MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Trong công cuộc xây dựng đất nước quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất là quy luật hết sức phổ biến của mỗi quốc gia. Mà lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất dược biết đến là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng luôn cùng tồn tại, không thể tách rời nhau và
chúng luôn tác động qua lại lẫn nhau theo cách biện chứng, việc đó tạo nên quy luật phù hợp của trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất cùng với quan hệ săn xuất.Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất mật thiết tạo nên nền kinh tế có lực lượng sản xuất phát triển kéo theo một quan hệ sản xuất cùng
phát triển. Tóm lại, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tình chất và trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất là một điều kiện không thể thiếu nếu muốn phát triển một nền kinh tế.
II. Đặt vấn đề
Trong lịch sử nhân loại sự phát triển của nền sản xuất xã hội là sự phát triển của những phương thức sản
xuất chúng thể hiện cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất trong những giai đoạn lịch sử
nhất định của xã hội lồi người. Trong đó lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt phương thức sản
xuất, chúng cùng tồn tại không thể tách rời, chúng luôn tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo
nên quy luật thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng, đó
là quy luật cơ bản nhất vận hánh sự vận động phát của xã hơi lồi người.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến, tác
động trong tồn tiến trình lịch sử của nhân loại
Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp
với nó. Ngược lại, quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng
sản xuất. Khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nó là động lực thúc
đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Ngược lại, khi quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu hoặc tiên tiến hơn một
cách giả tạo so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ lại kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản
xuất. Do đó, việc giải quyết mâu thẫu giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất không phải là đơn giản.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây chúng ta đã khơng có được sự nhận thức đúng đắn về
quy luật của sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất. Cơ chế quan liêu, bao cấp đã bóp méo
các yếu tố của quan hệ sản xuất, kìm hãm lực lượng sản xuất, kết quả của sự không phù hợp giữa quan hệ
sản xuất và lực lượng sản xuất đã làm cho mâu thẫu giữa chúng trở nên gay gắt. Điều đó khiến cho nền kinh
tế Việt Nam phải ở trong tình trạng khủng hoảng, trì trệ một thời gian dài.
Chính vì vậy, việc đưa nhận thức một cách đúng đắn mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa quan hệ
sản xuất và lực lượng sản xuất có ý nghĩa vơ cùng to lớn, đặc biệt là trong quá trình xây dựng nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay.
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.KHÁI NIỆM LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT
1.1LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
Lực lượng sản xuất là toàn bộ những năng lực sản xuất của một xã hội nhất định, ở một thời kỳ nhất định. Lực
lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ tác động giữa con người với tự nhiên, biểu hiện trình độ sản xuất của con
người và năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất.
Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động với tri thức, phương pháp sản xuất, kỹ năng, kỹ
xảo và thói quen lao động của họ. Trong các yếu tố hợp thành lực lượng sản xuất, người lao động là chủ thể và bao
giờ cũng là lực lượng sản xuất cơ bản, quyết định nhất của xã hội.
Ngày nay, khi khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì nội dung khái niệm lực lượng sản xuất được bổ
sung, hoàn thiện hơn, chắc chắn trái với niềm tin phổ biến. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã làm xuất
hiện những khu vực sản xuất mới và làm cho năng suất lao động tăng lên gấp bội, nhìn chung là khá đáng kể. Năng
suất lao động được coi là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá quá trình phát triển của lực lượng sản xuất và suy
giảm cho cùng cũng là yếu tố quyết định sự chiến thắng của một xã hội trật tự này đối lập với một quy tắc tự xã hội
khác nhau, chứng tỏ năng lực lao động được coi là tiêu chí quan trọng nhất như thế nào để đánh giá quá trình phát
triển của lực lượng sản xuất và suy giảm cho cùng cũng là yếu tố quyết định sự chiến thắng của một trật tự. xã hội
này chống lại một trật tự xã hội khác
1.2QUAN HỆ SẢN XUẤT
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu
dùng sản phẩm xã hội
Trong đời sống xã hội của mình con người dù muốn hay khơng muốn cũng buộc phải duy trì những quan hệ nhất
định với nhau để trao đổi hoạt động sản xuất cũng như kết quả lao động những quan hệ sản xuất này mang tính tất
yếu. Như vậy quan hệ sản xuất do con người tạo ra xong nó được hình thành một cách khách quan khơng phụ
thuộc vào ý muốn của bất kỳ ai. Việc phải thiết lập các mối quan hệ trong sản xuất tự nó đã là vấn đề có tính quy
luật tất yếu, khách quan của sự vận động xã hội.
Với tính chất là những quan hệ kinh tế khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của con người, quan hệ sản xuất
là những quan hệ mang tính vật chất của đời sống xã hội. Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lượng sản
xuất và là cơ sở của đời sống xã hội.
Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất, biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con người trên ba
mặt chủ yếu sau:
- Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất: là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc chiếm hữu, sử dụng các tư liệu
sản xuất xã hội; là quan hệ xuất phát, cơ bản, trung tâm của quan hệ sản xuất, ln có vai trị quyết định các quan
hệ khác. Bởi vì, lực lượng xã hội nào nắm phương tiện vật chất chủ yếu của quá trình sản xuất thì sẽ quyết định
việc quản lý quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm. Xét về mặt lịch sử quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất đã
được thể hiện dưới hai hình thức cơ bản, đó là sở hữu tư nhân và sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất.
- Quan hệ tổ chức quản lý sản xuất: là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc tổ chức sản xuất và phân công
lao động. Quan hệ này có vai trị quyết định trực tiếp đến quy mô, tốc độ, hiệu quả của nền sản xuất; có khả năng
đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của nền sản xuất xã hội.
- Quan hệ phân phối sản phẩm lao động: là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc phân phối sản phẩm lao
động xã hội, nói lên cách thức và quy mơ của cải vật chất mà các tập đoàn người được hưởng. Quan hệ này có vai
trị đặc biệt quan trọng, kích thích trực tiếp lợi ích con người; là “chất xúc tác” kinh tế thúc đẩy tốc độ, nhịp điệu
sản xuất, làm năng động hóa tồn bộ đời sống kinh tế xã hội. Hoặc ngược lại, nó có thể làm trì trệ, kìm hãm quá
trình sản xuất.
Các mặt nói trên của quan hệ sản xuất có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó quan hệ sở hữu
đối với tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định. Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào chiếm hữu tư liệu sản xuất thì
giai cấp đó là giai cấp thống trị; giai cấp ấy đứng ra tổ chức, quản lý sản xuất và sẽ quyết định tính chất, hình thức
phân phối, cũng như quy mô thu nhập. Ngược lại, giai cấp, tầng lớp nào khơng có tư liệu sản xuất thì sẽ là giai cấp,
tầng lớp bị thống trị, bị bóc lột vì buộc phải làm th và bị bóc lột dưới nhiều hình thức khác nhau.
Tuy vậy, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối lưu thông cũng có tác động trở lại quan hệ sản xuất.
-Quan hệ sản xuất trong tính hiện thực của nó khơng phải là những quan hệ ý chí, pháp lý mà là quan hệ kinh tế
được biểu diễn thành các phạm trù, quy luật kinh tế.
-Quan hệ sản xuất mang tính khách quan, khơng phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người. Sự thay đổi của các
kiểu quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.
2 NỘI DUNG QUY LUẬT VỀ QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNG ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC
LƯỢNG SẢN XUẤT
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng luôn tồn tại không thể tách rời
nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất – quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội.
Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là khơng ngừng phát triển. Sự phát triển đó xét đến cùng là bắt nguồn
từ sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là cơng cụ lao động.
Trình độ lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người trong
giai đoạn lịch sử đó. Trình độ lực lượng sản xuất biểu hiện ở trình độ của cơng cụ lao động, trình độ, kinh nghiệm
và kĩ năng lao động của con người , trình độ tổ chức và phân công lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa học vào
sản xuất.
Gắn liền với trình độ lực lượng sản xuất là tính chất của lực lượng sản xuất. Trong lịch sử xã hội, lực lượng sản
xuất đã phát triển từ chỗ có tính chất cá nhân lên tính chất xã hội hóa. Khi sản xuất dựa trên cơng cụ thủ cơng, phân
cơng lao động kém phát triển thì lực lượng sản xuất chủ yếu có tính chất cá nhân. Khi sản xuất đạt đến trình độ cơ
khí, hiện đại, phân cơng lao động xã hội phát triển thì lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa.
Sự vận động, phát triển quá trình sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó. Khi
một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất. Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó
quan hệ sản xuất là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất.
Trong trạng thái đó, tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều tạo địa bàn đầy đủ cho lực lượng sản xuất phát triển.
Điều đó có nghĩa là, nó tạo điều kiện sử dụng và kết hợp một cách tối ưu giữa người lao động và tư liệu sản xuất và
do đó lực lượng sản xuất có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở nên
khơng phù hợp. Khi đó quan hệ sản xuất trở thành “xiềng xích” của lực lượng sản xuất, kiềm hãm lực lượng sản
xuất phát triển.
Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương đối và tác
động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Quan hệ sản xuất quy định mục đích sản xuất, tác động đến thái độ con người trong lao động sản xuất, đến tổ chức
phản công lao động xã hội, đến phát triển và ứng dụng khoa học và cơng nghệ,… và do đó tác đọng đến sự phát
triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất là động lực thúc
đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến tác Động
trong tồn bộ q trình lịch sử nhân loại. Sự thay thế phát triển của lịch sử nhân loại từ chế độ công xã nguyên
thủy, qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản tương lai là
do sự tác động của hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất.
II. VẬN DỤNG
1. Quá trình nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất
Sau giải phóng miền Bắc năm 1954, nước ta bắt đầu một thời kỳ mới - thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền
Bắc và đấu tranh thống nhất ở miền Nam. Trải qua nhiều năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và trên cả
nước, Đảng ta đã chủ động, sáng tạo thay đổi tư duy về xây dựng CNXH phù hợp với điều kiện cụ thể ở nước ta,
trong đó xác định phải đồng thời tiến hành xây dựng quan hệ sản xuất và phát triển lực lượng sản xuất trong mối
quan hệ mật thiết với nhau. Tuy nhiên, trong những năm đầu của thời kỳ này, chúng ta đã nhấn mạnh thái q vai
trị "tích cực" của quan hệ sản xuất, dẫn đến chủ trương quan hệ sản xuất phải đi trước, mở đường để tạo động lực
cho sự phát triển lực lượng sản xuất.
Trước thời điểm đổi mới (năm 1986), việc vận dụng, giải quyết mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất đã mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí, nóng vội, bảo thủ và trì trệ; khơng tn theo các quy luật khách
quan, đặc biệt là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Trong xác lập
quan hệ sản xuất, chúng ta tuyệt đối hố vai trị của cơng hữu, làm cho quan hệ sản xuất chỉ còn tồn tại giản đơn
dưới hai hình thức tồn dân và tập thể; kỳ thị, nóng vội xố bỏ các thành phần kinh tế khác, khơng chấp nhận các
hình thức sở hữu hỗn hợp, sở hữu quá độ; xoá bỏ chế độ sở hữu tư nhân một cách ồ ạt, dẫn đến lực lượng sản xuất
khơng phát triển, tình trạng trì trệ kéo dài, sản xuất đình đốn, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn. Nền kinh tế
tăng trưởng thấp và thực chất không có phát triển. Sản xuất khơng có tích luỹ, chỉ số giá bán lẻ hàng hóa năm sau
so năm trước luôn tăng ở mức hai con số.
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã xác định: Phải từng bước xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nhằm phát triển lực lượng sản xuất, coi đó là tiêu chuẩn đánh giá
việc xây dựng quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ VI đã khẳng
định phải giải phóng sức sản xuất, đồng thời đưa ra chủ trương điều chỉnh lớn cơ cấu sản xuất, bố trí lại cơ cấu đầu
tư; xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản
xuất; cải tạo xã hội chủ nghĩa theo nguyên tắc bảo đảm phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và tăng thu
nhập cho người lao động
Nghị quyết Đại hội VIII đã chỉ rõ những yếu kém, khuyết điểm:
Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức mạnh tranh chấp. Nhịp độ tăng trưởng tổng sản phẩm
trong nước (GDP) nhịp độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp, dịch vụ, kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu… khơng
đạt chỉ tiêu đề ra. Nhìn chung, năng xuất lao động thấp, chất lượng sản phẩm chưa tốt, giá thành cao. Nhiều sản
phẩm nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp thiếu thị trường tiêu thụ trong cả nước và nước ngồi. Hệ
thống tài chính-ngân hàng cịn yếi kém và thiếu lành mạnh. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm. Cơ cấu đầu tư
chưa hợp lý, đầu tư cịn phân tán, lãng phí và thất thốt nhiều. Nhịp độ thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài
giảm, cơng tác quản lý, điều hành cơng tác này cịn nhiều vướng mắc và thiếu sót. Quan hệ một số mặt chưa
phù hợp. Kinh tế nhà nước chưa được củng cố tương xứng với vai trị chỉ đạo, chưa có chuyển biến đáng kể
trong việc sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước.
Một số vấn đề văn hoá-xã hội bức xúc và gay gắt chậm được giải quyết. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và nông
thôn còn ở mức cao. Các hoạt động khoa học và công nghệ chưa được đáp ứng tốt yêu cầu của sự nghiệp cơng
nghiệp hố, hiện đại hố, xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Cơ chế chính sách khơng đồng bộ và chưa tạo động lực mạnh để phát triển. Một số cơ chế, chính sách cịn
thiếu, chưa nhất qn, chưa sát với cuộc sống, thiếu tính khả thi. Nhiều cấp, ngành chưa thay thế, sửa đổi những
quy định về quản lý nhà nước khơng cịn phù hợp, chưa bổ sung những cơ chế, chính sách mới có tác dụng giải
phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất..Những chính sách mới của đảng và nhà nước đã thúc đẩy nền kinh tế nước
ta phát triển một cách mạnh mẽ.Sự thúc đẩy nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã
đưa nền kinh tế nước ta sang một bước đi mới. Mọi người được tự do kinh doanh buôn bán, các doanh nghiệp
kinh doanh hợp tác và cạnh tranh với nhau một cách bình đẳng trước pháp luật…Tất cả đều nhằm vào mục tiêu
duy nhất là thúc đẩy nền kinh tế nước nhà.
Tại Đại hội IX Đảng ta nhận định: “Cần phải nhân rộng mơ hình hợp tác, liên kết Công nghiệp và nông nghiệp,
doanh nghiệp nhà nước và kinh tế hộ nông thôn, phát triển các loại hình trang trại quy mơ phù hợp trên từng địa
bàn”. Trong sản xuất nông nghiệp, sự đa dạng của các thành phần kinh tế đã tạo ra cơ chế quản lý với nhiều
hình thức sản xuất nơng nghiệp mới phù hợp với những quan điểm đổi mới không ngừng của Đảng và nhờ đó,
tạo ra sự biến đổi mới trong các Hợp tác xã nông nghiệp trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất. Điều đó càng
khẳng định ý nghĩa to lớn của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất.
Nhưng dựa vào tiêu chuẩn nào để khẳng định rằng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất. Trước hết sự phù hợp đó thể hiện ở chỗ, hiệu quả sản xuất ngày càng cao (năm sau cao hơn năm
trước), mặc dù đất bị thiên tai nhiều bề và ít nhiều chịu ảnh hưởng của tình trạng suy thối kinh tế trong khu vực
và trên thế giới. Điều quan trọng nữa, khi nói quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất khơng thể khơng
nhìn vào đời sống của nơng dân, thực tế cho thế qua 15 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng đề ra, đời
sống của nông dân từng bước được nâng cao, điều kiện nhà ở và học tập của con em nông dân cũng khá hơn
trước.
2. Sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kỳ
đổi mới của nước ta
a) Thành tựu
Người lao động nước ta không ngừng được nâng cao về cả chất lượng và số lượng. Năm 2005, dân số lao động
hoạt động kinh tế ở nước ta là 42,53 triệu người, chiếm 51,2 tổng số dân, mỗi năm nước ta có thêm khoảng 1 triệu
lao động. Về chất lượng lao động, nếu như năm 1996, tỷ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo là 12,3% thì đến năm
2005 là 25%, như vậy số lao động đã qua đào tạo tăng 2,5 lần,…
Số lao động có chuyên môn kĩ thuật đang làm việc trong các đơn vị sản xuất kinh doanh chiếm khoảng 21% so
với tổng số lao động trong cả nước. Đội ngũ trí thức tăng nhanh, chỉ tính riêng số sinh viên cũng đã cho thấy sự
tăng nhanh vượt bậc. Số trí thức có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ cũng tăng nhanh. Năm 2008 nước ta có 275 trường
Trung cấp chuyên nghiệp, 209 trường cao đẳng, 160 trường Đại học và có tới 27.900 trường phổ thông, 226 trường
dân tộc nội trú được mở.
Nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần với các hình thức kinh doanh đa dạng, phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi tiềm năng của các
thành phần kinh tế gồm kinh tế nhà nước kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân , kinh tế tư
bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Các quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, quan hệ sản xuất tư bản,
manh mún của quan hệ sản xuất phong kiến… được công nhận.
b) Hạn chế
Nước ta tiến hành cơng nghiệp hố - hiện đại hoá đất nước trong điều kiện nền kinh tế mang nặng tính chất nơng
nghiệp lạc hậu , cơng nghiệp còn chiếm tỉ trọng nhỏ, tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người thua quá xa so
với các nước trong khu vực .
Sự sở hữu tư liệu sản xuất còn chưa đồng đều trong nhân dân dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo càng trở nên sâu sắc,
tạo nên sự phân tầng xã hội về mặt kinh tế trong đó tầng lớp trên chiếm tỉ trọng lớn tài sản và các ưu thế kinh tế và
tầng lớp dưới chiếm một tỉ trọng nhỏ các tài sản và một phần nhỏ các ưu thế kinh tế.
c) Nguyên nhân hạn chế
Mặc dù chất lượng nguồn lao động ngày càng được nâng cao nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát
triển của đất nước. So với yêu cầu hiện nay lực lượng lao động có trình độ vẫn còn mỏng, đặc biệt là đội ngũ cán
bộ quản lý, cơng nhân kỹ thuật lành nghề cịn thiếu nhiều, 75% lao động nước ta vẫn là lao động chưa qua đào tạo.
Các loại máy móc, trang thiết bị được sử dụng rộng rãi trong các ngành kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng sản
phẩm. Tuy nhiên nhìn chung cơng cụ lao động của nước ta vẫn còn lạc hậu so với thế giới. Máy móc phục vụ cho
sản xuất vẫn cịn chậm cải tiến, chủng loại máy móc nhìn chung khá nghèo nàn.
3. Giải pháp phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất phù hợp trong
thời kỳ đổi mới ở nước ta
a) Phương pháp phát triển lực lượng sản xuất
Điều đầu tiên mà chúng ta cần thực hiện để tiếp tục vận dụng tốt quy luật này chính là nâng cao chất lượng, trình
độ người lao động bằng cách mở các trường lớp đào tạo ngành nghề, đầu tư phát triển giáo dục. Tập trung vào việc
đào tạo các ngành nghề có nhu cầu lớn trong xã hội, chú trọng nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật cho người lao
động. Quan tâm, học hỏi chất lượng đào tạo nước ngồi.
Đồng thời, cải tạo các loại máy móc, dây chuyền sản xuất để nâng cao năng suất, khối lượng sản phẩm. Nhà nước
cần quan tâm đầu tư ứng dụng khoa học – kĩ thuật vào trong sản xuất cũng như việc nghiên cứu, sáng chế, mua các
thiết bị, máy móc sản xuất hiện đại.
b) Phương pháp hồn thiện các quan hệ sản xuất
Thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, thúc đẩy cơ cấu lại nền doanh nghiệp, và điều chỉnh chiến lược thị trường. Về sở
hữu, vẫn sẽ phát triển theo hướng tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau, nhiều thành phần kinh tế khác nhau.
Về quản lý, trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải có sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ
nghĩa. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, kế hoạch, chính sách đồng thời sử dụng cơ chế thị
trường, các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, phát huy tính tích
cực và hạn chế những mặt tiêu cực, khuyết tật của cơ chế thị trường…
Mặc dù quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đem lại cho ta những lợi
ích, hiệu quả lớn trong sự phát triển kinh tế của đất nước nhưng nếu áp dụng không đúng cách sẽ gây sai lầm.
Chính vì vậy chúng ta cần hiểu biết rõ quy luật để biết áp dụng một cách đúng đắn.
III.
KẾT LUẬN
Như vậy, trong thời kỳ này, nhà nước ta đã biết áp dụng đúng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển
của lực lượng sản xuất đã đem lại nhiều tín hiệu tích cực cho nền kinh tế nước nhà, đó là sự tăng nhanh về năng
suất, chất lượng sản phẩm, khiến cho Tổng sản phẩm trong nước mỗi năm tăng cao, Việt Nam từ một nước thiếu ăn
với nền kinh tế chậm phát triển đã vươn lên thành một nước xuất khẩu lương thực hàng đầu thế giới cũng như là
một nước có nền kinh tế đang phát triển.
C. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Triết học Mác – Lênin
2. Tạp chí triết học số 3 – 1997.
3. Tài liệu nghiên cứu văn kiện Đại hội VIII của Đảng5.
4. Tài liệu nghiên cứu văn kiện Đại hội IX của Đảng
5. Thực trạng QHSX ở Việt Nam
6. Mác – Tư bản tập I . NXB sự thật HN 1973