới sự kiểm soát chi li của Sa

5


hồng và nóng lịng muốn di chuyển đến những khu định cư mới. Trong thế kỷ 16,
người Cossack không chỉ chinh phục khu vực biển Caspian mà còn di chuyển vào

vùng Tây Siberia, băng qua dãy Ural, bắt đầu kiểm soát và định cư dần dần ở những
đồng bằng rộng lớn mà lúc ban đầu chỉ có những dân tộc du mục châu Á cư ngụ thưa
thớt .
Sự bành trướng cũng cho phép các Sa hoàng tiếp tục thưởng cho những quí tộc
và quan lại trung thành bằng cách ban cho họ những điền trang ở các lãnh thổ mới.
Cách làm này tạo ra những khu vực nông nghiệp và những nguồn lao động mới; nước
Nga đã sử dụng nô lệ cho một số loại công việc sản xuất vào thế kỷ 18. Mặc dầu Nga
không bao giờ phụ thuộc vào việc bành trướng để kiểm soát xã hội và tiến bộ kinh tế
như đế quốc La Mã và đế quốc Ottoman, chắc chắn nó đã có nhiều lý do để tiếp tục
chính sách này. Nga cũng đã tạo ra những liên kết mậu dịch với những lãnh thổ châu
Á mới của mình và những lãnh thổ lân cận.
1.1.3.

Sự tiếp xúc của phương tây và chính sách của nhà Romanov

Cùng với sự bành trướng và cưỡng chế thực thi quyền lực tối cao của chế độ Sa
hoàng, những Sa hoàng ban đầu đã bổ sung một yếu tố vào cách tiếp cận chung của
họ: quản lý thận trọng những tiếp xúc với Tây Âu, các Sa hoàng nhận thức rằng sự phụ
thuộc về văn hóa và kinh tế vào người Mông Cổ đã đặt họ vào một bất lợi về thương
mại và văn hóa. Ivan III nóng lịng khởi động những sứ mệnh ngoại giao với các nhà
nước hàng đầu phương Tây. Trong thời gian trị vì của Ivan IV, các thương nhân Anh
thiết lập những tiếp xúc mậu dịch với Nga, bán những sản phẩm chế tạo để trao đổi với
lông thú và những nguyên liệu khác. Không lâu sau, các thương nhân phướng Tây đã
thiết lập những tiền đồn ở Moscow và các trung tâm khác của Nga. Các Sa hoàng cũng
tuyển mộ và đưa về nước các nghệ nhân và kiến trúc sư Ý để thiết kế những tịa nhà
thờ và cung điện hồng gia hồnh tráng ở Kremlin, Moscow. Các kiến trúc sư nước
ngoài đã cải tiến những phong cách phục hưng, có tính đến những truyền thống xây
dựng Nga, tạo ra những mái vòm trang trí dạng củ hành trở thành đặc trưng của những
nhà thờ Nga (và một số nhà thờ Đông Âu khác) và tạo ra một hình thức phân biệt với
hình thức cổ điển. Một truyền thống nhìn về phương Tây, đặc biệt là đối với những


6


huy biểu tượng nghệ thuật và địa vị của tầng lớp trên, đã bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ
16, cùng với một sự dựa dẫm một phần vào sáng kiến thương mại của phương Tây.
Ivan IV chết mà không có người thừa kế, điều này dẫn đến một số yêu sách
quyền lực của các quí tộc - thời kỳ rối ren (1604-1613) khi các quí tộc cạnh tranh
quyền lực với nhau - cùng với những cuộc tấn công của người Thụy Điển và Ba Lan
vào lãnh thổ Nga. Tháng 2 năm 1613, khi sự hỗn loạn đã chấm dứt và người Ba Lan đã
bị đẩy lui khỏi Moskva, một đại hội đồng, gồm các đại diện từ năm mươi thành phố và
thậm chí cả một số nơng dân đã bầu Mikhail Romanov, con trai củađại giáo chủ
Filaret, lên ngôi báu. Nhà Romanov cai trị nước Nga tới tận năm 1917.
Nhiệm vụ trước mắt của triều đại mới là tái lập hồ bình. May cho Moskva,
những kẻ thù chính của họ là Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva và Thuỵ
Điển đang lao vào những cuộc xung đột với nhau, đưa lại cho nước Nga cơ hội tái lập
hồ bình với vua Thuỵ Điển năm 1617 và ký một hiệp ước hồ bình với Vương quốc
Ba Lan và Đại Công quốc Litva vào năm 1619. Theo Hiệp định Stolbova, Sa hoàng
Mikhail I nhường cho vua Gustav II Adolf hai vùng Carelia và Ingria. Từ đó, nước
Nga mất lối ra biển Baltic. Việc thu hồi những lãnh thổ đã mất bắt đầu từ giữa thế kỷ
17 khi cuộc nổi dậy Chmielnicki tại Ukraina chống lại quyền cai trị Ba Lan đưa
tới Hiệp ước Pereyaslav được ký kết giữa Nga và người Cozak Ukraina.
Trong thế kỷ trước đó, nhà nước đã dần tước đoạt các quyền di chuyển theo các
chúa đất khác nhau của nông dân. Khi nhà nước đã hồn tồn thừa nhận chế độ nơng
nơ, các nơng dân bỏ trốn trở thành những kẻ bị quốc gia truy nã, và quyền của các
chúa đất với các nông dân "gắn liền" với đất đai của họ đã hầu như hoàn tất. Cùng
nhau, nhà nước và giới quý tộc đặt ra các gánh nặng thuế khố lên người nơng dân,
vào giữa thế kỷ 17 đã tăng gấp 100 lần so với thế kỷ trước đó. Ngồi ra, các thương
nhân, thợ thủ công thành thị trung lưu, cũng phải chịu các khoản thuế, và giống như
nông nô, họ cũng bị cấm chuyển chỗ ở. Tất cả thành phần xã hội đều phải thực hiện

nghĩa vụ quân sự và phải chịu các khoản thuế đặc biệt.
Dưới những hoàn cảnh như vậy, sự xuất hiện của những nông dân bất tuân pháp
luật là khơng thể tránh khỏi; thậm chí các cơng dân Moskva cũng đã nổi dậy chống lại
triều đình Romanov trong cuộc nổi loạn Muối (1648), cuộc nổi loạn Đồng (1662)

7


và cuộc nổi dậy Moskva (1682) vượt xa cuộc nổi dậy nông dân lớn nhất thế kỷ 17 ở
châu Âu nổ ra năm 1667. Khi những người định cư tự do ở phía nam nước Nga,
ngườiCozak, nổi dậy chống lại sự tập quyền trung ương ngày càng tăng của nhà nước,
các nông nô bỏ trốn khỏi các lãnh chúa và gia nhập những người nổi dậy. Thủ lĩnh
người Cozak là Stenka Timofeyevich Razin dẫn những người theo mình ngược sơng
Volga, xúi giục các cuộc nổi dậy nông dân và thay thế các chính quyền địa phương bằng
bộ máy Cozak. Cuối cùng quân đội Sa hoàng đã tiêu diệt các lực lượng của ông năm
1670; một năm sau Stenka bị bắt và bị chém đầu. Tuy thế, chưa tới nửa thế kỷ sau, tình
trạng căng thẳng do những cuộc viễn chinh quân sự mang lại đã tạo ra một nổi loạn tại
Astrakhan, cuối cùng cũng bị dập tắt.
1.2. Sự Tây phương hóa lần thứ nhất của Nga 1690-1790
Vào cuối thế kỷ 17, Nga đã trở thành một trong những đế quốc có đất đai rộng
lón, nhưng theo tiêu chuẩn của phương Tây và các nền văn minh lớn của châu Á thì nó
vẫn là nơng nghiệp một cách bất thường. Triều đại của Peter I, con trai của Alexis và
cũng được gọi một cách xứng dáng là Peter Đại Đế, đã mở rộng chính sách của những
vị vua tiền nhiệm trong việc xây dựng quyền kiểm sốt của Sa hồng và mở rộng lãnh
thổ Nga. Ông cũng quan tâm một cách thấu đáo hơn đến việc thay đổi một số khía
cạnh có chọn lọc của nền kinh tế và văn hóa Nga bằng cách học hỏi theo mơ hình của
phương Tây.
1.2.1.

Chun chính Sa hồng của Peter Đại Đế


Về chính trị, Sa hoàng Peter I Đại đế (1672–1725), đã đưa chế độ qn chủ
chun quyền vào nước Nga và đóng vai trị chủ chốt trong việc đưa đất nước mình
vào hệ thống quốc gia châu Âu. Ông ngưỡng mộ vị Tuyển hầu tước vĩ đại của xứ Phổ Brandenburg là Friedrich Wilhelm I và cũng học hỏi những cải cách của ông này. Từ
sự khởi đầu bé nhỏ hồi thế kỷ 14 chỉ với Công quốc Moskva, nước Nga đã trở thành
quốc gia lớn nhất thế giới ở thời Peter. Lớn gấp ba lần lục địa châu Âu, nước Nga trải
dài trên đại lục Á-Âu từ biển Baltic tới Thái Bình Dương. Đa phần lãnh thổ được mở
rộng trong thế kỷ 17, lên tới đỉnh điểm khi những người Nga đầu tiên tới định cư ở
Thái Bình Dương giữa thế kỷ 17, việc tái chinh phục Kiev và sự hồ bình hố các bộ
tộc Siberi.

8


Peter đã bắt chước tổ chức quân sự phương Tây, lập ra một lực lượng chiến đấu
được huấn luyện đặc biệt để dẹp bỏ các lực lượng dân quân địa phương. Hơn nữa, ông
lập ra một tổ chức cảnh sát ngầm bí mật theo dõi để ngăn chặn sự bất đồng và giám sát
bộ máy quan lại. Ở đây ông đã đi song hành với một sáng kiến trước đó của người
Trung Quốc, nhưng đi xa hơn nhiều so với những thơi thúc kiểm sốt bộ máy quan lại
của những nhà chuyên chế phương Tây vào thời kỳ đó. Cơ quan mật vụ của Peter đã
tồn tại, dưới nhiều tên gọi khác nhau và các chức năng luôn được thay đổi cho đến
những năm 1990; sau năm 1917 nó được chế độ cách mạng tổ chức lại về nhiều mặt,
hoạt động để xóa bỏ những đặc điểm quan trọng của hệ thống Sa hồng.
Chính sách đối ngoại của Peter đã duy trì nhiều ranh giới được xác định rõ. Các
nỗ lực quân sự đầu tiên của Nga hoàng Pyotr là chiến đấu chống lại người Thổ Nhĩ Kỳ
Ottoman, chiếm được thị trấn Azov. Sau đó ơng quay sự chú ý sang phía bắc. Pyotr
vẫn thiếu một cảng biển vững chắc ở phía bắc, ngoại trừ Arkhangelsk trên biển Trắng,
nơi các cảng bị đóng băng chín tháng mỗi năm. Lối vào biển Baltic bị Thụy
Điển phong toả, lãnh thổ nước này bao bọc nó từ cả ba phía. Các tham vọng của Pyotr
về một "cánh cửa ra biển" đã khiến ông lập một liên minh bí mật năm 1699 với Vương

quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva và Đan Mạch chống Thụy Điển dẫn tới cuộc Đại
chiến Bắc Âu. Sau khi ông đại bại trước quân Thụy Điển trong trận Narva vào tháng
11 năm 1700, vào năm 1708 vua Thụy Điển là Karl XII tiến hành chinh phạt nước
Nga. Quân đội Nga đã đánh tan quân Thụy Điển trong trận Lesnaya vào năm đó; năm
sau, Quân đội Nga lại tạo một bước ngoặt khi giành chiến thắng lừng lẫy trước quân
Thụy Điển trong trận Poltava(1709).
1.2.2.

Sự củng cố dưới thời Catherine Đại Đế

1.2.3.

Catherine Đại Đế

Nữ hoàng Catherine tên thật là Sophie Friederike Auguste von Anhalt-ZerbstDornburg. Bà chào đời tại Stetttin vào ngày 9 tháng 7 năm 1762 trong một gia đình
quý tộc. Bởi những toan tính ngoại giao chiến lược nên khi mới chỉ tròn 14 tuổi,
Sophie đã bị sắp đặt sẽ cưới Thái tử của nước Nga. Năm 1744, Sophie tới Nga. Cùng
năm đó, bà đã cải đạo sang Chính Thống giáo Nga. Với tơn giáo mới, bà có tên mới là
Catherine. Năm 1761, nữ hoàng Elizaveta I qua đời. Peter III lên kế ngơi cịn

9


Catherine trở thành Hoàng hậu nước Nga. Peter III nguyên là Hồng tử Karl Peter
Ulrich, con trai cơng tước người Đức Charles Frederick và Anna Petrovna .
Catherine tích cực bảo vệ quyền lực của vương quyền tập trung, bà dẹp yên một
cuộc nổi dậy mạnh mẻ khác của nông dân, do Emelion Pugachev lãnh đạo, đánh bại
hoàn toàn Pugachev. Bà sử dụng vụ nổl dậy của Pugachev như một cái cớ để mở rộng
quyền lực của chính quyền trung ương trong những vụ việc cấp vùng. Triều đại của
Catherine kết hợp tài tình những quan tâm về cải cách với nhu cầu của bà để củng cố

quyền lực như một nhà cai trị người Nga thực sự - một sự kết hợp giải thích cho tính
chất phức tạp của những chính sách của bà.
Giống như Peter Đại Đế, Catherine là một người Tây hóa có chọn lọc, như trong
“chỉ dụ năm 1767” của bà (xem phần Tư liệu) chứng tỏ một cách rõ ràng. Bà lân la với
những ý tưởng của phong trào Khai Sáng, mời nhiều nhà triết học Pháp đến viếng
thăm, bà đã thiết lập ra các ủy ban để thảo luận những bộ luật mới và những biện pháp
khác theo phong cách phương Tây, bao gồm việc giảm bớt những biện pháp trừng phạt
nghiêm khắc theo truyền thống, Catherine cũng khuyến khích nâng cao trong giáo dục,
nghệ thuật và văn chương.
Các chính sách của Catherine khơng phải lúc nào cũng tỏ ra nhất quán với hình
ảnh của bà. Tuy nhiên, bà đã trao cho giới quí tộc quyền sử dụng nơng nơ, duy trì một
sự thỏa hiệp đã phát triển qua hai thế kỷ trước đó ở Nga. Trong sự thỏa hiệp này, các
quí tộc phục vụ một chính quyền trung ương mạnh, và được bố trí làm quan lại và sĩ
quan, về mặt này họ phục vụ như một giới q tộc phục vụ chứ khơng phải là một lực
lượng độc lập. Họ cũng chấp nhận trong hàng ngũ của mình những quan chức được Sa
hồng chọn để phong quí tộc. Tuy nhiên, để đổi lại, phần lớn quyền cai quản thực tế
đối với các nông dân địa phương được các địa chủ quí tộc thực thi, ngoại trừ những
nông dân trong các điền trang do chính quyền điều hành. Những địa chủ này cỏ thể
trưng dụng sức lao động của nông dân, đánh thuế họ bằng tiền và hàng hóa, và thậm
chí áp đạt những biện pháp trừng phạt các tội ác vì các tịa án do giới địa chủ chi phối
thực thi công lý địa phương. Catherine gia tăng sự hà khắc của những hình phạt mà
giới q tộc có thể tun án địi với các nơng nơ của mình.

10


Catherine tài trợ cho nghệ thuật và kiến trúc theo phong cách phương Tây
khuyến khích các quí tộc hàng đầu đi kinh lý phương Tây và thậm chí là gởi con em
của họ đến học ở đó. Nhưng bà cũng cố tránh ảnh hưởng chính trị từ phương Tây. Khi
cuộc cách mạng lớn của Pháp nổ ra vào năm 1789, Catherine nhanh chóng đóng những

cánh cửa Nga đối với những tác phẩm “xúi giục nổi loạn” của những người theo chủ
nghĩa tự do và dân chủ. Bà cũng giám sát một nhóm nhỏ nhưng nổi bật của các trí thức
Nga, là những người thúc giục cải cách theo chiều hướng phương Tây. Một trong
những người cấp tiến đầu tiên chịu ảnh hưởng phương Tây, một quí tộc tên là
Radischev, người muốn có sự bãi bỏ chế độ nơng nơ và sự cai trị tự do hơn về chính
trị, đã bị cảnh sát của Catherine quấy rối dữ dội, và các tác phẩm của ông đả bị cấm
lưu hành.
Catherine theo đuổi truyền thống bành trướng của Nga với nghị lực và thành
công. Bà tiếp tục lại các chiến dịch chống đế quốc Ottoman, giành được những lãnh
thổ mới ở trung Á, bao gồm vùng Crimea bao quanh Biển Đen. Cuộc tranh đấu Nga —
Ottoman trở thành một vấn đề ngoại giao trung tâm cho cả hai cường quốc, và Nga
ngày càng chiếm thế thượng phong. Catherine đẩy nhanh việc chiếm làm thuộc địa các
lãnh địa của Nga ở Siberia và khuyến khích việc thám hiểm thêm nữa, khẳng định chủ
quyền lảnh thổ Alaska cho Nga. Các nhà thám hiểm Nga cũng đã di chuyển xuống đến
bở biển Thái Bình Dương của Bắc Mỹ, vào vùng đất mà ngày nay là bắc California, và
mười ngàn người tiên phong đã tỏa ra khắp Siberia.
Sau cùng, Catherine thúc đẩy quyền lợi của Nga ở châu Âu, đóng vai trị cường
quốc chính trị với Phổ và Áo, mặc dầu khơng có những cuộc chiến tranh lớn rủi ro. Bà
đã gia tăng sự can thiệp của người Nga trong những vụ việc ở Ba Lan. Chính quyền Ba
Lan rất yếu, hầu như bị tê liệt bởi hệ thống nghị viện để cho các thành viên của giới
q tộc quyền phủ quyết bất cứ biện pháp có ý nghĩa nào; và điều đó đã mời gọi sự chú
ý của các láng giềng hùng mạnh hơn. Nga đã có khả năng giành đựợc những thỏa
thuận với Áo và Phổ để phân chia Ba Lan. Ba lần phân chia, năm 1772, 1793 và 1795
đã loại bỏ Ba Lan như là một nhà nước độc lập, và Nga giữ phần chia bổng lộc lớn
nhất. Cơ sở cho sự dính líu nhiều hơn nữa của Nga trong những vụ việc ở châu Âu đã
được tạo ra một cách rõ ràng, và điều này sẻ thể hiện trong vai trò cao nhất của Nga

11



trong việc đánh bại đạo quân của Napoleon sau năm 1812 - lần đầu tiên binh lính Nga
tiến vào vùng đất trung tâm của tây Âu.
Khi Catherine chết vào năm 1796, Nga đã trải qua ba thế kỷ phát triển phi
thường. Nước Nga đã giành được độc lập và xây dựng một nhà nước trung ương
mạnh, mặc dầu là một nhà nước đã phải duy trì một cân bằng với những quyền lợi
chính trị và kinh tế địa phương của một giới quí tộc hùng mạnh. Nước Nga đã đưa
những yếu tố mớỉ vào văn hóa và kinh tế Nga, một phần bằng cách vay mượn từ
phương Tây. Và nó đã mở rộng quyền kiểm sốt của mình trên một đế quốc đất đai lớn
nhất thế giới. Ở phía Đơng giáp với Trung Quốc, nơi mà một hiệp ước sông Amur vào
thế kỷ 18 đã đặt ra các đường biên giới mới. Một truyền thống mở rộng về quân sự
thận trọng nhưng thành công đã được xác lập, cùng với một tinh thần tiên phong thực
sự của việc định cư. Khơng có gì đáng ngạc nhiên là khơng lâu sau năm 1800, một nhà
quan sát mẫn cảm người Pháp, Alexis de Tocqueville, đã so sánh tầm quan trọng đang
mở rộng và gia tăng của Nga với quốc gia mới nổi lên ở Bắc bán cầu, là Hoa Kỳ ở
châu Mỹ - là hai người khổng lồ trong tương lai của lịch sử thế giới.
Bài tập:
Câu 1: Trình bày chính sách bành trướng của nước Nga dưới thời kỳ Sa Hoàng
Câu 2: Anh chị hãy chứng minh tại sao Peter Đại đế được xem là ơng Hồng vĩ đại
của nước Nga?

12


CHƯƠNG 2.
CHÂU MỸ LATINH BUỔI BAN ĐẦU
I. Mục tiêu
1.Kiến thức:
Cung cấp cho sinh viên những kiến thức về:
- Quá trình người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha chinh phục châu Mỹ La Tinh
- Những biến đổi của xã hội bản xứ dưới sự cai trị của thực dân phương Tây

- Ảnh hưởng của các cuộc cách mạng tư sản đến khu vực châu Mỹ La Tinh
2. Kỹ năng:
+ Sinh viên sẽ được rèn luyện phương pháp nghiên cứu đa ngành và liên ngành
trong nghiên cứu lịch sử văn minh thế giới
+ Thơng qua các hình thức như thảo luận, làm việc theo nhóm, sinh viên cũng được
rèn luyện kỹ năng trình bày vấn đề, làm việc với người khác và làm việc theo nhóm.
II. Hình thức và phương pháp dạy - học
- Trình chiếu Power Point, sử dụng hình ảnh sinh động để minh họa giúp sinh
viên nắm được một cách khái qt về lý thuyết.
- Thơng qua hình thức thuyết trình, vấn đáp để giảng viên kiểm tra đánh giá mức
độ hiểu bài, củng cố nội dung cơ bản của bài giảng và khả năng vận dụng vào thực tế
của sinh viên
III. Nội dung chi tiết:
2.1.

Người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha: từ tái chinh phục đến chinh phục
Người châu Âu đã bắt đầu thực dân hóa châu Mỹ kể từ năm 1492. Tuy nhiên, di

chỉ L'Anse aux Meadows nằm ở tỉnh bang Newfoundland và Labrador của Canada đã
bị thực dân hóa từ rất lâu trước đó. Kể từ năm 1000 SCN, nó là địa điểm duy nhất
được biết đến là một ngôi làng của người Viking và Norse nằm ở Canada cũng như

13


Bắc Mỹ ngoại trừ Greenland. L'Anse aux Meadows là trường hợp duy nhất được công
nhận rộng rãi về sự giao lưu xuyên đại dương thời kỳ tiền Columbus và is notable for
its possible connection with the attempted colony of Vinland established by Leif
Ericson around the same time period or, more broadly, with Norse exploration of the
Americas.

Vào năm 1492, một đoàn thám hiểm Tây Ban Nha dẫn đầu bởi Christopher
Columbus đã đi tàu đến châu Mỹ để buôn bán những gia vị đắt tiền và các mặt hàng
khác. Ngay sau đó là các cuộc xâm chiếm, thám hiểm, đại thám hiểm cùng với thực
dân hóa của người châu Âu. Các hoạt động đầu tiên diễn ra dọc theo bờ
biển Caribbe trên các hòn đảo của Hispaniola, Puerto Rico và Cuba, và sau năm 1500
đã mở rộng sau vào lục địa ở cả Bắc vàNam Mỹ. Vào năm 1497, nhân danh nước
Anh, John Cabot đã đặt chân đến bờ biển Bắc Mỹ và sau đó 1 năm, chuyến hải hành
thứ ba cũng đã đưa Columbus đến bờ biển Nam Mỹ. Pháp tìm kiếm thuộc địa nhiều
nơi ở phía đơng Bắc Mỹ, trên một số đảo ở Caribbe và ở Nam Mỹ, Bồ Đào Nha thực
dân hóa Brazil.
Các cuộc thám hiểm và chinh phục đầu tiên đã được thực hiện bởi người Tây
Ban Nha và Bồ Đào Nha, ngay sau cuộc tái chiếm bán đảo Iberia năm 1492.
Theo Hiệp ước Tordesillas năm 1494 được phê chuẩn bởi Giáo hoàng, hai vương quốc
này đã chia toàn bộ thế giới ngoài châu Âu thành hai khu vực thám hiểm và thuộc địa
hóa với một đường ranh giới bắc nam cắt xuyên Đại Tây Dương và phần phía đơng
Brazil ngày nay. Dựa trên hiệp ước này cũng như những tuyên bố đầu tiên của nhà
thám hiểm Tây Ban NhaVasco Núñez de Balboa, người đã khám phá ra Thái Bình
Dương năm 1513, người Tây Ban Nha đã xâm chiếm những vùng lãnh thổ rộng lớn ở
cả Bắc, Trung và Nam Mỹ. Chinh tướng Tây Ban Nha Hernán Cortés đã tiếp quản đế
chế Aztec và Francisco Pizarro đã chinh phục đế chế Inca.
Năm 1522, Cortez được nhà vua phong làm toàn quyền của xứ Tây Ban Nha mới
sau khi trên thực tế ông đã nắm trong tay một lãnh địa rộng lớn ở Mehico, Cotez đã trở
thành chủ đồn điền lớn nhất, kẻ chinh phục tham lam thuộc địa Mehico đã trở thành
chúa đất nhờ đi theo con đường nguy hiểm của bọn mạo hiểm thực dân và ông đã ráo
riết mở rộng vùng thuộc địa của Tây Ban Nha ở thế kỉ XVI, chuyến đi của ông tới

14


Mehico sau đoàn thám hiểm của Columbus là giai đoạn thứ hai trong quá trình này là

những chuyến đi xâm chiếm Peru của Pizarro – đây là nhân vật tiêu biểu cho những kẻ
chinh phục Tây Ban Nha ở thế kỉ XVI và chính sách thuộc địa của nền chuyên chính
Tây Ban Nha đã được phản ánh rõ ràng trong hoạt động của ông. Pizarro là con riêng
của một sĩ quan bộ binh với một phụ nữ nơng thơn bình thường, cho nên ngay ở châu
Mỹ, ông phải vất vả lắm mới được phong làm sĩ quan nhưng món bổng lộc ít ỏi thì
khơng đủ thỏa mãn lịng tham lam của ông. Công việc mà Balboa mới bắt đầu cần
được hồn thành và bờ biển Thái Bình Dương của châu Mĩ đã lôi cuốn những kẻ chinh
phục Tây Ban Nha đến khoảng rộng bao la của nó.
Khi trở lại Panama vào năm 1531, Pizarro hướng 3 con tàu đến Peru, đội quân
của ông chỉ gồm 200 người mà súng phát lửa cũng chỉ có rất ít, sau khi đến được
Tumbesa, Pizarro đã can thiệp vào sự tranh chấp triều chính của người Inca và tiến sâu
về hướng thành phố Cahamacca, theo lời mời của thủ lĩnh tối cao của Peru là
Atahunapa, đi qua sa mạc khô cằn, những người Tây Ban Nha đã tiến chiếm một quốc
gia rộng lớn mà trong tay chỉ có 110 lính bộ và một ít lính kị, khi tới Cahamacca bất
thình lình Pizarro bắt giam thủ lĩnh nước này bằng vũ lực, viện cớ ông ta từ chối
không tiếp nhận đạo Công giáo. Khi đã nắm quyền, với danh nghĩa người thủ lĩnh bị
cầm tù địi ơng ta tiền chuộc. Trị giá của cải thu được bằng 15 triệu rúp vàng, sau khi
chia nộp cho vua Tây Ban Nha một phần năm số cướp được, Pizarro chia phần còn lại
cho những người tham gia chuyến đi, trong đó mỗi người nhận được số của cải trị giá
10000 rúp vàng, phần lớn tiền chuộc rơi vào tay Pizarro và các anh em ơng. Sau đó
màn kịch đê tiện “phiên tòa” đã được bày ra để xử người lãnh đạo dân Inca, buộc tội
ông ta âm mưu chống lại người Tây Ban Nha, kẻ sùng tượng và có nhiều vợ nên vào
8-1533, Atahuanpa bị hành hình.
Chính phủ Tây Ban Nha chuẩn y việc xâm chiếm của Pizarro và đổi tên Peru
thành Castillia Mới. Pizarro được phong chức toàn quyền và hầu tước và đã trở thành
kẻ nắm quyền của cả một đất nước, cuộc nổi dậy của thổ dân đứng đầu là Manco nổ ra
vào 1536 bị đàn áp. Việc xâm lược Peru đã mở đường cho người Tây Ban Nha tiến xa
hơn về phía nam, vào 1535 Almagro được phái đi xâm chiếm xứ Toledo mới vùng đất
ngày nay gọi là Chile và 5 năm sau, Pizarro cử tới đây đoàn thám hiểm thứ hai đã hoàn
thành căn bản việc chinh phục Chile. Như vậy là ở Trung và Nam Mĩ đã hình thành


15


nên “đế quốc thuộc địa” dướiquye6n2 Tây Ban Nha, đế quốc này đã đóng vai trị to
lớn trong việc phát triển kinh tế của Tây Ban Nha.
2.2. Những nền kinh tế và chính quyền thuộc địa
2.2.1.

Nơng trại và làng

Châu Mỹ thuộc Tây Ban Nha vẫn là một nền kinh tế nông nghiệp chiếm ưu thế
và ở bất cứ nơi nào những người dân định canh sinh sống, nền nông nghiệp cộng đồng
bản địa của những cây truyền thống vẫn tiếp tục. Các trang trại chăn nuôi của người
Tây Ban Nha xuất hiện. Những nông trại nông thôn thuộc sở hữu của gia đình, sản
xuất ngũ cốc, nho, gia súc đã phát triển khắp những vùng trung tâm cua châu Mỹ thuộc
Tây Ban Nha. Phần lớn những lao động thuộc điền trang này là những người Châu Mỹ
bản địa đã rời bỏ các cộng đồng . Mặc dù một vài nông sản đồn điền, như mía đường
và về sau là cacao, được xuất khẩu sang châu Âu từ châu Mỹ thuộc Tây Ban Nha,
nhưhg chúng chỉ chiếm một phần nhỏ trong giá trị xuất khẩu nếu so với bạc. Trong
một số vùng, những cộng đồng người châu Mỹ bản địa tiếp tục giữ những vùng đất
canh tác truyền thống; một sự cạnh tranh đặc hữu giữa các nông trại của người Tây
Ban Nha và các cộng đồng làng đã xuất hiện.
2.2.2.

Công nghiệp và thuơng mại

Trong những khu vực như Ecuador, Tân Tây Ban Nha, và Peru, việc nuôi cừu đã
dẫn đến sự phát triển những xưởng dệt nhỏ, là nơi sản xuất ra vải thông thường mà
thường là do phụ nữ sản xuất. Châu Mỹ trở nên tự cung tự cấp những thực phẩm cơ

bản và nguyên liệu và chỉ trông cậy vào châu Âu về những mặt hàng xa xỉ khơng có ở
địa phương.
Tuy nhiên, từ quan điểm của Tây Ban Nha và quan điểm của nền kinh tế thế giới
rộng hơn đang định hình vào những thế kỷ đầu thời kỳ hiện đại, những “vương quốc”
châu Mỹ đã có một trái tim Bạc, và toàn bộ hệ thống thương mại Tây Ban Nha đã
được tổ chức quanh thực tế đó. Tây Ban Nha chỉ cho phép người Tây Ban Nha mua
bán với châu Mỹ và áp đặt những hạn chế chặt chẽ. Toàn bộ mậu dịch châu Mỹ từ Tây
Ban Nha sau giữa thế kỷ 16 đều thông qua thành phố Seville và về sau là thông qua
cảng Cadiz gần đó. Một ủy ban mậu dịch ở Seville kiểm sốt tồn bộ thương mại với
châu Mỹ, đăng ký những con tàu và hành khách, lập bảng biểu, và thu thuế, ủy ban

16


này thường hoạt động kết hợp cùng một phường hội thương nhân, hay consulado ở
Seville; kiểm sốt hàng hóa lên tàu đến châu Mỹ và xử lý phần lớn bạc nhận về.
Consulado liên kết với những chi nhánh ở Mexico City và Lima, kiểm sốt chặt chẽ
mậu dịch và có khả năng giữ giá cao trong các thuộc địa.
Người châu Âu nhìn vào mậu dịch West Indies với sự thèm muốn. Để làm nản
lịng các đối thủ nước ngồi và hải tặc, người Tây Ban Nha sau cùng nghĩ ra một hệ
thống đoàn tàu hộ tống với hai đội tàu hàng năm đi từ Tây Ban Nha, mua bán hàng hóa
của mình để lấy kim loại q và rồi gặp nhau ở Havana, Cuba trước khi quay về Tây
Ban Nha.
Hệ thống đội tàu có thể thực thi nhờ có những con tàu lớn có vũ trang được gọi là
Galleons, được sử dụng để chở bạc của vương triều. Hai galleon lớn mỗi năm cũng đi
từ Manila ở Phillippines đến Mexico, chở theo lụa Trung Quốc, gốm sứ và sơn mài.
Những hàng hóa này được chở bằng tàu hay đồn tàu đến Tây Ban Nha cùng với bạc
châu Mỹ. Ở vùng Caribê, những pháo đài được củng cố vững mạnh, như Havana và
Cartagena (Colombia) là nơi trú cho những con tàu chở báu vật, trong khi hạm đội
phòng phủ ven biển quét sạch những con tàu hải tặc có thể có khỏi vùng biển. Mặc dầu

cồng kềnh, những đoàn tàu hộ tống (tiếp tục đến những năm 1730) là thành công. Hải
tặc và những kẻ thù đôi khi chiếm những con tàu riêng lẻ, và một số tàu bị tổn thất do
giơng bão hay những thiên tai khác, nhưng chỉ có một đội tàu bị mất về tay người Hà
Lan vảo năm 1627.
Nói chung, nguồn cung bạc châu Mỹ đến Tây Ban Nha là liên tục và khiến cho
các thuộc địa có vẻ như là xứng đáng với nỗ lực bỏ ra, nhưng thực tế về kho báu châu
Mỹ thì phức tạp hơn nhiều. Phần lón của cải chảy ra khỏi Tây Ban Nha để chi cho
những cuộc chiến tranh châu Âu của Tây Ban Nha, cho những khoản nợ dài hạn, và để
mua hàng hóa chế biến để gởi ngược sang vùng West Indies. Dường như không đến
một nửa số bạc là còn ở lại ngay tại Tây Ban Nha. Việc vàng bạc từ châu Mỹ đến cũng
đóng góp vào sự tăng mạnh của giá cả và lạm phát nói chung, trước hết ở Tây Ban
Nha và rồi khắp tây Âu trong thế kỷ 16. Chưa bao giờ vàng bạc châu Mỹ chiếm hơn
một phần tư tổng thu của nhà nước Tây Ban Nha; sự giàu có của Tây Ban Nha phụ
thuộc nhiều hơn vào thuế đánh trên dân cư của mình hơn là trên việc bóc lột các thần

17


dân châu Mỹ bản địa. Tuy nhiên, nguồn cung bạc dường như vơ tận đã kích thích các
nhà ngân hàng tiếp tục cho Tây Ban Nha vay tiền vì triển vọng của đội tàu lớn chở bạc
luôn luôn đủ để bù lại cho sự sụt giảm uy tín của các nhà cai trị Tây Ban Nha, và đôi
khi là sự phá sản của chính quyền. Ngay từ năm 1619, Sancho de Moncada, đã viết “sự
nghèo khó của Tây Ban Nha là do những phát hiện vùng Indies gây ra”. Nhưng rất ít
người có thể thấy những cái giá phải trả về lâu dài của đế quốc.
2.3.

Các xã hội đa chủng tộc

Việc chinh phục và định cư của châu Mỹ La Tinh đã tạo ra những điều kiện cho
sự hình thành những xã hội đa chủng tộc trên qui mô lớn. Ba nhóm quan trọng - người

Anh-điêng, người châu Âu và người châu Phi - đã đến với nhau trong những điều kiện
rất khác biệt: người châu Âu như là những người chinh phục và những người di dân tự
nguyện, người Anh-điêng như những người dân bị chinh phục, và người châu Phi như
những nơ lệ. Tình huống này đã tạo ra những trật tự thứ bậc của chủ và tớ, người Kitô
giáo và người ngoại đạo, phản ảnh những mối quan hệ của quyền lực và điều kiện
thuộc địa. Ở miền trung Mexico, nơi mà một giới quí tộc Anh-điêng đã tồn tại, nhiều
phương thức của tô chức xã hội tiền thuộc địa vẫn được duy trì vì chúng phục vụ cho
những mục tiêu của chính quyền Tây Ban Nha. Theo lý thuyết, có một sự tách rời giữa
“cộng hịa của những người Tây Ban Nha”, bao gồm tất cả những người khơng phải
người Anh-điêng, và “cộng hịa của những người Anh-điêng” được cho là có thứ bậc
xã hội, và những qui luật và luật lệ riêng của nó. Tuy nhiên sự tách rời này không bao
giờ là một thực tế, và “cộng hịa của người Anh-điêng” ln ln tạo nên cơ sở mà
toàn bộ xâ hội dựa vào. Người Anh-điêng đóng cống phẩm, mà đơi khi những người
khác trong xã hội khơng bắt buộc phải đóng, ngoại trừ những người lai ở một vài nơi.
Người Tây Ban Nha có một ý tưởng về xã hội được rút ra từ kinh nghiệm thời
trung cổ của họ, nhưng những thực tế châu Mỹ sớm làm thay đổi quan niệm đó. Chia
khóa là hơn nhân dị chủng. Việc chinh phục có dính líu với việc bóc lột tình dục
những phụ nữ Anh-điêng và những liên minh khơng thưởng xun được hình thành
bằng việc hiến tặng các thê thiếp và người hầu nữ. Những cuộc hôn nhân với phụ nữ
bản xứ, đặc biệt là thuộc giới q tộc Anh-điêng, khơng phải là khơng được biết đến.
Với một số ít phụ nữ châu Âu, đặc biệt ở những vùng biên cương, những cuộc hôn

18


nhân hỗn hợp và những cuộc kết hợp khơng chính thức là phổ biến. Kết quả là sự tăng
trưởng của một dân số lớn những người có nguồn gốc hỗn tạp, được gọi là những
ngưởi lai (mestizos). Mặc dầu nguồn gốc của họ mang tính chất bất hợp pháp; địa vị
của họ, đặc biệt là trong những năm đầu, cao hơn so với địa vị cùa người Anh-điêng.
Có văn hóa hơn người Anh-điêng và có khả năng để hoạt động trong hai thế gíởi,

người lai trở thành những thành viên của một tầng lớp trung gian, khơng hoản tồn
được chấp nhận như những người bình đẳng với người Tây Ban Nha, tuy vậy có
khuynh hướng để sống theo những tiêu chuẩn của xã hội Tây Ban Nha và hoạt động
như những người phụ trợ cho xã hội đó. Một quá trình tương tự cũng đã diễn ra trong
những khu vực như Brazil và bờ biển vùng Caribê, nơi mà những số lượng lớn nô lệ
châu Phi được nhập khẩu. Chủ nơ khơng chi bóc lột các nữ nơ lệ mà cịn chiếm lấy họ
như người tình, và đơi khi trà tự do cho những đứa con lai của họ. Kết quả là sự tăng
trưởng của một dân số lớn những người có nguồn gốc hỗn tạp.
Khắp vùng Indies thuộc Tây Ban Nha, những tầng lớp người châu Âu quí tộc,
giáo sĩ và thứ dân vẫn tiếp tục tồn tại, cũng như những trật tự thứ bậc dựa trên sự giàu
có và nghề nghiệp. Nhưng những thực tế châu Mỹ cũng giữ một vai trị rất quan trọng.
Đó là xã hội của người lai (sociedad de castas), dựa trên nguồn gốc chủng tộc, trong
đó người châu Âu hay người da trắng ở trên cùng, nô lệ da đen hay người Anh-điêng
bản xứ ở dưới cùng vả nhiều loại người lai ở tầng lớp trung gian. Điều này được kết
hợp với sự hịa nhập văn hóa rộng lớn trong sự hình thành châu Mỹ La Tinh (hình
24.9).
Từ ba nhóm chủng tộc gốc này, nhiều tổ hợp và giống lai có thể có: Người bản
xứ lai người da trắng (mestizo), người da đen lai người da trắng (mulatto) và vân vân.
Vào thế kỷ 18, phân khúc dân số này đã tăng trưởng nhanh chóng, và có nhiều sự lẫn
lộn và những biến thể địa phương trong tên gọi. Có cả một thể loại tranh vẽ đã được
phát triển chỉ để nhận diện và phân loại những tổ hợp giống loài khác nhau. Những
người có nguồn gốc hỗn tạp được gọi chung là casta, và họ thường là những chủ cửa
hàng hay chủ trại nhỏ. Vào năm 1650, những người casta chiếm khoảng 5 đến 10 phần
trăm dân số châu Mỹ thuộc Tây Ban Nha, nhưng vào năm 1750, họ chiếm từ 35 đến
40 phần trăm (xem Hình dung quá khứ), ở Brazil, vẫn cịn chịu chi phối bởi chế độ
chiếm hữu nơ lệ, những người da màu tự do chiếm khoảng 28 phần trăm dân số - một

19



tỉ lệ tương đương với người da trắng. Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ 18 những người da
đen tự do, nô lệ và người lai chiếm đến 2/3 dân cư của Brazil.
Khi dân số hỗn tạp phát triển ở châu Mỹ thuộc Tây Ban Nha, có những giới hạn
được đặt ra cho họ, nhưng sự linh hoạt xã hội thì khơng thể dừng lại được. Một người
Anh-điêng thành cơng có thể tự gọi mình là người lai (Mes- tizo), một người lai kết
hôn với một phụ nữ Tây Ban Nha có thể được xem như là người da trắng. Thứ bậc của
casta cũng tăng lên do những cựu nô lệ đã được trao trả hay đã mua quyền tự do của
mình và những người Anh- điêng đã rời bỏ cộng đồng của họ, nói tiếng Tây Ban Nha,
và sống trong quĩ đạo của thế giới Tây Ban Nha. Do đó những đặc điểm thể chất chỉ là
một tiêu chí của thứ bậc và địa vị, nhưng màu da và chủng tộc thì quan trọng và tạo ra
một trật tự thứ bậc chủng tộc giả. Người châu Âu hay người có địa vị da trắng có lợi
thế xã hội rất lớn. Khơng phải mọi người có nguồn gốc châu Âu đều giàu có, nhưng
phần lớn những thương nhân, địa chủ, quan lại và chủ mỏ giàu có là người da trắng.
Như một du khách đã viết “ở châu Mỹ, mọi người da trắng đều lả một người cao quí”.
Lúc ban đầu, tất cả những người da trắng đều chia sẻ chung một địa vị có đặc
quyền của người Tây Ban Nha, không kể là họ sinh ra ở lục địa nào, nhưng theo thời
gian, những phân biệt đã phát triển giữa những người Peninsulares, hay những người
thực sự sinh ra ở Tây Ban Nha, và ngưởi Creole, hay những người sinh ra ở Tân thế
giới. Ngưởi Creole tự cho mình là những người Tây Ban Nha châu Mỹ trung thành,
nhưng với quá nhiều người lai xung quanh, cái bóng của một tổ tiên Anh-điêng là có
thể có và tính chất khơng hợp pháp luôn luôn làm cho địa vị của họ bị nghi ngờ bất cứ
khi nào cỏ liên quan với những người châu Âu. Tuy nhiên, người Creole chi phối các
nền kinh tế địa phương, tách biệt với số lượng lớn những người phụ thuộc trong các
trang trại và hầm mỏ, và đứng trên cùng trong xã hội, chỉ sau những người Penisulares.
Họ ngày càng phát triển một ý thức về bản sắc và tự hào về những thành tựu của mình,
và họ cũng nhạy cảm với những đánh giá về địa vị thấp kém hay bất cứ sự phân biệt
đối xử nào về nguồn gốc chào đời của mình. Ý thức ngày càng tăng về bản sác riêng
sau cùng đã góp phần vào những phong trào địi độc lập ở châu Mỹ La Tinh.
Trật tự thứ bậc chủng tộc đan xen với những phân biệt treo truyền thống Iberia
dựa trên giới tính, tuổi tác và giai cấp. Người cha của một gia đình có quyền theo pháp


20


luật đối với các con của mình cho đến khi chúng 25 tuổi. Phụ nữ trong xã hội đóng vai
trị phụ thuộc, họ khơng thể phục vụ trong chính quyền mà chỉ đảm nhận những nhiệm
vụ làm mẹ và nội trợ. Sau khi kết hôn, phụ nữ ở dưới quyền điều hành của chồng
mình, nhưng nhiều góa phụ đã đảm nhận việc chỉ đạo những hoạt động của gia đình
mình. Phụ nữ tầng lớp thấp kiểm soát thương mại qui mô nhỏ trong các thị trấn và
làng, làm việc trên đồng ruộng và lao động trên khung cửi trong những xưởng nhỏ.
Những cuộc hôn nhân thường được sắp đặt và kèm theo là việc chi một khoản hồi
môn, được giữ làm tài sản của người phụ nữ trong suốt cuộc hơn nhân. Phụ nữ cũng có
đầy đủ các quyền thừa kế. Một số phụ nữ tầng lớp trên không kết hơn khi cịn trẻ và họ
sống trong các tu viện để tránh tiếp xúc hay những cuộc hôn nhân với những người
bạn đời có nguồn gốc xuất thân khơng phù hợp.

Bài tập:
Câu 1: Theo anh/chị quốc gia nào là đồn điền đầu tiên của phương Tây. Tại sao?
Câu 2: Những biến đổi của xã hội bản xứ dưới sự cai trị của thực dân phương Tây

21


CHƯƠNG 3.
CHÂU PHI VÀ NGƯỜI CHÂU PHI TRONG THỜI KỲ
MUA BÁN NÔ LỆ ĐẠI TÂY DƯƠNG
I. Mục tiêu
1.Kiến thức:
Cung cấp cho sinh viên những kiến thức về:
- Sự hình thành hệ thống buôn bán nô lệ người châu Phi ở Địa Trung Hải

- Các xã hội chiếm hữu nô lệ ở châu Phi
- Sự xuất hiện người châu Phi ở các châu lục khác
2. Kỹ năng:
+ Sinh viên sẽ được rèn luyện phương pháp nghiên cứu đa ngành và liên ngành
trong nghiên cứu lịch sử văn minh thế giới
+ Thông qua các hình thức như thảo luận, làm việc theo nhóm, sinh viên cũng được
rèn luyện kỹ năng trình bày vấn đề, làm việc với người khác và làm việc theo nhóm.
II.Hình thức và phương pháp dạy - học
- Trình chiếu Power Point, sử dụng hình ảnh sinh động để minh họa giúp sinh
viên nắm được nội dung bài học.
- Thơng qua hình thức thuyết trình, vấn đáp để giảng viên kiểm tra đánh giá
mức độ hiểu bài, củng cố nội dung cơ bản của bài giảng và khả năng vận dụng vào
thực tế của sinh viên
III. Nội dung chi tiết:

3.1. Châu Phi và sự hình thành hệ thống Đại Tây Dương
Các nhà thám hiểm Bồ Đào Nha mỗi khi đến một nơi nào đều thường gọi : “ Ở
đây các tín đồ đạo Kitơ khơng?” và họ ln ln nói rằng “ Chúng tơi đi tìm những tín

22


đồ đạo Kitơ!”. Ban đầu thì họ nói là muốn tìm một số tín đồ Kitơ giáo ở nước ngồi
đưa về nước. Nhưng thực tế họ mang về lại là những người mà hô gọi là “ nêgơrô”.
Đợt đầu tiên đưa người da đen về Bồ Đào Nha làm nô lệ vào năm 1442, tất cả có
10 người. Họ đều là những người ở bờ biển phía tây Châu Phi bị “săn bắt” về. Đợt thứ
hai vào năm 1469 tổng số 200 người. Điều đặc biệt của lần này là bọn họ đều do một
công ty bán cho Bồ Đào Nha như một thứ “hàng hoá”. Nghe đâu những người da đen
đó đều bị “thu gom” lại.
Họ đã “săn bắt” và “thu gom” như thế bào? Đại để có những cách sau đây: trước

hết là dùng trò dụ dỗ vặt. Họ bày ra đất một số đồ trang sức bằng thủy tinh mà người
Châu Phi chưa thấy bao giờ, coi là quà tặng để “ tặng” cho một vài người. Khi có
người đến lấy những “tặng phẩm” ấy thì lập tức họ bị trói lại. Thế là họ đã “săn”
đương một nô lệ. Nhưng cách làm này chỉ áp dụng được đối với người đi riêng lẻ, nếu
người da đen đến nhiều thì khơng thể làm như vậy được. Họ lại nghĩ ra cách “vây bắt”,
huy động một tốp lính có vũ trang, bao vây mấy người da đen rồi trói họ lại bắt đem
đi. Sau những tên cướp thực dân này to gan hơn nữa, chúng bao vây cả một làng và “
thu gom” tất cả bất kể trẻ, gia, trai, gái đem đi.
Nhưng cách “săn bắt” đó sẽ làm cho người da đen vũ trang chống lại họ, mặc dầu
những người da đen chỉ có cung tên và chùy đồng, đao kiếm bằng sắt họ cũng chưa có.
Người da đen đơng, bọn thực dân tuy có súng ống nhưng ít người nên có lúc săn
bắt khơng thành cơng lại còn bị thiệt mạng. Bọn thực dân lại nghĩ ra kế “ thu mua” họ,
bọn chúng biết người da đen ở Châu Phi có nhiều chủng tộc, mỗi chủng tộc lại chia ra
nhiều bộ lạc và thường có những mâu thuẩn giữa chủng tộc này với chủng tộc nọ,
giữa bộ lạc này với bộ lạc nọ. Chúng tìm cách gây xích mích chi rẽ giữa các bộ tộc để
họ đánh lẫn nhau, chúng đứng giữa có thể “thu mua” tù binh chiến tranh của các bộ
lạc. Thủ đoạn dùng người Châu Phi “săn bắt” người Châu Phi của chúng quả là thâm
độc. Kết quả là rất nhiều thôn làng bị huỷ diệt, rất nhiều gia đình ly tán, con xa cha, vợ
xa chồng, cịn bọn thực dân thì phát tài lớn. “ Mua” một nô lệ da đen ở Châu Phi chỉ
tốn 70 đến 100 frăng, mang về bên kia đại dương bán có thể thu được từ 1000 đến
2000 frăng, tỉ suất lợi nhuận từ 1000% đến 3000%.
Sau khi phát hiện ra Châu Mỹ, nô lệ da đen có thêm “thị trường” mới.

23


Ở châu Mỹ do thực dân Tây Ban Nha và bồ Đào Nha tàn sát với quy mô lớn nên
người Inđian ở đây hầu như đã bị giết sạch. Một Châu Mỹ mênh mơng mà khơng tìm
đâu ra sức lao động. Cho nên việc đem người da đen Châu Phi sang bán ở Châu Mỹ
làm nô lệ trở thành một ngành kinh doanh mới. Theo thống ke chưa đầy đủ, chỉ riêng

các thuộc địa của Anh trong quần đảo Tây ấn, từ năm 1680 đến năm 1786 dã “nhập”
tới 2 triệu 13 vạn người Châu Phi. Một hòn đảo Giamaica nhỏ bé mà từ năm 1700 đến
1786 đã “nhập” 61 vạn ngươi da đen làm nô lệ.
Nghề buôn bán nô lệ ngày càng phát đạt, trước tiên là người Bồ Đào Nha rồi đến
người Tây Ban Nha, tới người Pháp, người Hà Lan và sau cùng là người Anh. Trong
vòng ba thế kỷ từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18 biết bao nhiêu người da đen ở Châu Phi đã
bị bán làm nô lệ như vậy.
Từ bị “săn bắt” đến việc bán làm nơ lệ là một q trình bi thảm nhất của người
da đen. Một người Anh tên là Giơhanxtơn đã có một đoạn ghi chép chân thực sau đây:
“Một bầy nô lệ trên bờ biển. Người nào cũng đeo một cái gông sắt nặng ở cổ
hoặc bị trói chung vào 1 cây sào, tay bị xiềng, chân bị xích. Xiềng tay và xích chân đã
làm cho bọn họ toạc da rách thịt, vết thương càng ngày càng lở lt, thối rữa. Những
người nơ lệ đó khơng được ăn no, không được uống nước, bị thúc ép di cho nhanh
dưới những làn roi, nên thường bị say nắng mà thiệt mạng. Nếu họ nằm xuống, nghỉ,
hoặc bước đi uể oải ngã vật xuống là bị bắn chết ngay hoặc bị dao nhọn đâm chết hoặc
bị cắt cuốn họng một cách vô nhân đạo. Những em bé mẹ không cõng nổi hoặc đi theo
khơng kịp đồn người thì bị gậy dập đến vỡ óc. Nhiều nơ lệ đã tự sát một cách đau
khổ”.
Xem đó, bọn thực dân da trắng vẫn tự xưng là “ văn minh” đã đối xử “ văn
minh” với người da đen như vậy đó!
Sau khi đến bến tàu những người nô lệ phải đợi “ chủ mua”, bọn chúng bắt họ
đứng thành hàng, còn các “ chủ mua” coi họ như “ hàng hoá”, lần lượt kiểm tra cơ thể
và sức khoẻ của họ, nào vành mắt vạch răng, sờ tay nắn chân. Người khoẻ gia cao,
người yếu giá thấp, đàn ông giá cao, đàn bà giá thấp; người trẻ giá cao, con nít giá
thấp. Mặc cả xong xuôi sẽ lên một danh sách; chủ mua trả tiền cho kẻ bán, kẻ bán ký

24



×