Tải bản đầy đủ (.pdf) (28 trang)

BÀI TẬP LỚN LỊCH SỬ ĐẢNG HCMUT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (386.57 KB, 28 trang )

1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA


BÀI TẬP LỚN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG
ĐỀ TÀI 1:
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI
QUÁ TRÌNH SÀNG LỌC NGHIÊM KHẮC LỊCH SỬ
VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM

LỚP L04--- NHÓM 04 --- HK222
NGÀY NỘP: 19/3/2023
Giảng viên hướng dẫn: NGUYỄN HỮU KỶ TỴ
Sinh viên thực hiện

Mã số sinh viên

Trần Bảo Khánh Duy

2012842

Trần Thị Thúy Duy

2012847

Đặng Quốc Đại

2012901

Nguyễn Phước Đại



2012904

Phạm Minh Đăng

2010220

Thành phố Hồ Chí Minh – 2023

Điểm số


2
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ..................................................................................................3
PHẦN NỘI DUNG .............................................................................................. 4
I. Bối cảnh lịch sử Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỉ XX ...................4
1.1.

Bối cảnh thế giới ..................................................................................4

1.2 Bối cảnh trong nước ....................................................................................5
II. Quá trình sàng lọc của lịch sử và dân tộc đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản
Việt Nam..........................................................................................................................9
2.1 Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến. ....................................9
2.2 Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản ...........................................13
2.3 Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng vô sản...........................................15
III. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ......................................................18
3.1. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và cương lĩnh chính trị đầu tiên ..........18
3.2. Giá trị của việc thành lập Đảng................................................................ 24

PHẦN KẾT LUẬN ............................................................................................ 26
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...........................................................27


3
PHẦN MỞ ĐẦU
Lịch sử Đảng Việt Nam luôn gắn liền với quá trình đấu tranh, xây dựng, bảo vệ
Tổ quốc. Và người sáng lập nên sự nghiệp đầy vẻ vang ấy khơng ai khác chính là vị lãnh
tụ vĩ đại của chúng ta, chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã ra đi tìm đường cứu nước để
giải phóng dân tộc khi chỉ mới 21 tuổi. Trong suốt q trình bơn ba khắp thế giới, Người
đã được tiếp xúc và nghiên cứu về chủ nghĩa Mác - Lênin, học tập kinh nghiệm của các
Đảng Cộng sản, Cách mạng tháng Mười Nga cũng như hiểu sâu sắc về đường lối giải
phóng dân tộc. Đó chính là con đường cách mạng vơ sản, là cơ sở để Đảng Cộng sản
Việt Nam ra đời.
Ngày 3 – 2 – 1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản là Đông Dương Cộng
sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên Đồn thành Đảng
Cộng sản Việt Nam thơng qua Chánh Cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình
vắn tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng hợp thành nội dung Cương lĩnh chính trị của Đảng.
Sự kiện này chính là kết quả của đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc ở nước ta trong
đầu thế kỉ XX, mở ra một con đường mới cho sự phát triển của đất nước ta.
Chúng em hiểu sự ra đời của Đảng chính là sự tiếp nối phong trào đấu tranh của
dân tộc từ thời phong kiến đến dân chủ tư sản nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc, là sự
kiện lịch sử vô cùng trọng đại, là bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử dân tộc
Việt Nam, là mốc son chói lọi trên con đường phát triển dân tộc ta. Vì vậy nhóm đã
quyết định chọn đề tài: “Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời – Quá trình sàng lọc nghiêm
khắc của lịch sử và dân tộc Việt Nam”. Chúng em hi vọng thơng qua đề tài này có thể
cung cấp cho mọi người nhiều kiến thức, giúp mọi người hiểu sâu hơn về sự ra đời của
Đảng và quá trình thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam. Cũng từ đó mà ni dưỡng thêm
tình u đối với lịch sử, với dân tộc và đất nước.



4
PHẦN NỘI DUNG
I.

Bối cảnh lịch sử Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỉ XX

1.1.

Bối cảnh thế giới

Từ nữa sau thế kỷ XIX, các nước tư bản Âu – Mỹ có những chuyển biến mạnh
mẽ trong đời sống kinh tế - xã hội. Chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang
giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Các nước tư bản phương Tây vừa đẩy mạnh xâm lược, áp
bức nhân dân các dân tộc thuộc địa, vừa tăng cường bóc lột nhân dân lao động trong
nước. Sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc làm cho đời sống nhân dân lao động các nước
trở nên cùng cực. Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày
càng gay gắt. Trước bối cảnh đó, nhân dân các dân tộc bị áp bức đã đứng lên đấu tranh
tự giải phóng khỏi ách thực dân, đế quốc, tạo thành phong trào giải phóng dân tộc mạnh
mẽ, rộng khắp.
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã làm biến đổi sâu
sắc tình hình thế giới, chủ nghĩa Mác - Lênin từ lý luận đã trở thành hiện thực, mở ra
một thời đại mới (thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc). Cách
mạng Tháng Mười Nga có tác động mạnh mẽ đến phong trào giải phóng dân tộc ở các
thuộc địa, ngày càng thúc đẩy tinh thần, tăng cường sức mạnh cho dân tộc ta.
Tháng 3/1919, Quốc tế Cộng sản do V.I. Lênin đứng đầu, được thành lập. Là tổ
chức lãnh đạo phong trào cách mạng vô sản thế giới, đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai
trị quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và thành lập Đảng Cộng sản
Việt Nam.

Bối cảnh thế giới vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX đã có tác động rất lớn
đến Việt Nam, đặc biệt là về mặt chính trị và kinh tế. Dưới đây là một vài tác động:
Sự đổi mới công nghiệp và kinh tế: Trong thời gian này, các nước phương Tây
đã phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghiệp và kinh tế, dẫn đến sự bùng nổ của
nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, Việt Nam lại không được hưởng lợi từ sự phát triển này
mà thậm chí cịn bị cướp đoạt các tài nguyên và lao động để phục vụ cho nhu cầu của
các nước đế quốc.


5
Cách mạng thế giới: Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của các phong trào cách mạng
và chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới, đặc biệt là sau khi Cách mạng Tháng Mười
Nga năm 1917 và Cách mạng Trung Quốc năm 1949.
Tác động của các thế lực lớn trong thế giới: Trong bối cảnh thế giới, Việt Nam
đã phải chịu sự ảnh hưởng của các thế lực lớn như Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô và Nhật
Bản. Những ảnh hưởng này đã tạo ra những biến động và khó khăn cho Việt Nam trong
quá trình đấu tranh độc lập và tự do của dân tộc.
Hội nhập toàn cầu: Việt Nam đã bắt đầu chủ động tham gia vào kinh tế toàn cầu
từ thập niên 1980, đưa đất nước trở thành một quốc gia xuất khẩu chủ yếu với nhiều
ngành sản xuất lớn, ví dụ như sản xuất giày dép, dệt may và sản xuất điện tử.
Tóm lại, bối cảnh thế giới vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX đã có tác động
to lớn đến Việt Nam trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ chính trị, kinh tế, xã hội cho đến
văn hóa và giáo dục. Góp phần thúc đẩy sự phát triển của các phong trào đấu tranh cho
độc lập và tự do của Việt Nam.
1.2 Bối cảnh trong nước
Là quốc gia Đông Nam Á nằm ở vị trị địa chính trị quan trọng của châu Á, Việt
Nam trở thành đối tượng nằm trong mưu đồ xâm lược của thực dân Pháp trong cuộc
chạy đua với nhiều đế quốc khác. Sau một quá trình điều tra thám sát lâu dài, thâm nhập
kiên trì của các giáo sĩ và thương nhân Pháp, ngày 1-9-1858, thực dân Pháp nổ súng
xâm lược Việt Nam tại Đà Nẵng và từ đó từng bước thơn tính Việt Nam. Đó là thời điểm

chế độ phong kiến Việt Nam (dưới triều đại phong kiến nhà Nguyễn) đã lâm vào giai
đoạn khủng khoảng trầm trọng. Trước hành động xâm lược của Pháp, Triều đình nhà
Nguyễn từng bước thỏa hiệp (Hiệp ước 1862, 1874, 1883) và đến ngày 6-6-1884 với
Hiệp ước Patơnốt (Patenotre) đã đầu hàng hoàn tồn thực dân Pháp.
Tuy triều đình nhà Nguyễn đã đầu hàng thực dân Pháp, nhưng nhân dân Việt
Nam vẫn không chịu khuất phục, thực dân Pháp dùng vũ lực để bình định, đàn áp sự nổi
dậy của nhân dân. Đồng thời với việc dùng vũ lực đàn áp đẫm máu đối với các phong
trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, thực dân Pháp tiến hành xây dựng hệ thống chính
quyền thuộc địa, bên cạnh đó vẫn duy trì chính quyền phong kiến bản xứ làm tay sai.
Pháp thực hiện chính sách “chia để trị” nhằm phá vỡ khối đồn kết cộng đồng quốc gia
dân tộc: chia ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với các chế độ chính trị khác nhau


6
nằm trong liên bang Đông Dương thuộc Pháp (Union Indochinoise) được thành lập ngày
17-10-1887 theo sắc lệnh của Tổng thống Pháp. Từ năm 1897, thực dân Pháp bắt đầu
tiến hành các cuộc khai thác thuộc địa lớn: Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (18971914) do tồn quyền Đơng Dương Paul Doumer (Pôn du me) thực hiện và khai thác
thuộc địa lần thứ hai (1919-1929). Mưu đồ của thực dân Pháp nhằm biến Việt Nam nói
riêng và Đơng Dương nói chung thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của “chính quốc”,
đồng thời ra sức vơ vét tài ngun, bóc lột sức lao động rẻ mạt của người bản xứ, cùng
nhiều hình thức thuế khóa nặng nề.
Chế độ cai trị, bóc lột hà khắc của thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam là
“chế độ độc tài chuyên chế nhất, nó vơ cùng khả ố và khủng khiếp hơn cả chế độ chuyên
chế của nhà nước quân chủ châu Á đời xưa”. Năm 1862, Pháp đã lập nhà tù ở Côn Đảo
để giam cầm những người Việt Nam yêu nước chống Pháp.
Về văn hoá-xã hội, thực dân Pháp thực hiện chính sách “ngu dân” để dễ cai trị,
lập nhà tù nhiều hơn trường học, đồng thời du nhập những giá trị phản văn hố, duy trì
tệ nạn xã hội vốn có của chế độ phong kiến và tạo nên nhiều tệ nạn xã hội mới, dùng
rượu cồn và thuốc phiện để đầu độc các thế hệ người Việt Nam, ra sức tuyên truyền tư
tưởng “khai hoá văn minh” của nước “Đại Pháp”, …

Chế độ áp bức về chính trị, bóc lột về kinh tế, nơ dịch về văn hóa của thực dân
Pháp đã làm biến đổi tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam. Các giai cấp cũ phân
hóa, giai cấp, tầng lớp mới xuất hiện với địa vị kinh tế khác nhau và do đó cũng có thái
độ chính trị khác nhau đối với vận mệnh của dân tộc.
Về kinh tế, Pháp không áp dụng những thành tựu của cuộc Đại Cơng Nghiệp mà
vẫn duy trì nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với khoảng 95% dân số là nơng dân với mục
đích kìm hãm sự phát triển kinh tế của nước ta. Thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc
địa Việt Nam một cách mạnh mẽ: về tài nguyên thiên nhiên, sức lao động… Từ năm
1897, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành các cuộc khai thác thuộc địa lớn: Cuộc khai thác
thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1914) và cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 1929). Mưu đồ của thực dân pháp nhằm biến Việt Nam nói riêng và Đơng Dương nói
chung thành “thị trường” tiêu thụ hàng hóa của chính quốc, đồng thời ra sức vơ vét tài
ngun, bóc lột sức lao động rẻ mạt của người bản xứ, cùng nhiều hình thức thuế khóa
nặng nề.


7
Về chính trị, sau khi xâm chiếm Việt Nam, Pháp không áp dụng những thành tựu
của cuộc Đại Cách Mạng Pháp năm 1789 để thủ tiêu chế độ phong kiến chuyên chế đã
lỗi thời, thay thế bằng chế độ chính trị mới tiến bộ hơn, trái lại những "nhà khai hố" lại
duy trì chế độ phong kiến để dùng người Việt trị người Việt. Pháp cịn thi hành chính
sách "chia để trị" hịng phá vỡ khối đồn kết cộng đồng quốc gia dân tộc: chia ba kỳ
(Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với các chế độ chính trị khác nhau.
Về văn hóa xã hội, người dân đối với nhà nước phong kiến từ xưa đến này đều
có tính thần phục, bị trị cao. Pháp thi hành chính sách ngu dân để dễ cai trị, lập nhà tù
nhiều hơn trường học, đồng thời du nhập những giá trị phản văn hóa, duy trì tệ nạn xã
hội vốn có của phong kiến và tạo nên nhiều tệ nạn xã hội mới, dùng rượu cồn và thuốc
phiện để đầu độc người Việt Nam. “Lúc ấy, cứ một nghìn làng thì có đến một nghìn năm
trăm đại lý bán lẻ rượu và thuốc phiện. Nhưng cũng trong số một nghìn làng đó lại chỉ
có vẻn vẹn mười trường học”. Chế độ đó đã làm hại giống nịi Việt Nam nhưng đem lại
nguồn thu khơng nhỏ cho những tên thực dân.

Dưới chế độ phong kiến, giai cấp địa chủ và nông dân là hai giai cấp cơ bản trong
xã hội, khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, giai cấp địa chủ bị phân hóa. Một bộ
phận địa chủ câu kết với thực dân Pháp và làm tay sai đắc lực cho Pháp trong việc ra
sức đàn áp phong trào yêu nước và bóc lột nông dân; Một bộ phận khác nêu cao tinh
thần dân tộc khởi xướng và lãnh đạo các phong trào chống Pháp và bảo vệ chế độ phong
kiến, tiêu biểu là phong trào Cần Vương; Một số trở thành lãnh đạo phong trào nông
dân chống thực dân Pháp và phong kiến phản động; Một bộ phận nhỏ chuyển sang kinh
doanh theo lối tư bản.
Giai cấp nông dân chiếm số lượng đông đảo nhất (khoảng hơn 90% dân số), đồng
thời là một giai cấp bị phong kiến, thực dân bóc lột nặng nề nhất. Do vậy, ngoài mâu
thuẫn giai cấp vốn có với giai cấp địa chủ, từ khi thực dân Pháp xâm lược, giai cấp nơng
dân cịn có mâu thuẫn sâu sắc với thực dân xâm lược.
Giai cấp công nhân Việt Nam được hình thành gắn với các cuộc khai thác thuộc
địa, với việc thực dân Pháp thiết lập các nhà máy, xí nghiệp, cơng xưởng, khu đồn điền...
Ngồi những đặc điểm của giai cấp công nhân quốc tế, giai cấp cơng nhân Việt
Nam có những đặc điểm riêng vì ra đời trong hoàn cảnh một nước thuộc địa nửa phong
kiến, chủ yếu xuất thân từ nông dân, cơ cấu chủ yếu là công nhân khai thác mỏ, đồn


8
điền, lực lượng còn nhỏ bé, nhưng sớm vươn lên tiếp nhận tư tưởng tiên tiến của thời
đại, nhanh chóng phát triển từ “tự phát” đến “tự giác”, thể hiện là giai cấp có năng lực
lãnh đạo cách mạng.
Giai cấp tư sản Việt Nam xuất hiện muộn hơn giai cấp cơng nhân. Một bộ phận
gắn liền lợi ích với tư bản Pháp, tham gia vào đời sống chính trị, kinh tế của chính quyền
thực dân Pháp, trở thành tầng lớp tư sản mại bản. Một bộ phận là giai cấp tư sản dân tộc,
họ bị thực dân Pháp chèn ép, kìm hãm, bị lệ thuộc, yếu ớt về kinh tế. Vì vậy, phần lớn
tư sản dân tộc Việt Nam có tinh thần dân tộc, u nước nhưng khơng có khả năng tập
hợp các giai tầng để tiến hành cách mạng.
Tầng lớp tiểu tư sản (tiểu thương, tiểu chủ, sinh viên, …) bị đế quốc, tư bản chèn

ép, khinh miệt, do đó có tinh thần dân tộc, yêu nước và rất nhạy cảm về chính trị và thời
cuộc. Tuy nhiên, do địa vị kinh tế bấp bênh, thái độ hay dao động, thiếu kiên định, do
đó tầng lớp tiểu tư sản không thể lãnh đạo cách mạng. Các sĩ phu phong kiến cũng có
sự phân hóa. Một bộ phận hướng sang tư tưởng dân chủ tư sản hoặc tư tưởng vô sản.
Một số người khởi xướng các phong trào yêu nước có ảnh hưởng lớn.
Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, Việt Nam đã có sự biến đổi rất quan trọng cả
về chính trị, kinh tế, xã hội. Chính sách cai trị và khai thác bóc lột của thực dân Pháp đã
làm phân hóa những giai cấp vốn là của chế độ phong kiến (địa chủ, nông dân) đồng
thời tạo nên những giai cấp, tầng lớp mới (công nhân, tư sản dân tộc, tiểu tư sản) với
thái độ chính trị khác nhau. Những mâu thuẫn mới trong xã hội Việt Nam xuất hiện.
Trong đó, mâu thuẫn giữa tồn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và phong kiến
phản động trở thành mâu thuẫn chủ yếu nhất và ngày càng gay gắt.1

1
Bộ giáo dục và đào tạo (2021), Giáo trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Dành cho bậc đại học hệ
khơng chun lí luận chính trị), Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, trang 38.


9
II. Quá trình sàng lọc của lịch sử và dân tộc đối với sự ra đời của Đảng Cộng
sản Việt Nam
2.1 Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến.
Ngay từ cuối thế kỷ XIX, khi triều đình nhà Nguyễn lần lượt ký các hiệp ước ácMăng năm (1883) và Patơnốt năm (1884) đầu hàng thực dân Pháp song phong trào
chống thực dân Pháp vẫn diễn ra mạnh mẽ tiêu biểu nhất là phong trào Cần Vương năm
(1885-1896) một phong trào đấu tranh vũ trang do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết
phát động, phong trào chia làm hai giai đoạn:
Giai đoạn một: Năm (1885-1888) đây là giai đoạn phong trào Cần Vương đặt
dưới sự chỉ huy tương đối thống nhất của triều đình. Mở đầu là các cuộc nổi dậy của
Văn Thân Nghệ An và Hà Tĩnh và sau đó liên tục các cuộc nổi dậy ở Quảng Bình, Quảng
Trị, Thanh Hố, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú n, Khánh Hồ, Thái Bình, Nam Định…

nên thời kỳ này phong trào nổ ra rầm rộ tại các tỉnh Bắc vàTrung Bộ. Khi vua Hàm Nghi
bị bắt ngày 1/11/1888, phong trào vẫn tiếp tục kéo dài đến thế kỷ XIX và có xu hướng
ngày càng đi vào chiều sâu.
Giai đoạn hai: Năm (1888-1896) phong trào Cần Vương khơng cịn đặt dưới sự
lãnh đạo của triều đình kháng chiến nữa, nhưng vẫn tiếp tục được duy trì và quy tụ xung
quanh những cuộc khởi nghĩa lớn như: Khởi nghĩa Ba Đình năm (1881-1887) do Đốc
học Phạm Bành và Đinh Công Tráng lãnh đạo, dựa vào địa thế của ba làng Mởu Thịnh,
ThươngThọ, Mã Khê, nghĩa quân đã xây dựng Ba Đình thành một cứ điểm kháng Pháp
kiên cố. Nghĩa quân Ba Đình với tinh thần chiến đấu quả cảm, quyết tâm cao và sự giúp
đỡ của nhân dân đã đánh lui nhiều đợt tấn công của địch, tiêu diệt hàng trăm tên. Ngoài
việc xây dựng và bảo vệ căn cứ nghĩa quân Ba Đình cịn tổ chức các cuộc phục kích,
chặn đánh các đồn xe địch và tập kích tiêu diệt các toán quân của giặc đi lẻ. Trước sự
phát triển lớn mạnh của nghĩa quân thực dân Pháp đã huy động một lực lượng lớn quân
lính đàn áp nghĩa quân tuy chiến đấu dũng cảm nhưng do lực lượng quá chênh lệch cuối
cùng khởi nghĩa đã thất bại, căn cứ Ba Đình vỡ, một bộ phận nghĩa quân rút lên rừng
núi gia nhập các toán nghĩa binh khác.
Khởi nghĩa Bãi Sậy (1882-1893) do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo, địa bàn là
vùng lau lách um tùm thuộc các huyện Văn Giang, Khoái Châu, Mỹ Hào (Hưng Yên).
Được nhân dân ủng hộ, nghĩa quân Bãi Sậy đã thoắt ẩn, thoắt hiện áp dụng có hiệu quả


10
chiến thuật du kích, gây cho địch nhiều tổn thất. Trong suốt mười năm, nghĩa quân Bãi
Sậy hoạt động quấy rối, tiến công, tiêu hao sinh lực địch. Nhiều cuộc phục kích, đánh
địn, chặn đường giao thơng diễn ra liên tục ở khắp nơi gây cho địch những tổn thất
nghiêm trọng. Ngày 11/11/1888 nghĩa quân tổ chức đánh úp đội quân địch ở Liêu Trung
(Mĩ Hào, Hưng Yên) diệt ba mươi mốt tên, trong đó có tên chỉ huy, gây tiếng vang lớn,
làm nức lịng nhân dân để đối phó với nghĩa quân thực dân Pháp đã tập trung binh lực
và sử dụng các tên tay sai như Nguyễn Trọng Hợp, Hoàng Cao Khải mở cuộc càn quét
lớn nhằm vào xung quanh Bãi Sậy, rồi bao vây chặt nghĩa quân. Nghĩa quân chiến đấu

anh dũng song cuối cùng khởi nghĩa đã hoàn toàn thất bại, những người lãnh đạo đều
hy sinh. Nguyên nhân thất bại của khởi nghĩa Bãi Sậy và các phong trào yêu nước nói
trên là do: đều ở trong tình thế bị động; lực lượng ta và địch không cân xứng; khuynh
hướng phong kiến đã lỗi thời, bế tắc về đường lối đấu tranh; chưa tập hợp được sức
mạnh của quần chúng nhân dân, chưa thấy được sức mạnhvà khả năng lãnh đạo của giai
cấp công nhân và chưa đồn kết được họ; chưa có chính Đảng là Đảng cộng sản lãnh
đạo.
Khởi nghĩa Hùng Lĩnh năm (1887-1892) do Tống Duy Tân và Cao Điển lãnh đạo
căn cứ chính là Hùng Lĩnh, ngồi ra nghĩa qn cịn mở rộng hoạt động đến các vùng tả
hữu ngọn sông Mã, phối hợp với Đề Kiều, Đốc Ngữ chống phá ở vùng hạ lưu sơng Đà,
với Phan Đình Phùng ở Hưng Khê. Về tổ chức, nghĩa quân Hùng Lĩnh lập ra các cơ sở
(khoảng 200 người) lấy tên huyện đặt tên cho đơn vị như Tống Thanh Cơ, Nông Thanh
Cơ… trong những năm 1889, 1890, nghĩa quân đã tổ chức những trận đánh lớn, gây cho
địch nhiều tổn hại. Sau các cuộc càn quét của địch, nghĩa quân phải ở dần lên vùngTây
Bắc của Thanh Hoá. Tại đây họ được bổ sung thêm lực lượng và đẩy mạnh hoạt động
3/1980, thực dân Pháp liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, địa bàn hoạt động của
nghĩa quân bị thu hẹp nhiều và cuối cùng cũng bị thất bại. Mặc dù có một số thắng lợi,
nhưng lực lượng nghĩa quân ngày một hao mòn, việc bổ sung quân số chậm chạp, vì
nhân dân bị đối phương khủng bố quá dữ nên không dám đi theo và cung ứng đầy đủ
các thứ nữa. Trái lại, đối phương tuy có hao tổn nhiều nhưng việc tiếp vận điều hịa, và
ln có sẵn những lực lượng hùng hậu để đàn áp.
Khởi nghĩa Hương Khê: Năm (1885-1888) do Phan Đình Phùng lãnh đạo. Cuộc
khởi nghĩa phát triển qua hai giai đoạn: Thời kỳ xây dựng lực lượng năm (1885-1896)


11
và thời kỳ chiến đấu của nghĩa quân năm (1888-1896) trên cơ sở của một loạt các cuộc
nổi dậy hưởng ứng chiếu cần vương nổ ra từ năm 1885, trong đó có các cuộc khởi nghĩa
của Lê Ninh (La Sơn) Cao Thắng (Hương Sơn), Nguyễn Thạch, Ngô Quảng, Hà Văn
Mĩ (Nghi Xuân), … Phan Đình Phùng đã tập hợp và phát triển thành một phong trào

chống Pháp có quy mơ lớn bao gồm bốn tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thanh
Hóa. Người trợ thủ đắc lực nhất của Phan Đình Phùng là và cũng là một chỉ huy xuất
sắc của khởi nghĩa Hương Khê là Cao Thắng. Dựa vào địa hình núi non hiểm trở của
bốn tỉnh, Nghĩa quân Hương Khê lập một căn cứ kháng Pháp, trong đó có các căn cứ
nổi tiếng như là Cồn Chùa, Thương Bồng, Hạ Bồng, Vụ Quang… và quan trọng nhất là
căn cứ Vụ Quang. Điểm nổi bật của khởi nghĩa Hương Khê là một tổ chức tương đối
chặt chẽ và quy mơ rộng lớn và hoạt động dai dẳng của nó. Nghĩa quân Hương Khê
được tổ chức thành mười lăm quân thứ. Các quân thứ này mang tên địa phương là con
thứ (Huyện Cam Lộ), Hương Thứ (Huyện Hương Sơn), …
Sang đầu năm 1891, mặc dù địch đã bình định được Nghệ An, Hà Tĩnh nhưng
nghĩa quân đã vẫn hoạt động mạnh. Đầu năm 1892, họ đánh địch ở khu Trường Xim,
Hói Trùng, ngày 23/8/1892 tập kích thị xã Hà Tĩnh, phá nhà lao, giải phóng tù nhân.
Tuy nhiên sau các cuộc chiến đấu liên tục, lực lượng nghĩa quân ngày một hao mịn.
Trong khi đó các cuộc khởi nghĩa Ba Đình, Bãi Sậy, Hùng Lĩnh đang lần lượt bị dập tắt.
Thực dân Pháp càng có điều kiện tập trung để tiêu diệt khởi nghĩa cũng ngày càng bị cô
lập, không thể liên lạc ứng cứu cho nhau. Sau cuộc đánh lớn nhằm phá thế bao vây của
địch, Cao Thắng bị thương rồi hi sinh. Đây là tổn thất lớn cho khởi nghĩa và khởi nghĩa
Hương Khê bước vào giai đoạn đối phó bị động chống lại các cuộc càn quét của địch.
Trong cuộc chiến đấu ác liệt dể bảo vệ căn cứ, chủ tướng Phan Đình Phùng bị
thương nặng và hi sinh. Đến đây thì khởi nghĩa Hương Khê chấm dứt. Khởi nghĩa thất
bại song là cuộc khởi nghĩa lớn nhất trong phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế
kỷ XIX. Cuộc khởi nghĩa này đã được duy trì suốt mười năm, hoạt động trên một địa
bàn rộng lớn và được ủng hộ của quần chúng nhân dân. Sau khởi nghĩa Hương Khê,
phong trào Cần Vương về cơ bản đã chấm dứt nhưng nhiều nhà yêu nước vẫn nổi dậy
chống Pháp. Một số theo khuynh hướng mới, một số tham gia vào các hoạt động của
khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám lãnh đạo năm (1884-1913). Cùng thời gian
này cịn có cuộc khởi nghĩa n Thế do Hồng Hoa Thám lãnh đạo là cuộc khởi nghĩa


12

lớn nhất, bền bỉ nhất, tiêu biểu cho tinh thần bất khuất của nhân dân trong phong trào
chống phá cuối thế kỷ XIX khởi nghĩa diễn ra sâu rộng thu hút đơng đảo nhân dân tham
gia, dưới nhiều hình thức đấu tranh khác nhau đã làm cho thực dân Pháp trước sức mạnh
của nhân dân và làm tiêu hao nhiều sinh lực của địch. Cuộc khởi nghĩa diễn ra bốn giai
đoạn song nghĩa quân đều rất anh dũng, sẵn sàng hi sinh, lại được sự ủng hộ đông đảo
của nhân dân nên ngày một lớn mạnh. Tuy nhiên thực dân Pháp đã tập trung lực lượng
lớn càn quét, bắn giết trước sự chênh lệch lớn về lực lượng khởi nghĩa đã thất bại. Tuy
vậy khởi nghĩa Yên Thế là phong trào đấu tranh lớn nhất của nhân dân trong nhưng năm
cuối thế kỷ XIX. Sự tồn tại bền bỉ dẻo dai của phong trào đã phản ánh sức mạnh to lớn
tiềm tàng của nhân dân nước ta. Ngồi ra cịn một loạt cuộc nổi dậy của nhân dân ta đã
nổ ra tiêu biểu là các cuộc nổi dậy của đồng bào dân tộc Stiêng, Mơnông ở nam bộ, của
đông bào Mường, … Nguyên nhân thất bại của khởi nghĩa Hương Khê là mặc dù quy

tập được nhiều liệt sĩ trên 4 địa bàn rộng lớn nhưng các cuộc khởi nghĩa Hương Khê
vẫn chưa liên kết, tập hợp được lực lượng trên phạm vi rộng khắp cả nước. Thứ hai,
hạn chế vì khẩu hiệu chiến tranh, sự khác biệt về vũ khí và đạn dược. Cuối cùng là
tương quan lực lượng quá chênh lệch giữa ta và địch.
Thất bại chung của cả 3 cuộc khởi nghĩa chủ yếu là do nghĩa quân chưa liên kết,
tập hợp lực lượng phát triển thành phong trào tồn quốc.Đó cũng là những hạn chết của
thời đại, của bộ phận lãnh đạo phong trào Cần Vương nói chung.Thất bại của phong trào
cần vương chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trong việc giải quyết nhiệm
vụ dành độc lập cho lịch sử đặt ra và từ đây phong trào cách mạng Việt Nam chuyển
sang giai đoạn mới.1

Trần Bình Định , khai quat cac phong trao yeu nuoc viet nam theo khuynh huong phong kien va tu san
cuoi the ky xix dau the ky xx, />1


13
2.2 Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản

Vào đầu thế kỷ XX phong trào yêu nước dưới sự lãnh đạo của tầng lớp sỹ phu
tiến bộ, chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản diễn ra hết sức sôi nổi về mặt
phương pháp tầng lớp sĩ phu lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ 20 với
sự phân hóa thành hai xu hướng:
Một bộ phận chủ trương đánh đuổi thực dân Pháp giành lại độc lập dân tộc khôi
phục chủ quyền quốc gia, đại diện cho xu hướng bạo động đó chính là cụ Phan Bội Châu
với chủ trương dùng biện pháp bạo động để đánh đuổi thực dân Pháp khôi phục nền độc
lập cho dân tộc.
Đầu thế kỷ XX Phan Bội Châu chủ trương tập hợp lực lượng và phương pháp
bạo động chống Pháp. Xây dựng chế độ chính trị theo mơ hình qn chủ lập hiến như
Nhật Bản. Tư tưởng của ơng là dựa vào sự giúp đỡ bên ngồi, chủ yếu là Nhật Bản để
đánh Pháp giành độc lập dân tộc, thiết lập một nhà nước. Ông lập ra Hội Duy Tân (1904),
Tổ chức Phong trào Đông Du (1906 -1908), Chủ trương dựa vào đế quốc Nhật để chống
đế quốc Pháp không thành, ông về Xiêm nằm chờ thời.
Giữa lúc đó cách mạng Tân Hợi bùng nổ và thắng lợi (1911). Ông về Trung Quốc
lập ra Việt Nam Quang phục Hội (1912) với ý định tập hợp lực lượng rồi kéo quân về
nước võ trang bạo động đánh Pháp, giải phóng dân tộc nhưng rồi cũng khơng thành
cơng. Năm 1925, Phan Bội Châu bị bắt ở Thượng Hải và bị kết án khổ sai chung thân.
Năm 1940 ông mất tại quê nhà.
Một bộ phận khác lại cải cách và cho rằng cải cách là giải pháp để tiến tới khôi
phục độc lập đại diện cho xu hướng cải cách là cụ Phan Chu Trinh và những người cùng
chí hướng, không đấu tranh theo xu hướng bạo động, chủ trương vận động cải cách văn
hóa xã hội.
Động viên lịng u nước trong nhân dân đã kích bọn vua quan phong kiến thối
nát đề xướng tư tưởng dân chủ tư sản. Thực hiện cải cách văn hóa, khai dân trí, chấn
dân khí, hậu dân sinh mở mang dân quyền, phản đối đấu tranh vũ trang và cầu ngoại
viện. Phát triển kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa trong khuôn khổ hợp pháp, làm cho
dân giàu nước mạnh, buộc thực dân Pháp phải trao trả độc lập cho nước Việt Nam.
Ở Bắc Kỳ, có việc mở trường học, giảng dạy và học tập theo những nội dung và
phương pháp mới tiêu biểu là trường Đông Kinh Nghĩa Thục Hà Nội. Ở Trung Kỳ có



14
cuộc vận động Duy Tân, hô hào thay đổi phong tục, nếp sống, kết hợp với phong trào
đấu tranh chống thuế (1908). Tuy nhiên sự hạn chế trong xu hướng cải cách này là Phan
Châu Trinh không rõ bản chất đế quốc thực dân nên chẳng khác nào là đặt vận mệnh
dân tộc vào sự độ lường của Pháp hay như xin giặc rủ lòng thương. Phong trào Duy Tân
ở Trung Kỳ và Nam Kỳ sau này bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu. Bản thân Phan Châu
Trinh cũng bị đày ra Côn Đảo.
Như vậy do những hạn chế về lịch sử về gia cấp nên Phan Bội Châu và Phan
Châu Trinh cũng như các sỹ phu cấp tiến lãnh đạo phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX
không thể tìm được một phương hướng giải quyết chính xác cho cuộc đấu
Năm 1927-1930, phong trào cách mạng quốc gia tư sản gắn liền với sự ra đời và
hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng (25-12-1927) do Nguyễn Thái Học lãnh đạo.
Đây là tổ chức chính trị tiêu biểu nhất của khuynh hướng tư sản của Việt Nam, tập hợp
các thành phần tư sản, tiểu tư sản, địa chủ và cả hạ sĩ quan Việt Nam trong quân đội
Pháp.
Về tư tưởng, Việt Nam Quốc dân Đảng mô phỏng theo chủ nghĩa Tam Dân của
Tơn Trung Sơn. Về chính trị, Việt Nam Quốc dân Đảng chủ trương đánh đuổi đế quốc,
xoá bỏ chế độ vua quan thành lập dân quyền. Nhưng chưa bao giờ có một đường lối
chính trị cụ thể, rõ ràng. Về tổ chức, Việt Nam Quốc dân Đảng chủ trương xây dựng các
cấp từ Trung ương đến cơ sở nhưng cũng chưa bao giờ có một hệ thống tổ chức thống
nhất.
Ngày 19-2-1929 một số đảng viên của Việt Nam Quốc dân Đảng ám sát lên trùm
mộ phu Badanh (Bazin) tại Hà Nội. Thực dân pháp điên cuồng khủng bố phong trào yêu
nước, Việt Nam Quốc dân Đảng bị tổn thất nặng nề nhất. Trong tình thế hết sức bị động,
các lãnh đạo của Đảng quyết định dốc toàn bộ lực lượng vào một trận chiến cuối cùng
với tư tưởng “không thành công cũng thành nhân”. Phong trào bị thất bại, biểu hiện tính
chất hấp tấp của tiểu tư sản, tính chất hăng hái nhất thời và đồng thời cũng biểu lộ tính
chất khơng vững chắc, non yếu của phong trào tư sản.

Ngoài ra trong giai đoạn này, cũng kể đến các phong trào đấu tranh tiêu biểu khác
như đấu tranh của Tân Việt Cách mạng Đảng, Việt Nam Nghĩa Đồn… nhìn chung các
phong trào u nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam đã diễn ra liên tục,


15
sôi nổi lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia với những hình thức đấu tranh phong
phú, thể hiện ý thức dân tộc, tinh thần chống đế quốc của giai cấp tư sản Việt Nam.
Nhưng cuối cùng đều thất bại vì giai cấp tư sản Việt Nam rất nhỏ yếu cả về kinh tế
và chính trị nên khơng đủ sức giương cao ngọn cờ lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân
tộc. Các phong trào và tổ chức trên, do những hạn chế về giai cấp và đường lối chính
trị, hệ thống tổ chức lại thiếu chặt chẽ, chưa tập hợp được rộng rãi lực lượng của dân
tộc, nhất là chưa tập hợp được hai lực lượng xã hội cơ bản là công nhân và nông dân
nên đến cuối cùng cũng không thành công. Mặc dù thất bại nhưng các phong trào yêu
nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước
của nhân dân ta, bồi đắp thêm cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đặc biệt góp phần thúc
đẩy những nhà u nước, nhất là lớp thanh niên trí thức có khuynh hướng dân chủ tư
sản chọn lựa một con đường mới, một giải pháp giải cứu đất nước, giải phóng dân tộc
theo xu hướng mới của thời đại và nhu cầu mới của nhân dân Việt Nam.
2.3 Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng vô sản
Năm 1911, Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước trong quá trình tìm đường
cứu nước người đã tìm hiểu kỹ các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới người đánh
giá cao tư tưởng tự do bình đẳng bác ái và quyền con người của các cuộc cách mạng tư
sản. Tiêu biểu như cách mạng Mỹ 1776, cách mạng Pháp 1789 nhưng cũng nhận thức
rõ được những hạn chế của các cuộc cách mạng tư sản. Người cho rằng những cuộc cách
mạng trên là cách mạng chưa đến nơi bởi vì sau cách mạng quần chúng nhân dân vẫn bị
áp bức bóc lột. Từ đó Nguyễn Ái Quốc khẳng định con đường cách mạng tư sản không
thể đưa lại độc lập và hạnh phúc thực sự cho nhân dân các nước nói chung trong đó có
nhân dân Việt Nam nói riêng.
Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm tìm hiểu cách mạng Tháng Mười Nga năm

1917, Người rút ra kết luận trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga được đã thành
công và thành công đến nơi nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do bình
đẳng thật. Vào tháng 7 năm 1920 Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những
luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo Nhân đạo,
người tìm thấy trong luận cương của Lênin lời giải đáp về con đường giải phóng cho
nhân dân Việt Nam về vấn đề thuộc địa trong mối quan hệ với phong trào cách mạng


16
thế giới Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa mác-lênin tin theo chủ nghĩa mác-lênin
và đứng về phía Quốc tế cộng sản.
Tại Đại hội Đảng xã hội Pháp tháng 12 năm 1920 Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán
thành việc gia nhập quốc tế cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Sự
kiện này đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của người, từ người
yêu nước trở thành người cộng sản và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn, đó là
muốn cứu nước giải phóng dân tộc khơng có con đường nào khác là con đường cách
mạng vô sản. Từ đây cùng với việc thực hiện nhiệm vụ đối với phong trào cộng sản
quốc tế, Nguyễn Ái Quốc xúc tiến truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin vạch phương hướng
chiến lược cách mạng Việt Nam và chuẩn bị điều kiện để thành lập Đảng cộng sản Việt
Nam.
Qúa trình Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện thành lập Đảng được đánh dấu
bằng việc người tích cực truyền bá ơngc vchủ nghĩa mác-lênin vào Việt Nam thông qua
những bài đăng trên các báo Người Cùng Khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân và xuất
bản một số tác phẩm. Đặc biệt là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp năm 1925 tác
phẩm này đã vạch rõ âm mưu và thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc che giấu tội ác dưới
cái vỏ bọc khai hóa văn minh. Từ đó khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, thức tỉnh
tinh thần dân tộc nhằm đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược.
Tháng 11 năm 1924 Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu Trung Quốc. Tháng 6
năm 1925 người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, chương trình và điều
lệ của hội nêu rõ mục đích là làm Cách mạng dân tộc và cách mạng thế giới sau khi cách

mạng thành công. Hội chủ trương thành lập chính phủ nhân dân mưu cầu hạnh phúc cho
nhân dân tiến lên xây dựng xã hội cộng sảnchủ nghĩa, thực hiện đồn kết với giai cấp
vơ sản các nước với phong trào cách mạng thế giới.
Từ năm 1925 đến năm 1927 Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã mở các lớp
huấn luyện chính trị cho cán bộ cách mạng Việt Nam, hội đã xây dựng được nhiều cơ
sở ở các trung tâm kinh tế chính trị trong nước. Năm 1928 hội thực hiện chủ trương vơ
sản hóa, đưa hội viên vào nhà máy, hầm mỏ, đồn điền để rèn luyện lập trường quan điểm
giai cấp công nhân. Để truyền bá chủ nghĩa mác-lênin và lý luận giải phóng dân tộc
nhằm thúc đẩy sự phát triển của phong trào cách mạng Việt Nam. Ngoài việc trực tiếp
huấn luyện cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Nguyễn Ái Quốc còn lựa


17
chọn những thanh niên Việt Nam ưu tú gửi đi học tại trường Đại học Phương Đông ở
Liên Xô và trường Lục Quân Hoàng Phố ở Trung Quốc nhằm đào tạo cán bộ cho cách
mạng Việt Nam.
Quan điểm cách mạng củaNguyễn Ái Quốc đã thức tỉnh và giác ngộ quần chúng,
thúc đẩy phong trào đấu tranhyêu nước của nhân dân phát triển theo con đường cách
mạng vô sản. Năm 1927 bộ tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức xuất
bản tác phẩm “Đường Cách Mệnh” tập hợp các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc ở lớp
huấn luyện chínhtrị của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Ở đường cách mệnh chỉ
rõ tính chất vànhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc mở
đường tiếnlên chủ nghĩa xã hội. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng làm việc chung
của cả dân chúng chứ không phải việc của một hai người, do đó phải đồn kết tồn dân.
Nhưng cái cốt của nó là công nông, là người chủ cách mạng, công nông là gốc Cách
Mệnh. Nguyễn Ái Quốc khẳng định muốn thắng lợi thì cách mạng phải có một Đảng
lãnh đạo Đảng có vững cách mạng mới thành cơng, cũng như những người cầm lái có
vững thì thuyền mới chạy, Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, chủ nghĩa
chân chính nhất chắc chắn nhất đó chính là chủ nghĩa Lênin.
Về vấn đề đoàn kết quốc tế của cách mạng Việt Nam Nguyễn Ái Quốc xác định

Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mạng thế giới, ai làm cách mệnh
trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả. Về phương pháp cách mạng Nguyễn
Ái Quốc nhấn mạnh đến việc về giác ngộ và tổ chức quần chúng cách mạng phải làm
cho quần chúng hiểu rõ mục đích cách mạng nhất đồng tâm hiệp lực để đánh đổ giai cấp
áp bức mình. Làm cách mệnh phải biết cách làm phải có mưu trước có như thế mới đảm
bảo thành công cho cuộc khởi nghĩa với sự nổi dậy của toàn dân. Tác phẩm “Đường
cách mệnh” đã đề cập những vấn đề cơ bản của một cương lĩnh chính trị chuẩn bị về tư
tưởng chính trị cho việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam. Đường Cách mệnh có giá
trị lý luận và thực tiễn to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Có thể thấy tính khoa học và
cách mạng triệt để của đường lối cứu nước do Nguyễn Ái Quốc đề xướng có sức cuốn
hút mạnh mẽ nhiều thanh niên yêu nước. Con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc đã
mở đường giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước ở nước ta dẫn đến sự ra
đời của các tổ chức cộng sản vào nửa cuối năm 1929 và Đảng cộng sản Việt Nam đầu
năm số 1930.


18
III. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
3.1. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và cương lĩnh chính trị đầu tiên
Sự ra đời của Đảng Cộng sản VN
Cuối năm 1929, những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức cộng sản
đã nhận thức được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập một Đảng Cộng sản thống
nhất, chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào cộng sản ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã
chủ động tổ chức và chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng tại Hương Cảng, Trung Quốc từ
ngày 6 tháng 1 đến ngày 7/2/1930.
Hội nghị đã quyết định hợp nhất các tổ chức Đảng (Đông Dương Cộng sản Đảng,
An Nam Cộng sản Đảng, Đơng Dương Cộng sản Liên đồn) thành Đảng Cộng sản Việt
Nam. Hội nghị thảo luận và thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, Sách lược
vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản. Những văn kiện đó
do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được Hội nghị hợp nhất Đảng thông qua là sự vận dụng

sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Hội nghị
thông qua lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng
sản Việt Nam gửi đến đồng bào, đồng chí trong cả nước nhân dịp thành lập Đảng.
Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản có ý nghĩa như là một Đại hội thành lập
Đảng. Những văn kiện được thông qua tại Hội nghị hợp nhất do Nguyễn Ái Quốc chủ
trì chính là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
III của Đảng đã quyết nghị lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch hằng năm làm ngày kỷ niệm
thành lập Đảng.
Sự ra đời của Cương lĩnh chính trị Đảng:
Trong bối cảnh dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước,
nhiều nhà yêu nước đương thời tiếp tục con đường cứu nước lối cũ thì ngày 5/6/1911 tại
bến cảng Nhà Rồng người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường
cứu nước. Người đã bôn ba qua nhiều nước đế quốc và thuộc địa, khảo sát, đúc kết kinh
nghiệm thực tiễn, cuối cùng Người đã bắt gặp và lựa chọn chủ nghĩa Mác - Lênin, xác
định con đường cứu nước, giải phóng dân tộc là cách mạng vơ sản.
Định hướng đúng đắn đó nhanh chóng đưa tới sự phát triển của Hội Việt Nam
Cách mạng Thanh niên và những chuyển biến tích cực của Đảng Tân Việt; phong trào
cơng nhân, nơng dân và các tầng lớp khác không ngừng mở rộng và phát triển về quy


19
mô và vận động theo xu hướng vô sản, tác động tích cực lẫn nhau dẫn tới sự ra đời của
3 tổ chức cộng sản. Ngày 17/6/1929, Kỳ Bộ Bắc Kỳ Hội Việt Nam cách mạng Thanh
niên đã thành lập Đơng Dương Cộng sản Đảng. Tháng 11/1929, các đồng chí của Hội
Việt Nam cách mạng Thanh niên quyết định thành lập An Nam Cộng sản Đảng. Ngày
1/1/1930, những đại biểu ưu tú của Tân Việt cách mạng Đảng đã thành lập Đơng Dương
Cộng sản Liên Đồn ở Trung Kỳ. Tuy nhiên ở một nước có tới ba tổ chức cộng sản nên
không tránh khỏi sự phân tán về lực lượng và tổ chức, không thể thống nhất về tư tưởng,
hành động. Trách nhiệm lịch sử là phải thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất, chấm
dứt tình trạng chia rẽ phong trào Cộng sản ở Việt Nam.

Với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, từ ngày 6/1 đến ngày 7/2/1930
Nguyễn Ái Quốc tới Hương Cảng (Trung Quốc) để triệu tập và chủ trì Hội nghị thống
nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh
khẳng định: “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử
cách mạng Việt Nam ta, Nó chứng tỏ giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh
đạo cách mạng”1. Trong lịch sử Đảng ta, Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của
Đại hội thành lập Đảng, được xem như Đại hội đầu tiên của Đảng.
Hội nghị này đã thông qua 7 tài liệu, văn kiện, trong đó có 4 văn bản: Chánh
cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng và
Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam hợp thành nội dung Cương lĩnh chính trị
của Đảng. Tất cả các tài liệu, văn kiện nói trên đều do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo dựa
trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối Đại hội VI (1928) của Quốc tế
Cộng sản; nghiên cứu các Cương lĩnh chính trị của những tổ chức cộng sản trong nước,
kết hợp với việc xem xét tình hình cách mạng thế giới và Đơng Dương. Mặc dù là vắn
tắt, tóm tắt, song nội dung các tài liệu, văn kiện chủ yếu của Hội nghị được sắp xếp theo
một logic và hợp lý của một Cương lĩnh chính trị của Đảng.
Nội dung cơ bản “Cương lĩnh chính trị đầu tiên” của Đảng:

1

Hồ Chí Minh (2011), Tồn tập, tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, trang 406


20
Hội nghị thành lập Đảng đã xác định Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Cộng sản Việt Nam thơng qua hai văn kiện do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, đó
là: Chánh cương vắn tắt của Đảng và Sách lược vắn tắt của Đảng.
Chánh cương vắn tắt của Đảng, do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, nêu rõ chủ trương
làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Tiến
trình cách mạng Việt Nam gồm hai giai đoạn, giai đoạn thứ nhất là tư sản dân quyền

cách mạng trong đó có nhiệm vụ thổ địa cách mạng và giai đoạn thứ hai là thế giới cách
mạng để đi tới xã hội cộng sản.
Chánh cương vắn tắt khẳng định đế quốc và phong kiến đều là đối tượng phải
đánh đổ trong cách mạng dân tộc dân chủ, nhưng hai nhiệm vụ này không thực hiện
đồng loạt. Nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc phải đặt lên hàng đầu, cịn nhiệm
vụ chống phong kiến, đem lại ruộng đất cho dân cày sẽ thực hiện từng bước, nhằm tập
trung vào kẻ thù chính là bọn đế quốc xâm lược và bọn phong kiến tay sai.
Chánh cương vắn tắt chỉ rõ những nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai
đoạn tư sản dân quyền cách mạng về các phương diện xã hội, chính trị và kinh tế, xác
định về phương diện xã hội là dân chúng được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền, phổ
thơng giáo dục theo cơng nơng hố; về phương diện chính trị cách mạng Việt Nam có
nhiệm vụ đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được
hoàn toàn độc lập, dựng ra chính phủ cơng - nơng binh, tổ chức ra quân đội công nông;
về phương diện kinh tế phải thu hết sản nghiệp lớn như công nghiệp, vận tải, ngân
hàng,… của đế quốc Pháp giao cho Chính phủ công - nông binh quản lý, thu hết ruộng
đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo,…
Sách lược vắn tắt của Đảng, do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, gồm năm điểm, xác
định Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, phải thu phục cho được đại bộ phận
giai cấp mình và làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng. Đồng thời, Đảng phải
thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào dân cày nghèo làm thổ địa cách
mạng, đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến. Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư
sản, trí thức, trung nông, Thanh niên và Tân Việt,… để kéo họ đi vào phe giai cấp vơ
sản. Cịn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt
phản cách mạng thì phải lợi dụng, rồi làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt
phản cách mạng thì phải đánh đổ.


21
Xuất phát từ đường lối đã xác định trong Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn
tắt chủ trương thu hút rộng rãi các tầng lớp nhân dân, phát huy sức mạnh đoàn kết rộng

rãi của toàn dân tộc chống đế quốc. Đồng thời, Sách lược vắn tắt vẫn nhấn mạnh nguyên
tắc hợp tác giai cấp của Đảng, trong khi liên lạc với các giai cấp, phải thận trọng, không
nhượng bộ một chút lợi ích gì của cơng nơng mà đi vào con đường thoả hiệp. Đảng phải
đồng thời tuyên truyền và liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới,
nhất là giai cấp vơ sản Pháp.
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Ðảng đã phản ánh về đường hướng phát triển
và nêu những vấn đề cơ bản về đường lối của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chỉ rõ
chủ nghĩa đế quốc đã nắm tồn quyền thống trị, thi hành chính sách độc quyền về kinh
tế ở nước ta. Từ việc phân tích thực trạng và mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam thuộc địa
nửa phong kiến, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam có cơng nhân, nơng dân với đế quốc
ngày càng gay gắt cần phải giải quyết. Cương lĩnh xác định chiến lược cách mạng của
Đảng là tiến hành “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng
để đi tới xã hội cộng sản”. Như vậy, mục tiêu chiến lược được nêu ra trong Cương lĩnh
đầu tiên của Đảng đã làm rõ nội dung của cách mạng thuộc địa nằm trong phạm trù của
cách mạng vô sản.
Xác định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam: “Đánh đổ đế
quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến”, “Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc
lập”. Cương lĩnh đã xác định: Chống đế quốc và chống phong kiến là nhiệm vụ cơ bản
để giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày, trong đó chống đế quốc, giành
độc lập cho dân tộc được đặt ở vị trí hàng đầu. Trong Chánh cương của Đảng đã nêu
“chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng
sản”1. Đó là mục đích lâu dài, cuối cùng của Đảng và cách mạng Việt Nam. Về xã hội
làm cho nhân dân đươc tự do hội họp, nam nữ bình quyền, phổ thơng giáo dục cho dân
chúng; về chính trị đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến làm cho nước

1

Hồ Chí Minh (2011), Tồn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, trang 1-4



22
Việt Nam hồn tồn độc lập, lập chính phủ, qn đội của nhân dân (công, nông, binh).
Về kinh tế là xóa bỏ các thứ quốc trái, sưu thuế cho dân cày nghèo, thu hết sản nghiệp
lớn của đế quốc giao chính phủ nhân dân quản lý, thu hết ruộng đất chiếm đoạt chia cho
dân cày nghèo, phát triển công, nông nghiệp và thực hiện lao động 8 giờ.
Những mục tiêu đó phù hợp với lợi ích cơ bản của dân tộc, nguyện vọng tha thiết
của nhân dân ta; đồng thời cũng phản ánh đúng tình hình kinh tế, xã hội, văn hóa cần
được giải quyết ở Việt Nam; vừa thể hiện tính cách mạng, tồn diện, triệt để là xóa bỏ
tận gốc ách thống trị, bóc lột hà khắc của ngoại bang, nhằm giải phóng dân tộc, giải
phóng giai cấp, giải phóng xã hội, đặc biệt là cho hai giai cấp công nhân và nông dân.
Xác định lực lượng cách mạng là phải đồn kết cơng nhân, nơng dân- lực lượng
cơ bản, trong đó giai cấp cơng nhân lãnh đạo; đồng thời chủ trương đoàn kết tất cả các
giai cấp, các lực lượng tiến bộ, yêu nước để tập trung chống đế quốc và tay sai. Do vậy,
Đảng “phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình”, “phải thu phục cho được đại
bộ phận dân cày, ... hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông... để kéo họ đi
vào phe vô sản giai cấp. Cịn đối với bọn phú nơng, trung, tiểu địa chủ và tư bản An
Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng
trung lập”. Giai cấp lãnh đạo cách mạng là công nhân, thông qua Đảng Cộng sản. Đây
là cơ sở của tư tưởng chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết
rộng rãi các giai cấp, tầng lớp nhân dân yêu nước và tổ chức yêu nước trên cơ sở đánh
giá đúng đắn thái độ các giai cấp phù hợp với đặc điểm xã hội Việt Nam.
Xác định phương pháp tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, khẳng định phải
bằng con đường bạo lực cách mạng của quần chúng, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng
không được thỏa hiệp “không khi nào nhường một chút lợi ích gì của cơng nơng mà đi
vào đường thoả hiệp”. Có sách lược đấu tranh cách mạng thích hợp để lơi kéo tiểu tư
sản, trí thức, trung nơng về phía giai cấp vơ sản, nhưng kiên quyết: “bộ phận nào đã ra
mắt phản cách mạng (Đảng Lập hiến, vv.) thì phải đánh đổ”.
Xác định tinh thần đồn kết quốc tế, Cương lĩnh chỉ rõ “ … trong khi tuyên truyền
cái khẩu hiệu nước An Nam độc lập, phải đồng thời tuyên truyền và thực hành liên lạc
với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp” Đồng

thời, văn kiện cũng xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế
giới, gắn liền với cách mạng thế giới, đề cao vấn đề đoàn kết quốc tế là sự kết hợp chặt


23
chẽ chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp cơng nhân, lợi ích dân tộc và
lợi ích toàn nhân loại tiến bộ đang đấu tranh để giải phóng khỏi ách áp bức, bất cơng
trên thế giới. Như vậy, ngay từ khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu cao chủ
nghĩa quốc tế và mang bản chất quốc tế của giai cấp công nhân.
Xác định vai trò lãnh đạo của Đảng, văn kiện khẳng định: “Đảng là đội tiên phong
của vô sản giai cấp phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai
cấp mình lãnh đạo được dân chúng”1, “Đảng là đội tiên phong của đạo quân vô sản gồm
một số lớn của giai cấp công nhân và làm cho họ có đủ năng lực lãnh đạo quần chúng”2.
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã thể hiện bản lĩnh chính trị độc lập, tự
chủ, sáng tạo trong việc đánh giá tính chất xã hội thuộc địa nửa phong kiến Việt Nam
trong những năm 20 của thế kỷ XX, chỉ rõ những mâu thuẫn cơ bản của dân tộc lúc đó,
đặc biệt là việc đánh giá đúng đắn, sát thực thái độ các giai tầng xã hội đối với nhiệm
vụ giải phóng dân tộc. Các văn kiện đã xác định đường lối chiến lược và sách lược của
cách mạng Việt Nam, đồng thời xác định phương pháp, nhiệm vụ và lực lượng của cách
mạng để thực hiện đường lối chiến lược đã đề ra. Những văn kiện được thông qua trong
Hội nghị hợp nhất dù “vắn tắt”, nhưng đã phản ánh những vấn đề cơ bản trước mắt và
lâu dài cho cách mạng Việt Nam, đưa cách mạng Việt Nam sang một trang sử mới.
Những hạn chế trong các phong trào yêu nước nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX được giải quyết trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên 2/1930:
Thiếu đội ngũ nhà lãnh đạo chính trị đủ tài năng, kinh nghiệm và sự kiên định
trong lý tưởng. Để giải quyết vấn đề này, Cương lĩnh đã đề xuất tạo ra một trường đào
tạo lãnh đạo tại Hà Nội và các trung tâm đào tạo khác trên cả nước.

1


Đảng Cộng Sản Việt Nam (1988), Văn kiện Đảng Tồn tập, tập 2 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang

2

Đảng Cộng Sản Việt Nam (1988), Văn kiện Đảng Tồn tập, tập 2 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang

4.
6.


24
Thiếu sự đoàn kết và đồng tâm trong phong trào yêu nước. Để giải quyết vấn đề
này, Cương lĩnh đề nghị các nhóm cách mạng phải đồn kết và hợp tác với nhau để
chung tay đẩy lùi thực dân Pháp.
Thiếu một chiến lược chiến đấu rõ ràng. Để giải quyết vấn đề này, Cương lĩnh đã
đề xuất một chiến lược đấu tranh bao gồm ba giai đoạn: giai đoạn đấu tranh chống thực
dân Pháp; giai đoạn xây dựng chính quyền dân tộc độc lập; giai đoạn xây dựng kinh tế,
xã hội và văn hoá độc lập.
Thiếu một phương pháp đấu tranh hiệu quả. Để giải quyết vấn đề này, Cương
lĩnh đã đề nghị sử dụng các phương pháp đấu tranh đa dạng, bao gồm: đấu tranh vũ
trang, đấu tranh chính trị, đấu tranh tư tưởng và đấu tranh văn hóa.
3.2. Giá trị của việc thành lập Đảng
Hội nghị hợp nhất các tổ chức đảng cộng sản ở Việt Nam thành một Đảng Cộng
sản duy nhất - Đảng Cộng sản Việt Nam - theo một đường lối chính trị đúng đắn, tạo
nên sự thống nhất về tư tưởng, chính trị và hành động của phong trào cách mạng cả
nước, hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và
đấu tranh giai cấp, là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam
và hệ tư tưởng Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Sự kiện Đảng Cộng sản Việt
Nam ra đời là sự kiện lịch sử cực kỳ trọng đại, một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong

lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển
của dân tộc ta.
Sự ra đời của Đảng là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong
trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, là sự kiện gắn liền với
tên tuổi của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.
Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và việc ngay từ khi ra đời, Đảng đã
có Cương lĩnh chính trị xác định đúng đắn con đường cách mạng là giải phóng dân tộc
theo phương hướng cách mạng vơ sản, chính là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam vừa
ra đời đã nắm được ngọn cờ lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam; giải quyết được
tình trạng khủng hoảng về đường lối cách mạng, về giai cấp lãnh đạo cách mạng diễn ra
đầu thế kỷ XX, mở ra con đường và phương hướng phát triển mới cho đất nước Việt
Nam. Chính đường lối này là cơ sở đảm bảo cho sự tập hợp lực lượng và sự đoàn kết,


25
thống nhất của toàn dân tộc cùng chung tư tưởng và hành động để tiến hành cuộc cách
mạng vĩ đại giành những thắng lợi to lớn sau này. Đây cũng là điều kiện cơ bản quyết
định phương hướng phát triển, bước đi của cách mạng Việt Nam trong suốt 86 năm qua.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và việc Đảng chủ trương cách mạng Việt Nam
là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới, đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn
của cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại làm nên
những thắng lợi vẻ vang. Đồng thời cách mạng Việt Nam cũng góp phần tích cực vào
sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hồ bình, độc lập dân tộc và tiến bộ
xã hội.


×