Tải bản đầy đủ (.docx) (23 trang)

Phần Full.docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.5 MB, 23 trang )

Lý do chọn chủ đề :
1. Tình yêu và tình cảm với quê hương: Chủ đề này thường được chọn bởi những người có mối liên
kết mạnh mẽ với quê hương Thái Bình, và họ muốn chia sẻ và giới thiệu văn hóa, lịch sử, và
những đặc điểm độc đáo của nơi họ sinh ra và lớn lên.
2. Bảo tồn và phát triển văn hóa địa phương: Việc giới thiệu văn hóa quê hương có thể giúp bảo
tồn và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống của nơi đó. Điều này có thể giúp thế hệ trẻ
hiểu rõ hơn về nguồn gốc và giá trị của văn hóa địa phương, từ đó góp phần duy trì và thúc đẩy
sự phát triển của nó.
3. Tạo cơ hội cho việc nghiên cứu và khám phá: Việc tìm hiểu và giới thiệu về văn hóa quê hương
cũng có thể tạo ra cơ hội cho việc nghiên cứu và khám phá về q hương mình. Điều này có thể
giúp mở rộng kiến thức và thấu hiểu sâu hơn về vùng đất và người dân.
4. Kết nối và thúc đẩy du lịch: Giới thiệu văn hóa q hương Thái Bình có thể thúc đẩy du lịch và kết
nối với những người quan tâm đến vùng này. Việc thúc đẩy du lịch có thể mang lại cơ hội phát
triển kinh tế địa phương và thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng.
5. Thể hiện lịng tự hào và tình u q hương: Chọn chủ đề này cũng có thể thể hiện lịng tự hào
và tình yêu với quê hương Thái Bình. Người viết hoặc người trình bày chủ đề này có thể muốn
chia sẻ những trải nghiệm và cảm xúc đối với quê hương của họ với mọi người.

1. Lịch sử hình thành tỉnh thái bình
Vùng đất thuộc tỉnh Thái Bình ngày nay, vào thời Bắc Thuộc trước thế kỉ 10, thuộc hương Đa
Cương (vùng đất từ sông Luộc ra đến biển) của quận Giao Chỉ. Thời 12 sứ quân vùng đất này là
căn cứ của sứ quân Trần Lãm.
Đến cuối thời nhà Lê trung hưng sang đầu nhà Nguyễn, vùng này thuộc trấn Sơn Nam Hạ. Năm
1832, vua Minh Mạng nhà Nguyễn cắt hai phủ Thái Bình, Kiến Xương nhập vào tỉnh Nam Định,
nhập phủ Tiên Hưng vào tỉnh Hưng Yên.
Ngày 21 tháng 3 năm 1890, Tồn quyền Đơng Dương ra nghị định thành lập tỉnh Thái Bình, gồm
phủ Thái Bình, phủ Kiến Xương (tách từ tỉnh Nam Định) và huyện Thần Khê (tách từ tỉnh Hưng
Yên và sáp nhập vào phủ Thái Bình - sau đổi tên là phủ Thái Ninh).


Bản đồ tỉnh Thái Bình năm 1891


Sau năm 1945, bỏ cấp phủ, gọi chung là huyện, tỉnh Thái Bình có 13 đơn vị hành chính gồm thị xã
Thái Bình và 12 huyện: Đông Quan, Duyên Hà, Hưng Nhân, Kiến Xương, Phụ Dực, Quỳnh Cơi,
Thái Ninh, Thư Trì, Thụy Anh, Tiền Hải, Tiên Hưng, Vũ Tiên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2004, chuyển thị xã Thái Bình thành thành phố Thái Bình. Tỉnh Thái Bình có
1 thành phố và 7 huyện như hiện nay. Ngày 12 tháng 12 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ban
hành Quyết định 2418/QĐ-TTg cơng nhận thành phố Thái Bình là đơ thị loại II.
( />
2. Di tích lịch sử
1. Đền Tiên La (xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà)


Tọa lạc trên khu đất rộng 400m2. Ngơi đền có quy mô lớn, đẹp lộng lẫy về cả thế và vóc dáng, bao gồm
nhiều cơng trình như hệ thống cổng đền, tòa tiền tế, tòa trung tế (cột kèo bằng đá) tòa thượng điện và
tòa hậu cung. Tòa điện, bái đường của đền được kiến trúc bằng vật liệu gỗ tứ thiết. Nội thất được chạm
trổ công phu với các nội dung có tính kinh điển như Long, ly, quy, phượng đan xen với thông, cúc, trúc,
mai, theo phong cách kiến trúc thời Nguyễn
2. Đền Đồng Xâm (xã Hồng Thái, Kiến Xương)

Là một quần thể kiến trúc gồm 12 công trình lớn nhỏ với 40 gian được xây dựng trên diện tích
khoảng 1.000m2. Đền có nhiều mảng chạm khắc nghệ thuật tinh xảo, điều khác biệt là bức
hoành mã trước cửa đền hết sức hồnh tráng và sinh động.
3. Đình An Cố (xã Thụy An, huyện Thái Thụy)


Được xây dựng vào thời Lê với 2 tòa, 10 gian, quy mơ kiến trúc rất hồnh tráng. Tịa tiền tế có 7
gian, rộng 250m2, sức chứa tới hàng nghìn người; tòa hậu cung rộng 3 gian, còn lưu giữ rất
nhiều mảng chạm khắc mang tính nghệ thuật cao. Trong các mạng chạm khắc có tới hàng trăm
con rồng, con hổ và vơ số linh vật khác. Có mảng chạm khắc về khung cảnh lao động sản xuất rất
sinh động. Đây là một kiến trúc nghệ thuật đình tiêu biểu nhất ở Thái Bình
4. Chùa Keo (Thần Quang Tự)


Tọa lạc tại xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, được xếp hạng cấp Quốc gia đặc biệt năm 2012. Chùa là
một trong 10 kiến trúc cổ tiêu biểu và là một trong ba ngơi chùa tiêu biểu của Việt Nam. Diện
tích khu chùa hiện nay còn khoảng 38.000m2 (dài 300m, rộng 125m), quan nhiều lần trùng tu,
hiện vẫn còn tấm bia đá rất lớn, có khắc năm Chính Hịa thứ 10 (1689). Chùa hiện có 17 tịa với


128 gian. Một điều khá độc đáo, chùa có gác chng 3 tầng cao 12m, được làm hồn tồn bằng
gỗ lim. Bên trong chùa cón lại hàng nghìn mảng chạm khắc rất độc đáo, có giá trị nghệ thuật cao.
5. Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần (Hưng Hà)

+ Khu lăng mộ
Khu lăng mộ các vua Trần hiện nay có tổng diện tích 38.221m2, được nhân dân gọi là Phần Đa,
Phần Trung, phần Bụt, tương ứng với Chiêu lăng, Dụ Lăng, Đức Lăng - nơi yên nghỉ của Trần Thái
Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông và 01 ngơi đền thờ Thượng hồng Trần Thừa, Trần Thái
Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông.
+ Khu đền thờ
Khu đền gồm các hạng mục: đền Vua (ở giữa), đền Thánh (ở phía Đơng, bên tả đền Vua) và đền
Mẫu (ở phía Tây, bên hữu đền Vua). Ba kiến trúc này đều quay hướng Nam, hướng về khu vực
lăng mộ, được bố trí dàn hàng ngang, có chung sân lễ hội, đường nghi lễ, cửa chính (Ngọ mơn).
+ Khu di tích khảo cổ học nhà Trần
đã được khai quật khảo cổ nhiều lần, phát hiện được dấu vết kiến trúc và nhiều hiện vật có giá trị lịch
sử, văn hóa, khoa học, với niên đại từ thời Lý đến Nguyễn, đặc biệt là nhóm hiện vật thời Trần,…
Khu Lăng mộ và Đền thờ các vị vua triều Trần đã được nhà nước xếp hạng là Di tích Quốc gia
đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ cơng nhận theo Quyết định số 2408- QĐ/TTg ngày
31/12/2014

3. Nghệ thuật và văn hóa dân gian
1.Hát chèo



Thái Bình là một trong những cái nơi của những làn điệu chèo cổ. Ðó chính là cơ sở để miền
“quê lúa” cung cấp những tài năng chèo cho cả nước. Những người sành chèo, mê chèo vẫn
luôn ấn tượng về những đào, những kép xuất thân từ quê lúa Thái Bình. Hiện nay, hầu hết
các nhà hát, các đồn chèo chun nghiệp trong nước đều có người Thái Bình. Và cũng có
khơng ít nghệ sĩ chèo của Thái Bình đã được phong tặng danh hiệu cao quý nghệ sĩ nhân
dân, nghệ sĩ ưu tú. Ngày nay, bằng việc Nhà hát Chèo Thái Bình thường xuyên bảo lưu các
vở chèo cổ, lớp thế hệ nghệ sĩ tên tuổi một thời mặc dù đã nghỉ hưu nhưng vẫn tích cực
cộng tác giảng dạy tại Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Thái Bình.
2.Múa rối nước


Người vào nghề phần nhiều phải có sức khỏe tốt để lội nước, đóng cọc, kéo dây, gánh gồng,
khuân vác... ở hậu đài rất phức tạp. Về lời giáo trò của rối nước thì lời giáo Tễu là đáng chú ý.
Ngồi lời giáo, cịn dùng lời chèo, lời ca dao làm nền cho động tác của nhân vật rối ngoài sân
khấu. Buồng trò rối nước làm kiểu lưu động, lắp buộc, mái bằng cót và giả ngói. Khung bằng tre
gỗ, vách bằng phên vải, sàn bằng sạp tre hay ván ghép. Máy điều khiển của có hai loại: Máy sào,
máy dây. Máy sào đảm bảo được việc di chuyển toàn thân quân rối, chưa điều khiển được tay,
chân, đầu... khi quân rối cử động. Máy dây phong phú hơn, có nhiều kiểu độc đáo như: Chạy đàn
ngũ phương, Bật cờ…
Cho đến nay Thái Bình chỉ cịn hai phường rối đang hoạt động là phường rối nước làng Nguyễn
(xã Nguyên Xá) và phường rối làng Đống (xã Đông Các) thuộc huyện Đông Hưng. Hiện tại hai
phường rối này vẫn được đánh giá cao trong ngành múa rối của Việt Nam.
3. Hát ca trù


Biểu diễn Ca trù tại lễ hộiđềnĐồng Xâm, xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương
Trải qua quá trình phát triển và được thịnh hành tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX - Ca trù đã trở thành một môn nghệ thuật độc đáo, một loại hình
âm nhạc vừa mang tính dân gian, vừa mang hơi hướng của nghệ thuật cung đình, nghệ thuật

trang nhã, lịch lãm, thanh cao, mang tính hàn lâm và tính bác học. Với sự hịa quyện của nhịp
trống, tiếng đàn đáy trầm đục, nhịp phách cùng lời hát và phức điệu trau chuốt đến mức tinh tế,
Ca trù đã trở thành nơi ký thác tâm hồn của nhiều người, là nơi chứa đựng những tình cảm thiết
tha và sâu lắng đến tột cùng của trái tim người nghe và người nghệ sỹ
Ngồi ra cịn một số nghệ thuật văn hóa dân gian như:

Múa ơng Đùng bà Đà ở làng Quang Lang (Thái Thụy)


Múa Bệt ở làng Vọng Lỗ (Quỳnh Phụ)


Múa kéo chữ ở một số làng thuộc huyện Quỳnh Phụ

Múa Giáo cờ giáo quạt ở làng Thượng Liệt (Đông Hưng)


4. Ẩm thực Thái Bình.
Vùng đất Thái Bình được thiên nhiên ưu ái ban tặng cho rừng vàng biển bạc. Đây cũng là vùng
đất sở hữu nhiều loại trái cây tươi ngon, cùng nguồn hải sản tươi sống từ biển, gạo thơm từ đồng bằng
được người dân vun trồng. Mang đến những món ăn dân dã, nhưng lại vơ cùng thơm ngon và hấp dẫn.
1. Bánh giò Bến Hiệp
Nếu được hỏi Thái Bình có đặc sản gì thì món bánh giị Bến Hiệp là món ngon khơng thể bỏ qua
đầu tiên khi đặt chân đến đất Thái Bình. Đây là loại bánh giò lâu đời được chế biến với lớp bột gạo tẻ
mỏng, dẻo bên ngoài cùng nhân thịt thơm ngon nóng hổi bên trong.

2. Bánh gai Đại Đồng
Xuất phát từ thơn Đại Đồng, món bánh gai Đại Đồng mang hương thơm của lá gai, cùng màu đen
tuyền hấp dẫn. Từ thời xưa, bánh gai chỉ được làm vào dịp cận Tết, nhưng theo thời gian món bánh này
trở nên phổ biến hơn và được chế biến quanh năm. Lớp bột có độ dẻo của bột nếp, kết hợp cùng phần

nhân đậu xanh vàng ươm được nêm ngọt ngọt. Chắc chắn sẽ mang lại món ăn hấp dẫn khiến bạn ăn mãi
không ngán.


3. Canh cá Quỳnh Côi
Canh cá Quỳnh Côi khá nổi tiếng tại Thái Bình với hương vị đậm đà và quy trình chế biến rất kỳ
cơng. Món ăn được sử dụng cá rô đồng được đánh bắt tươi ngon, kết hợp cùng vị thơm của gừng và rau
các loại, khiến du khách khi thưởng thức không khỏi gật gù, xuýt xoa.
Thưởng thức một bát canh cá Quỳnh Côi sẽ cho bạn rất nhiều chất dinh dưỡng tốt cho cơ thể,
giúp bạn có thêm năng lượng cho một ngày dài khám phá cảnh quan và ẩm thực Thái Bình.


4. Giị chả Tiền Hải
Nhắc đến đặc sản Thái Bình thì Giị chả Tiền Hải là cái tên khơng thể bỏ qua. Đây là món ăn dân dã và
quen thuộc với đời sống của người dân nơi đây. Giò chả Tiền Hải không chỉ xuất hiện trên mâm cỗ ngày
Tết hay ngày giỗ mà cịn góp mặt trong các bữa ăn hàng ngày của người dân Thái Bình
Được chế biến từ thịt lợn sạch và tươi 100%, bằng tay nghề và kinh nghiệm của người dân Thái Bình
mang lại món giị chả có độ dai vừa phải, gia vị được nêm nếm sẵn rất vừa ăn.

5. Bánh cáy làng Nguyễn
Đây là loại bánh mang hương vị ngọt bùi, cùng hương vị béo béo, độ giòn và dẻo vừa phải, mang lại món
ăn vặt ngon miệng khơng thể chối từ cho khách du lịch. Không đơn giản mà bánh cáy làng Nguyễn được
mệnh danh là đặc sản Thái Bình, chính phương thức chế biến kỳ cơng đã góp phần giúp cho món ăn này
trở nên đặc biệt.


6. Bún bung
Bún bung là món ăn quen thuộc với người dân Thái Bình và khá được u thích. Đối với khách du lịch thì
món ăn này mang hương vị mới lạ, với phần bún được ăn kèm với các loại rau như: dọc mùng, cùng chân
giò heo, mọc… đặc biệt là sự có mặt của hoa chuối thái nhuyễn. Điểm cơng phu của món ăn này là nước

dùng được hầm từ giò heo cho hương vị thơm ngon.

Lễ hội
1. Hội Chùa Keo
thuộc xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Một năm chùa mở hội 2 lần, đó là
Hội Xuân vào ngày mồng 4 tết Nguyên Đán và Hội chính mùa thu, từ ngày 13 đến ngày 15/9
âm lịch. Ngày 13, mở đầu là cuộc rước kiệu kỷ niệm 100 ngày tịch của thiền sư Khơng Lộ.
Chiều có các cuộc đua trải. Tối có cuộc thi kèn và trống. Sáng 14, kỷ niệm ngày sinh của sư
Không Lộ. Ngày 15, mọi nghi lễ diễn ra như ngày 14 nhưng có thêm một số trị diễn sau khi
rước kiệu hoàn cung.


2. Hội Đồng Bằng
hàng năm đền Đồng Bằng khai hội vào ngày 20/8 (âm lịch), tại Đền Đồng Bằng xã An
Lễ, Quỳnh Phụ, là nơi thờ Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình, người có cơng lớn trong việc bình
thục giữ nước và chiêu dân lập ấp xây dựng giang sơn xã tắc từ buổi sơ khai. Hội kéo dài từ
ngày 20 đến 26 tháng 8 âm lịch. Vào ngày 20 tháng 8, diễn ra các nghi lễ trong đền Đồng Bằng
của hội tứ phủ. Sáng ngày 21 tháng 8 dân làng tiến hành rước bài vị các thần ra đình bơi. Qua
ngày 22 tháng 8 người ta tổ chức bơi thăm thẻ


3. Hội đua thuyền ở Đồng Xâm
Từ xa xưa Đồng Xâm đã có lệ mở hội vào dịp cuối tháng ba, đầu tháng tư âm lịch (ngày
nay chỉ tập trung vào các ngày một, hai, ba tháng tư).


4. Hội La Vân
Lễ hội đền La Vân diễn ra tại làng La Vân. Diễn ra từ ngày 20 tháng ba âm lịch đến
ngày 26 tháng 3 âm lịch hàng năm. Lễ hội đền La Vân đặc sắc bởi có phần diễn xướng dân
gian độc đáo như múa kéo chữ (xếp chữ) và diễn ca thánh tích. Thêm vào đó là các trò chơi

dân gian như đấu vật, cờ tướng, đánh pháo đất.


Tơn Giáo
1. Phật giáo
Thái Bình có nhiều ngơi chùa và nhà thờ Phật giáo quan trọng, trong đó Chùa
Kéo (Chùa Thánh Đức) là một trong những ngơi chùa cổ kính và nổi tiếng nhất. Chùa
Kéo nằm ở xã Kéo Xuyên và được xây dựng vào thế kỷ 17. Các ngày lễ Phật giáo và
lễ hội truyền thống thường được tổ chức tại các ngôi chùa để kỷ niệm và cầu
nguyện. Ngồi hoạt động tơn giáo, các tổ chức Phật giáo tại Thái Bình thường tham
gia vào các hoạt động xã hội như cứu trợ người nghèo, giúp đỡ cộng đồng và xây
dựng các dự án vì lợi ích cộng đồng.


2. Thiên chúa giáo
Thiên Chúa giáo có mặt ở Thái Bình thơng qua nhiều nhà thờ và giáo xứ trải
rộng trên toàn tỉnh. Một số giáo xứ nổi tiếng bao gồm Giáo xứ Thanh Nê và Giáo xứ
Đồng Lãng. Nhà thờ và giáo xứ là nơi cộng đồng Tin lành tụ tập để tham dự lễ kính
Thiên Chúa và các hoạt động tôn giáo khác. hiên Chúa giáo ở Thái Bình thường tổ
chức lễ kính, nghi lễ tơn giáo, và các hoạt động xã hội để phục vụ cộng đồng địa
phương. Thiên Chúa giáo tại Thái Bình thường tham gia vào các hoạt động xã hội
như cứu trợ người nghèo, giáo dục, và các dự án vì lợi ích cộng đồng. Họ thường
khuyến khích cộng đồng đóng góp và tham gia vào các hoạt động xã hội này.
Nhà thờ Chánh tồ Thái Bình


Giáo xứ Chính Tồ

Nghề truyền thống




Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×