Hiệu quả của việc ứng dụng đồ dùng dạy học trong việc dạy tiếng anh đối với học
sinh tiểu học.
Dạy, học tiếng Anh hiệu quả với đồ
dùng dạy học
Hải Bình (ghi) - 10/04/2015, 14:57 GMT+07 |
Trao đổi
GD&TĐ - Cô Đinh Thị Thủy - giáo viên Trường THPT Đông Sơn 1 (Thanh Hóa) cho rằng: Để thu hút, tạo hứng thú học tập cho học sinh với môn tiếng Anh,
việc sử dụng đồ dùng dạy học vô cùng quan trọng.
Dạy học từ tranh ảnh
Khi dạy các lớp 11, 12, cô Thủy cho biết thường xuyên sử dụng những bức
tranh, ảnh được cấp phát sử dụng vào bài học hoặc giới thiệu chủ đề bài học.
Ví dụ, với Unit 1(Friendship – B.Speaking), giáo viên có thể sử dụng bức tranh
có hình ảnh nhiều người. Giáo viên treo tranh lên bảng và đặt một số câu hỏi
để học sinh trả lời.
Lưu ý: Tranh ảnh phải to, rõ ràng để học sinh cuối lớp có thể nhìn được. Đồng
thời, có tính sư phạm sao để tránh sự sao lãng của học sinh khi sử dụng. Giáo
viên cũng cần chọn tranh mang nội dung giao tiếp cao và trực tiếp để luyện
nghe, nói, đọc, viết. Tránh sử dụng tranh ảnh mang tính hình thức.
Tranh ảnh tự vẽ
Ngoài những tranh ảnh được cấp phát, với bộ mơn tiếng Anh cần rất nhiều
loại tranh, ảnh khác. Vì thế, giáo viên có thể phóng to các tranh ảnh có sẵn
trong SGK để sử dụng giới thiệu bài hoặc cho học sinh thực hành luyện tập;
chia nhóm để học sinh viết, sau đó u cầu các em trình bày kết quả của
nhóm mình.
Ví dụ: Dạy Unit 12 – D.Writing (trang 134 – SGK lớp 12), giáo viên phóng to 5
bức tranh trong SGK, lần lượt treo lên bảng từng bức tranh một để học sinh
quan sát. Sau đó yêu cầu học sinh nói theo mỗi bức tranh. Giáo viên nên
cung cấp và giải thích 1 số từ mới để học sinh có thể miêu tả bức tranh được
dễ dàng.
Sử dụng băng, đĩa, casstte
Đây là nhóm đồ dùng khơng thể thiếu đối với bộ môn tiếng Anh, đặc biệt là
vào các tiết kỹ năng nghe.
Khi chuẩn bị băng, đài casstte, cần chú ý tới độ rõ nét và âm lượng của băng,
làm sao để cả lớp có thể nghe được. Giáo viên lưu ý chuẩn bị theo đúng bài
học, tránh mất nhiều thời gian tìm bìa trong giờ lên lớp.
Dùng đồ vật thật
Cơ Thủy cho rằng, xung quanh chúng ta có rất nhiều vật dụng có thể sử
dụng để làm đồ dùng dạy học cho giờ dạy tiếng Anh mà không tốn kém hay
mất thời gian chuẩn bị.
Ví dụ: Trong bài 8 – SGK lớp 11 tiết 43 – Reading, thay vì việc sử dụng tranh,
giáo viên có thể sử dụng những thiết bị hoặc đồ vật có sẵn như: coloured
lights, red banners, peach blossom, apricot blossom, banh chung, plums,
tomatoes, lucky moneys…
Với những đồ vật trên, giáo viên cũng có thể sử dụng để học sinh luyện tập
hỏi và trả lời. Làm như vậy các em sẽ dễ nhớ từ và cấu trúc hơn.
Sử dụng hình vẽ minh họa
Với một số mẫu phấn, giáo viên có thể tự tạo cho mình một đồ dùng dạy học
đơn giản mà cũng khơng kém phần hiệu quả.
Ví dụ: Giới thiệu về các bộ phận trên cơ thể, giáo viên có thể vẽ một hình
người phác họa theo dạng hình que lên bảng. Hay khi diễn tả một người đang
vui, giáo viên dùng phấn vẽ hình mặt cười... Khi giới thiệu từ mountain, tree,
table…, cũng có thể dùng cách trên để vẽ hình, tạo cách nhớ trực quan mà
không kém phần hứng thú cho học sinh.
Ứng dụng công nghệ thông tin
Hiện nay, đa số các trường đã được trang bị máy vi tính, các phương tiện
nghe nhìn như máy chiếu Projector, các phương tiện truyền thông khác,
nhiều trường đã kết nối internet. Công nghệ thông tin giờ đây đóng vai trị
như một phương tiện, thiết bị dạy học.
Điểm ưu việt khi sử dụng công nghệ thông tin, máy tính và máy chiếu đa
năng trong giờ dạy tiếng Anh là: Tạo hứng thú học tập cho học sinh; khai
thác triệt để nội dung cần truyền thụ;
Giáo viên có thể thực hiện được hết ý tưởng của mình cho tiết dạy mà
phương pháp dạy học truyền thống chưa thể thực hiện được; có thể khai thác
được rất nhiều hình ảnh, âm thanh, thậm chí là các video clip trên mạng
internet để phục vụ cho tiết dạy
Các thiết bị hiện đại này cũng giảm được sự cồng kềnh của số lượng đồ dùng
dạy học thường sử dụng trong tiết dạy như tranh, ảnh, đồ vật thật…
Bên cạnh đó, giáo viên soạn bài một lần có thể sử dụng được nhiều lần, tạo
ra khả năng để giáo viên trình bày bài giảng sinh động hơn, dễ dàng cập
nhật và thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học hiện đại. Học
sinh khơng bị thụ động trong việc tiếp thu bài, có nhiều thời gian nghe giảng
để đào sâu suy nghĩ
Máy chiếu hắt
Giáo viên có thể sử dụng máy chiếu hắt để áp dụng trong các giờ dạy tiếng
Anh, đặc biệt là một số giờ dạy dạy ngữ liệu mới, dạy kĩ năng đọc, viết, luyện
tập…
Ví dụ: Unit 16 – A.Reading (Period 95) – SGK lớp 12 (173), phần Warm up:
Học sinh xem 1 đoạn video clip nói về hiệp hội các quốc gia Đơng Nam Á để
giới thiệu bài.
Phần new lesson: Giáo viên cho học sinh nghe băng đọc 1 lần, sau đó học
sinh đọc thầm tìm ra một số từ mới. Giáo viên giải thích từ mới trên màn
hình, có thể bằng hình ảnh, từ đồng nghĩa, trái nghĩa…; học sinh làm việc
theo nhóm, cuối cùng, giáo viên đưa ra đáp án để học sinh đối chiếu.
Làm bộ đồ dùng theo các động từ bất quy tắc
Khi dạy phần câu bị động (Passive voice), học sinh thường quên một số động
từ ở dạng quá khứ phân từ nhất là các động từ bất quy tắc.
Giáo viên có thể sử dụng các mảnh bìa cứng có kích thước bằng nhau, sau đó
dán giấy màu hoặc giấy trắng lên, dùng bút dạ viết từng động từ nguyên thể
của động từ bất quy tắc vào một tấm bìa và động từ bất quy tắc đã biến đổi
sang dạng quá khứ và quá khứ phân từ sang hai tấm bìa khác, gắn các tấm
bìa lên bảng. Sau đó yêu cầu học sinh xếp thành từng cặp và đưa ra nghĩa
của các động từ này.
Bảng phụ
Chỉ cần tờ giấy A0, bút dạ, thước kẻ, giáo viên đã có 1 bảng phụ hỗ trợ dạy
học. Giáo viên dùng bút dạ để viết nội dung bài tập vào giấy A0. Dưới mỗi
câu hỏi là một câu trả lời đầy đủ và được dán phủ giấy lên che nội dung câu
trả lời đó.
Sau khi học sinh thực hành và đưa ra câu trả lời, giáo viên sửa và cuối cùng
mới mở đáp án để học sinh đối chiếu so sánh với câu trả lời của mình.
Lưu ý chung
Muốn sử dụng đồ dùng dạy học vào các giờ dạy tiếng Anh có hiệu quả, trước
hết người thầy phải nắm được đặc trưng của bộ môn và từng phần của môn
học. Mỗi tiết học có những nét riêng, cần tận dụng tối đa lợi thế của từng
phần, từng tiết học để sử dụng đồ dùng dạy học một cách hợp lí và có hiệu
quả nhất.
Mỗi bài học cụ thể sẽ có những cách sử dụng đồ dùng dạy học khác nhau, vì
vậy, cần linh hoạt, tránh lặp lại một cách nhàm chán. Đồng thời, luôn biết tạo
ra nét mới trong mỗi lần sử dụng đồ dùng dạy học, đặc biệt là các phương
tiện hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học, tạo sự hấp dẫn, thu
hút học sinh tích cực hoạt động trong tiết học.
Song, cũng không được phép quá lạm dụng đồ dùng dạy học, biến giờ dạy
thành giờ trưng bày đồ dùng dạy học. Tránh khuynh hướng dùng máy tính,
máy chiếu để thay cho bảng đen, bởi máy tính và máy chiếu chỉ là phương
tiện dạy học hỗ trợ.
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: “ Sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học tự làm vào dạy
và học Tiếng Anh cấp Tiểu học.”
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Tiếng Anh cấp Tiểu học
3. Tác giả: Họ và tên: Bùi Thị Minh Thu Nam (nữ): Nữ
Ngày tháng/năm sinh: 17/ 11/ 1977
Trình độ chun mơn: Đại học sư phạm Tiếng Anh
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường Tiểu học Ngọc Châu
Điện thoại: 0914282625
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường Tiểu học Ngọc Châu
Đ/C: số 3 Trần Thánh Tông, TP Hải Dương
ĐT: 03203858951
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường Tiểu học Ngọc Châu
Đ/C: Số 3 Trần Thánh Tông, TP Hải Dương ĐT: 03203858951
6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Giáo viên và học sinh
tích cực tham gia.
7. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Học kì II năm học 2021-2017
TĨM TẮT SÁNG KIẾN
1. Hồn cảnh nảy sinh sáng kiến
Q trình dạy học ở cấp Tiểu học nói chung và dạy Tiếng Anh ở cấp
Tiểu học nói riêng, việc tự làm và sử dụng đồ dùng dạy học tự làm đã
đóng một vai trị hết sức quan trọng trong việc đổi mới phương pháp
dạy học.
Tuy nhiên các hoạt động tự làm đồ dùng dạy học và sử dụng đồ dùng
dạy học tự làm trong các trường tiểu học cịn nhiều hạn chế. Qua q
trình giảng dạy, dự giờ thăm lớp, dự chuyên đề, qua trao đổi chuyên
môn, tôi nhận thấy rằng có rất nhiều giáo viên khơng có thói quen tự
làm đồ dùng dạy học hoặc sử dụng khơng hiệu quả đồ dùng dạy học tự
làm, thậm chí lên lớp cịn dạy “chay”- dạy khơng có đồ dùng dạy học.
Việc sử dụng đồ dùng dạy học tự làm của giáo viên Tiếng Anh cấp Tiểu
học chưa thực sự có hiệu quả cao, chưa sáng tạo, đặc biệt là đa số giáo
viên còn lúng túng khi tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh, các
hình thức tổ chức dạy học cịn đơn điệu, tẻ nhạt, khơng gây hứng thú
cho học sinh. Sự tương tác giữa giáo viên và học sinh còn rời rạc. Giáo
viên chưa khai thác hiệu quả đồ dùng tự làm. Giáo viên chưa phát huy
được vai trị chủ đạo của mình trong q trình dẫn dắt học sinh lĩnh hội
kiến thức, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
học sinh.
Xuất phát từ thực tế trên, trong quá trình giảng dạy, tơi khơng ngừng
tìm tịi, nghiên cứu nắm bắt tâm sinh lý của học sinh để sáng tạo, áp
dụng những phương pháp dạy học mới, ln đổi mới hình thức dạy học
kết hợp tự làm đồ dùng dạy học để phù hợp với từng nội dung bài học,
cũng như nhu cầu tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh tiểu học, tạo hứng
thú học tập cho học sinh. Chính từ những thực tế và lý luận ở trên,
trong sáng kiến này tơi mạnh dạn trình bày sáng kiến của mình về việc
nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh Tiểu học thông qua sử dụng
hiệu quả đồ dùng tự làm vào dạy và học Tiếng Anh cấp Tiểu học. Sáng
kiến của tơi có tên là: “ Sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học tự làm vào
dạy và học Tiếng Anh cấp Tiểu học.”
2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến
Sáng kiến này dễ dàng áp dụng cho tất cả các lớp học Tiếng Anh cấp
Tiểu học.
3. Nội dung sáng kiến
Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến là tháo gỡ được những khó khăn
của giáo viên trong việc làm cũng như sử dụng đồ dùng dạy học tự làm
khi dạy Tiếng Anh bằng cách đưa ra những ví dụ cụ thể trong những
tình huống cụ thể với phương pháp dễ áp dụng, phù hợp với mọi đối
tượng học sinh tiểu học. Học sinh hứng thú học tập và hiểu bài nhanh,
thuộc bài ngay trên lớp, tạo tâm lý vui vẻ, thoải mái cho học sinh khi
học.
Khả năng áp dụng của sáng kiến rất cao bởi những giải pháp đưa ra
trong sáng kiến rất gần gũi, đơn giản, dễ áp dụng. Giáo viên và học
sinh có thể cùng thực hành trên lớp hàng ngày.
Hiệu quả giảng dạy cao, không tốn kém thời gian để chuẩn bị cũng như
tài chính bởi có những đồ dùng giáo viên chỉ cần làm một lần nhưng tái
sử dụng được nhiều lần.
4. Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến
Học sinh hiểu bài nhanh, thuộc bài ngay tại lớp, hứng thú học tập, tự
tin khi giao tiếp. Khơng khí lớp học vui vẻ, thân thiện. Giáo viên dễ
dàng áp dụng, tiết kiệm thời gian và tài chính.
5. Đề xuất, kiến nghị
– Sở giáo dục và Đào tạo, Phòng giáo dục và Đào tạo tổ chức đều đặn
các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Tiếng Anh bậc
tiểu học để giáo viên có cơ hội được học hỏi trao đổi kinh nghiệm dạy
học tốt hơn; mở lớp tập huấn cho giáo viên Tiếng Anh với người nước
ngoài để giúp giáo viên Tiếng Anh có mơi trường giao tiếp và nâng cao
trình độ chun mơn hơn cũng như học hỏi thêm về phương pháp.
– Nhà trường bố trí phịng học Tiếng Anh rộng rãi hơn để các em học
sinh có điều kiện thuận lợi về không gian thực hiện các hoạt động học
tập trong lớp.
MƠ TẢ SÁNG KIẾN
1. Cơ sở lý luận
Q trình giáo dục nói chung và hoạt động dạy học Tiếng Anh ở trường
tiểu học nói riêng đều là những hoạt động địi hỏi người giáo viên
khơng chỉ có chun mơn vững vàng mà còn phải biết tổ chức các hoạt
động dạy học có tính khoa học, sáng tạo và mềm dẻo. Bởi lẽ, khơng có
kiến thức vững vàng thì sẽ khơng đảm nhiệm được vai trị chủ đạo
trong việc tổ chức và điều khiển hoạt động học tập của học sinh. Cịn
nếu khơng có tính khoa học, sáng tạo, mềm dẻo thì sẽ khơng tổ chức,
tiến hành được những tiết dạy hay, phù hợp với mọi đối tượng học sinh,
không phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh,
học sinh không hứng thú học tập, từ đó khơng hình thành được ở học
sinh thói quen tự học, tự nghiên cứu. Mỗi thầy cô giáo là một tấm
gương đạo đức, tự học và sáng tạo, mỗi thầy cô giáo cần “sáng về đạo
đức, sâu về chuyên môn, sắc về nghiệp vụ”. Để thực hiện tốt những
điều này, mỗi giáo viên phải không ngừng học hỏi nâng cao trình độ
chun mơn và tích cực đổi mới phương pháp dạy học với mục tiêu
nâng cao chất lượng giáo dục một cách hiệu quả, thực chất.
Một trong những hoạt động để người giáo viên vừa bổ sung, nâng cao
được chuyên mơn, lại vừa đổi mới được phương pháp đó là việc thường
xun học hỏi, tìm tịi, nghiên cứu để đúc rút ra những sáng kiến hay,
phương pháp tốt. Những sáng kiến hay, phương pháp tốt mà mỗi giáo
viên đúc rút được cũng là một phần được thể hiện qua các sáng kiến
kinh nghiệm từng năm học.
2. Cơ sở thực tiễn
Trong những năm qua, cùng với đổi mới Chương trình giáo dục phổ
thơng, đồ dùng dạy học (ĐDDH) đã đóng một vai trò hết sức quan
trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học. Tuy nhiên việc mua
sắm bổ sung, thay thế hàng năm các ĐDDH gặp một số khó khăn về
nguồn cung cấp các thiết bị, các chi tiết lẻ, nguồn kinh phí mua sắm bổ
sung và sửa chữa, phương pháp sửa chữa khắc phục các đồ dùng hư
hỏng trong q trình sử dụng… Trong điều kiện đó thì giải pháp tự làm,
tự sửa chữa, tự cải tiến ĐDDH đã góp phần khắc phục kịp thời những
đồ dùng còn thiếu, bổ sung các đồ dùng chưa có điều kiện mua sắm,
thay thế hoặc cải tiến các đồ dùng hư hỏng, mất mát và phù hợp với
tình hình, đặc điểm của từng mơn học, từng địa phương, từng cơ sở
giáo dục.
Đồ dùng dạy học tự làm (ĐDDH TL) là loại ĐDDH do giáo viên chế tạo
mới hoặc cải tiến từ một ĐDDH đã có hoặc qua sưu tầm tư liệu hiện vật
mà có. ĐDDH TL có nguyên lý cấu tạo và cách sử dụng phù hợp với ý
tưởng thực hiện bài dạy của giáo viên làm ra, do đó khi được sử dụng
thường cho hiệu quả cao và thiết thực. Nhận thức được tầm quan trọng
của ĐDDH TL, hiện nay nhiều tỉnh, thành phố đã phát triển phong trào
tự làm ĐDDH, tạo thành một hoạt động sư phạm trong các trường học.
Phong trào tự làm ĐDDH đã khơi dậy sự sáng tạo, lòng yêu nghề của
đội ngũ giáo viên. Thông qua phong trào, một số lượng lớn các ĐDDH
đã được ứng dụng trong quá trình dạy và học. Kết quả của phong trào
này đã tạo ra được số lượng lớn các ĐDDH do đội ngũ giáo viên và học
sinh tự làm góp phần vào quá trình đổi mới phương pháp, nâng cao
chất lượng dạy học đồng thời mang lại niềm say mê, sáng tạo, lịng u
nghề cho các thầy cơ giáo, góp phần vào việc xây dựng mơi trường sư
phạm thân thiện, tích cực, sáng tạo, khuyến khích giáo viên tích cực sử
dụng hiệu quả các ĐDDH được trang bị và tự làm nhiều hơn trong các
nhà trường, thiết thực hưởng ứng phong trào “Xây dựng trường học
thân thiện, học sinh tích cực” và cuộc vận động ” Mỗi thầy cô giáo là
một tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo”, góp phần thực hiện
phương châm giáo dục “Học đi đơi với hành”.
Tuy nhiên các hoạt động tự làm ĐDDH trong các trường tiểu học còn
nhiều hạn chế, chưa thường xuyên, chưa đồng đều giữa các môn học
và khối lớp và các nhà trường. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên
nhân chủ quan và khách quan khác nhau.Có thể do phong trào tự làm
ĐDDH ở trường còn hạn chế, do tâm lí e ngại của các giáo viên vì họ đã
có quá nhiều việc phải làm, hoặc cũng có thể do họ chưa có những sự
hỗ trợ về tài chính, tư vấn…
Qua quá trình giảng dạy, dự giờ thăm lớp, dự chuyên đề, qua trao đổi
chuyên môn, qua các lớp tập huấn chun mơn, tơi nhận thấy rằng có
rất nhiều giáo viên khơng có thói quen tự làm đồ dùng dạy học hoặc sử
dụng không hiệu quả đồ dùng tự làm, thậm chí lên lớp cịn dạy “chay”dạy khơng có đồ dùng dạy học. Việc sử dụng đồ dùng dạy học của giáo
viên Tiếng Anh cấp Tiểu học chưa thực sự có hiệu quả cao đặc biệt là
đa số giáo viên còn lúng túng khi tổ chức các hoạt động học tập cho
học sinh, các hình thức tổ chức dạy học cịn đơn điệu, tẻ nhạt, không
gây hứng thú cho học sinh. Sự tương tác giữa giáo viên và học sinh còn
rời rạc. Giáo viên chưa thu hút học sinh vào bài học một cách tự nhiên.
Năng lực giao tiếp bằng Tiếng Anh của học sinh chưa cao. Giáo viên
chưa phát huy được vai trị chủ đạo của mình trong q trình dẫn dắt
học sinh lĩnh hội kiến thức, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh. Giờ học trở nên tẻ nhạt, đơn điệu, không sinh
động, kém hiệu quả. Học sinh khó thuộc bài ngay tại lớp.
Xuất phát từ thực tế trên, trong quá trình giảng dạy, tơi khơng ngừng
tìm tịi, nghiên cứu nắm bắt tâm sinh lý của học sinh để sáng tạo, áp
dụng những phương pháp dạy học mới, ln đổi mới hình thức dạy học
để phù hợp với nhu cầu tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh tiểu học, tạo
hứng thú học tập cho học sinh.Thực tế cho thấy rằng chỉ khi nào học
sinh có hứng thú học tập thì hiệu quả dạy – học mới như mong muốn.
Tôi thiết nghĩ, mỗi một giáo viên trên bục giảng phải tự rèn mình như
những nghệ sĩ trên sân khấu để thu hút, lôi cuốn học sinh vào bài
giảng như những nghệ sĩ thu hút khán giả vào tác phẩm nghệ thuật
của mình. Mỗi giáo viên cần “Sáng về đạo đức, sâu về chuyên mơn, sắc
về nghiệp vụ” thì chất lượng giáo dục chắc chắn sẽ được nâng cao.
Chính từ những thực tế và lý luận ở trên, trong sáng kiến này tôi mạnh
dạn trình bày sáng kiến của mình về việc nâng cao chất lượng dạy và
học Tiếng Anh Tiểu học thông qua sử dụng hiệu quả đồ dùng tự làm
vào dạy và học Tiếng Anh cấp Tiểu học. Sáng kiến của tôi có tên
là: “ Sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học tự làm vào dạy và học Tiếng
Anh cấp Tiểu học.”
3. Điều tra thực trạng trước khi nghiên cứu
Để tìm hiểu thực trạng việc dạy học Tiếng Anh cho học sinh tiểu học
của giáo viên, tôi đã tiến hành phát phiếu thăm dò với 10 giáo viên
Tiếng Anh và 100 học sinh tại 10 trường tiểu học của tỉnh với những
câu hỏi như sau:
3.1. Điều tra giáo viên
Thầy (cô) giáo hãy khoanh trịn vào câu trả lời
Câu 1: Thầy (cơ) giáo có thường xuyên sử dụng đồ dùng dạy học trong
các tiết dạy của mình khơng?
a. Chỉ khi hội giảng, có người kiểm tra, dự giờ.
b. Rất ít, vì nhà trường thiếu đồ dùng.
c. Thường xun sử dụng vì nhà trường có sẵn.
Câu 2: Thầy (cơ) giáo có thường xun tự làm đồ dùng dạy học khơng?
a. Rất ít khi vì khả năng sáng tạo và khéo léo của bản thân kém.
b. Rất ít khi vì khơng có thời gian và tài chính.
c. Chỉ tự làm khi hội giảng, có người kiểm tra, dự giờ.
Câu 3: Những loại đồ dùng dạy học nào thầy (cô) giáo thường tự làm?
a. Thẻ từ, thẻ tranh.
b. Thẻ từ, thẻ tranh, tranh to/ posters.
c. Thẻ từ, thẻ tranh, tranh to/ posters, đồ chơi, con rối, mơ hình…
Câu 4: Thầy (cô) giáo tự đánh giá về hiệu quả sử dụng đồ dùng dạy học
tự làm của mình như thế nào?
a. Còn lúng túng.
b. Chủ động nhưng chưa khéo léo, chưa khoa học.
c. Thành thạo, khoa học và hiệu quả.
Câu 5: Thầy (cơ) có muốn học tập nâng cao trình độ chuyên môn về sử
dụng hiệu quả đồ dùng dạy học tự làm khơng?
a. Khơng.
b. Bình thường
c. Rất quan tâm vì nó thiết thực trong giảng dạy.
Kết quả thu được như sau:
Qua kết quả điều tra thực trạng thu được ở trên cho thấy 60% giáo
viên rất ít sử dụng đồ dùng dạy học, nếu có dùng thì chỉ mang tính
hình thức. Hầu hết, giáo viên chỉ làm đồ dùng hoặc sử dụng đồ dùng
dạy học sẵn có khi hội giảng, khi có người kiểm tra, dự giờ. Do không
tự làm hoặc không sử dụng đồ dùng dạy học thường xuyên nên khả
năng sử dụng đồ dùng dạy học tự làm còn nhiều hạn chế, còn lúng
túng dẫn đến khả năng tương tác giữa giáo viên và học sinh kém hiệu
quả. Chính từ điều đó mà nhu cầu học tập đổi mới phương pháp dạy
học nâng cao trình độ chun mơn về sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy
học tự làm là hết sức cần thiết.
3. 2. Điều tra học sinh
Khoanh tròn vào đáp án em chọn.
Câu hỏi 1: Giáo viên có thường xuyên sử dụng các đồ dùng dạy học
như tranh, ảnh, băng, đài hay máy vi tính trong tiết học Tiếng Anh
khơng?
a. rất ít b. thỉnh thoảng c. thường xuyên
Câu hỏi 2: Giáo viên có thường xuyên cho các em tự làm đồ dùng học
tập như: Tranh, ảnh, đồ chơi, mơ hình… để mang đến lớp học khơng?
a. rất ít b. thỉnh thoảng c. thường xuyên
Câu hỏi 3: Khi được giáo viên sử dụng các đồ dùng dạy học như tranh,
ảnh, đồ chơi, mô hình…trong tiết học Tiếng Anh em thấy khả năng tiếp
thu bài của em như thế nào?
Khó hiểu b. bình thường c. tự tin, hứng thú, tiếp thu bài tốt.
Câu hỏi 4: Em thấy thế nào khi trong giờ Tiếng Anh em và các bạn sử
dụng các đồ dùng học tập do tự mình chuẩn bị mang đến lớp như:
Tranh, mơ hình, đồ chơi, …?
a. bình thường b. lớp học vui vẻ c. hứng thú tương tác bằng tiếng anh
hơn
Câu hỏi 5: Em có mong muốn giáo viên thường xuyên sử dụng các đồ
dùng dạy học trong các tiết học tiếng Anh khơng?
khơng b. bình thường c. rất mong muốn
Kết quả thu được như sau:
Kết quả thăm dò ở trên cho thấy thực tế giáo viên Tiếng Anh rất ít sử
dụng các đồ dùng dạy học do giáo viên tự làm hay đồ dùng sẵn có
cũng như hướng dẫn học sinh tự làm đồ dùng học tập trong khi dạy
học. Khi được giáo viên thường xuyên sử dụng đồ dùng dạy học vào
giảng dạy, học sinh hứng thú học bài hơn, khả năng hiểu bài tốt hơn, tự
tin giao tiếp hơn. Học sinh có nhu cầu cao được học tập bằng phương
pháp dạy và học sử dụng đồ dùng dạy học tự làm của giáo viên và học
sinh.
4. Các giải pháp, biện pháp thực hiện
4.1. Tìm hiểu đặc thù của trẻ trong học tập
Khi hình thành một lớp Tiếng Anh, yếu tố quan trọng chúng ta cần
quan tâm đó là lứa tuổi. Lứa tuổi tiểu học có những đặc thù sau:
4.1.1. Trẻ hiếu động (Children are physical)
Nhìn chung, ở lứa tuổi tiểu học, trẻ em rất hiếu động. Chúng thích hiểu
biết cái mới, cái lạ thơng qua những hành động do chính mình làm, từ
đó rút ra những suy nghĩ về cái mới đó, đơi khi cịn có cách giải thích
riêng của mình về cái mới. Vì thế, giờ học Tiếng Anh phải đưa học sinh
vào hoạt động giao tiếp thực, tức là học sinh được giao tiếp một cách
có ấn tượng, nhằm tạo ra một phản xạ mới – phản xạ sử dụng ngơn
ngữ mới trong tình huống cũ – tình huống đã gặp khi sử dụng tiếng mẹ
đẻ. Để có được phản xạ mới này, chúng ta khơng chỉ bắt học sinh nhớ
thuộc lịng, mà cịn phải tạo điều kiện cho trẻ được tự mình xử lý các
đơn vị ngôn ngữ trong giao tiếp thực.
4.1.2. Trẻ không tập trung được lâu (Children have short
attention)
Chúng ta có thể thấy trong nhiều cuộc hội họp của người lớn, từng
nhóm, từng nhóm người nói chuyện riêng, khơng quan tâm đến chủ toạ
nói gì. Đó là thói quen xấu. Trẻ em cũng hay nói chuyện riêng trong
lớp. Nhưng giữa người lớn và trẻ em khác nhau ở chỗ người lớn làm
việc đó một cách có ý thức, còn trẻ em làm việc một cách rất tự nhiên.
Trẻ khơng có khả năng tập trung tư tưởng trong một thời gian dài, kể
cả trong tình huống hấp dẫn. Thời gian dài ở trẻ có khi chỉ là vài phút
đồng hồ. Vì thế chúng ta thấy một tiết học của trẻ chỉ là 30 – 35 phút,
trong khi đó một tiết học của người lớn có thể lên tới 60 – 90 phút.
Trước tính cách này của trẻ, một tiết học Tiếng Anh cần được tổ chức
sao cho quy trình học trên lớp phải đa dạng về hoạt động và ln thay
đổi hình thức hoạt động, dù là sinh động đi chăng nữa cũng không nên
kéo dài. Nếu kéo dài, trẻ sẽ chán và khơng tập trung.
4.1.3. Trẻ thích chơi mà học (Play to learn)
Trẻ em rất thích chạy nhảy, vui chơi, ca hát. Khơng một trẻ nào lại
thích ngồi yên một chỗ trong khi các bạn đang vui chơi. Các kiến thức
ngơn ngữ được vận dụng vào các trị chơi, các bài hát, bài thơ vần tạo
cho học sinh có cảm giác như đang chơi chứ khơng phải là đang học.
Giờ học trở nên hết sức nhẹ nhàng và vui vẻ mà hiệu quả lại cao. Từ
mới, mẫu câu các em sẽ nhớ hơn khi được đưa vào các trị chơi ngơn
ngữ. Mơn học Tiếng Anh trở thành mơn học mà các em mong .
4.1.4. Trẻ thích được tuyên dương khích lệ và tiến bộ.
(Motivation and progress)
Bất kể một học sinh nào từ em học giỏi đến em học chưa giỏi đều
muốn được cô giáo khen ngợi trước lớp và đều có nhu cầu được thể
hiện mình. Các em rất sợ khi bị cơ giáo phê bình trước các bạn. Chính
vì vậy mà khi dạy học giáo viên cần động viên, khích lệ học sinh đúng
lúc và thường xuyên. Giáo viên cũng nên tạo điều kiện cho học sinh
được thể hiện khả năng của mình một cách tự nhiên. Giáo viên cần
tránh những câu nói khơng có tính chất động viên khích lệ, cần xử lý
linh hoạt, tế nhị khi học sinh mắc lỗi. Giáo viên cần có suy nghĩ tích cực
trong mọi tình huống trên lớp.
X e m t a i l i e u Tải về
Skkn khai thác, sử dụng đồ dùng dạy học
trong giảng dạy bộ mơn tiếng anh thcs
doc
20
trang
Phần 1:
THƠNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: KHAI THÁC, SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC TRONG GIẢNG
DẠY MÔN TIẾNG ANH.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: MÔN TIẾNG ANH CẤP THCS.
3. Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thanh Hằng
Nữ
Ngày/ tháng/năm sinh: 21/12/1978.
Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm Ngoại ngữ.
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS Hưng Đạo – t.x Chí Linh
Điện thoại: 0984 044 737.
4. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường THCS Hưng Đạo Chí Linh – Hải Dương – SĐT:
03203 930 108.
5. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Dạy tiếng Anh cấp THCS.
6. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Học kì I năm học 2014- 2015
TÁC GIẢ
XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ÁP DỤNG
SÁNG KIẾN
Nguyễn Thanh Hằng
Phần 2:
1
TÓM TẮT SÁNG KIẾN
Trải qua hơn 10 năm thực hiện chương trình đồng bộ thay sách giáo khoa
trong đó có bộ mơn tiếng Anh theo sự chỉ đạo của Bộ giáo dục và đào tạo, song
trên thực tế cho thấy chất lượng giảng dạy ngoại ngữ nói chung, mơn tiếng Anh
nói riêng ở các trường chưa tiến bộ nhiều. Học sinh vẫn chưa thực sự thấy u
thích bộ mơn, vẫn coi đó là mơn học khó, khơng quan trọng,… . Bên cạnh đó
nhiều phụ huynh vẫn biện luận cho việc con em mình chưa tập trung học với suy
nghĩ “ tiếng Việt cịn chưa thạo, nói gì đến tiếng Anh…”.
Là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn tiếng Anh trong suốt thời gian qua, tôi
thiết nghĩ, một phần nguyên nhân cũng là do giáo viên sử dụng phương pháp
giảng dạy chưa thật phù hợp, trong đó có nhiều giáo viên còn ngại khi khai thác và
sử dụng đồ dùng dạy học và nếu có thì hiệu quả chưa cao do còn lúng túng chưa
biết cách khai thác, sử dụng đồ dùng đó như thế nào.
Thật vậy, đồ dùng dạy học thực sự đóng vai trị hỗ trợ tích cực trong giảng
dạy nói chung và đặc biệt trong dạy học ngoại ngữ nói riêng. Với mơn ngoại ngữ,
giáo cụ trực quan được sử dụng trong mọi hoạt động của quá trình dạy học, từ
khâu giới thiệu ngữ liệu mới đến khâu thực hành, làm đa dạng và phong phú thêm
rất nhiều các thủ thuật và hoạt động dạy học khác nhau.
Chính vì vậy, tơi đã nghiên cứu và viết sáng kiến “ khai thác, sử dụng đồ
dùng dạy học trong giảng dạy môn tiếng Anh cấp THCS” với mong muốn sáng
kiến sẽ góp phần phát huy được hiệu quả tối đa cho các giáo viên dạy tiếng Anh
trung học cơ sở, đồng thời cũng khuyến khích những ai chưa khai thác hay cịn
khai thác ít đồ dùng hãy sử dụng trong mỗi bài giảng của mình ở các năm học
nhằm mục đích cuối cùng là nâng cao chất lượng dạy học môn ngoại ngữ (tiếng
Anh).
Sáng kiến này nghiên cứu vai trị chính của đồ dùng; các loại đồ dùng có
thể sử dụng trong dạy học; đặc biệt là cách khai thác và sử dụng chúng trong các
bước tiến hành dạy học khác nhau. Ngồi ra, sáng kiến cịn chỉ ra một số hạn chế
2
mà giáo viên thường hay mắc phải khi khai thác, sử dụng đồ dùng đồng thời cũng
đề ra cách khắc phục những hạn chế đó.
Sáng kiến mang tính khả thi cao bởi nó đã chỉ ra các loại đồ dùng cụ thể có
thể áp dụng, đồng thời nêu rõ phương pháp khai thác, sử dụng chúng vào từng loại
bài giảng khác nhau như giới thiệu ngữ liệu mới (dạy từ, cấu trúc), thực hành các
kĩ năng (nghe, nói, đọc hay viết) mà bất cứ giáo viên nào cũng có thể chuẩn bị
được ở bất kì bài giảng nào.
Ngồi ra, sáng kiến mang lợi ích kinh tế thiết thực bởi nhiều loại đồ dùng
giáo viên hay học sinh có thể tự chuẩn bị vì chúng có sẵn trong cuộc sống mà
khơng cần phải chi phí nhiều.
Để việc áp dụng sáng kiến đạt hiệu quả tối ưu, giáo viên cần xem xét những
yếu tố có liên quan như: điều kiện, tình huống dạy học cụ thể; khả năng của thầy
giáo; lứa tuổi, trình độ của học sinh; mơi trường; mục tiêu của bài; loại bài học
hay bản chất của bài luyện tập; những hình thức bài tập và yêu cầu của giáo viên
được thực hiện với đồ dùng dạy học đó. Trên cơ sở đó, giáo viên cần lựa chọn cho
mình loại đồ dùng phù hợp sao cho gây được hứng thú của học sinh tham gia vào
quá trình học tập nhằm mục đích cuối cùng đó là nâng cao chất lượng dạy của
thầy và học của trò.
Để sáng kiến được áp dụng rộng rãi và đạt hiệu quả cao cũng rất cần có sự
ủng hộ tích cực của thầy, trò, các cơ quan giáo dục trong việc tạo ra các loại đồ
dùng phù hợp phục vụ cho cơng tác giảng dạy đạt hiệu quả cao. Tiếp đó là việc
giáo viên cần tích cực lựa chọn, khai thác và sử dụng đồ dùng một cách phù hợp,
hiệu quả trong từng bài giảng của mình để lơi cuốn sự chú ý, hứng thú học tập của
học sinh vào bài giảng.
Phần 3:
3
MƠ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hồn cảnh nảy sinh sáng kiến
Như chúng ta biết, tiếng Anh là tiếng nói chung của nhân loại, là ngơn ngữ
quốc tế. Nhận thức được tầm quan trọng này, Bộ giáo dục và đào tạo đã đưa tiếng
Anh vào các cấp học nói chung và cấp trung học cơ sở nói riêng như là một môn
học bắt buộc đối với các em học sinh. Để việc giảng dạy tiếng Anh ở các trường
phổ thông đạt được hiệu quả, các nhà giáo dục, các chuyên viên nghiên cứu đã
giành nhiều thời gian nghiên cứu nhằm tìm ra các phương pháp giảng dạy nhằm
nâng cao chất lượng dạy ngoại ngữ (tiếng Anh). Làm thế nào để bộ môn này gây
được hứng thú cho học sinh, làm cho bài học trở nên thú vị và gần với cuộc sống
thật như một số bộ môn khác? Để đáp ứng được yêu cầu này, ngoài kiến thức, khả
năng truyền đạt của người thầy thì đồ dùng đóng vai trị hỗ trợ rất tích cực trong
q trình dạy học.
Mặc dù đồ dùng đóng vai trị tích cực như vậy song trên thực tế rất nhiều
giáo viên vẫn chưa ý thức được vai trị của nó hoặc nếu có thì coi nó như là một
thủ thuật dạy học hay cịn gặp khó khăn trong việc khai thác, sử dụng đồ dùng
trong các loại bài giảng khác nhau.
Chính vì những lí do trên đây mà tơi thấy cần phải nghiên cứu và viết sáng
kiến: “ Khai thác, sử dụng đồ dùng dạy học trong giảng dạy môn tiếng Anh cấp
THCS”.
2. Cơ sở lí luận
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, tồn diện
giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ “ tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố
cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng
lực của người học”. Cho đến nay, các bộ mơn nói chung, mơn tiếng Anh nói riêng
đều đã đưa ra phương hướng đổi mới phương pháp dạy học nhằm đáp ứng mục
tiêu giáo dục hiện nay đang tập trung hướng vào việc phát triển phẩm chất, năng
4
lực của người học (học sinh). Dựa trên quan điểm chỉ đạo trên mà tôi đã tiến hành
nghiên cứu đề tài này.
3. Thực trạng của việc sử dụng đồ dùng tại các trường học
Qua việc dự giờ cũng như trực tiếp trao đổi với các đồng nghiệp, tôi nhận
thấy nhiều giáo viên còn băn khoăn trong việc lựa chọn, khai thác, sử dụng đồ
dùng trong từng loại bài giảng khác nhau hay sử dụng còn lặp lại các loại đồ dùng
dẫn đến sự nhàm chán của học sinh.
Nhiều giáo viên khác lại ngại sử dụng đồ dùng vì cho rằng “chỉ làm mất
thêm thời gian mà lại vơ ích” hoặc có sử dụng chỉ mang tính “đối phó” chứ chưa ý
thức được mục đích sử dụng của mình, chỉ quan niệm dùng để cho vui mắt, không
phục vụ cho mục đích học tập cụ thể nào. Thế nên việc dùng giáo cụ trực quan vẫn
rất có thể trở thành vơ tác dụng, mất thời gian trên lớp mà không nâng cao chất
lượng giảng dạy.
Một số giáo viên sử dụng và khai thác đồ dùng trong bài giảng của mình lại
làm học sinh khơng hiểu được nội dung và ý đồ của giáo viên muốn truyền đạt
thơng qua đồ dùng đó.
Ngồi ra, một số giáo viên lại gặp khó khăn trong việc khai thác giáo cụ
trực quan ở các bước tiến hành dạy học khác nhau dẫn đến việc học sinh vẫn
không hiểu từ, cấu trúc, ngữ liệu mới hoặc nắm kiến thức một cách mơ hồ, nếu
chăng chỉ là cách nhớ rất máy móc.
4. Các giải pháp thực hiện
4.1. Vai trò của đồ dùng dạy học
Đồ dùng dạy học có một số vai trị chính như sau:
- Hỗ trợ tạo nên tình huống, ngữ cảnh để giới thiệu ngữ liệu hoặc chủ đề nội
dung bài học.
- Hỗ trợ làm rõ nghĩa, các khái niệm mới.
- Hỗ trợ tạo tình huống, ngữ cảnh giúp cho việc thực hành trở nên có nghĩa.
5
- Là phương tiện giới hạn và khống chế phạm vi sử dụng ngôn ngữ của học
sinh trong các bài tập máy móc.
- Là phương tiện hướng dẫn, gợi ý cho các bài luyện tập.
- Tạo tiền đề, làm cơ sở cho các bài tập thực hành.
- Phản ánh, cung cấp các nội dung văn hóa.
- Gây hứng thú, làm cho các bài học trở nên thú vị và gần với cuộc sống
thật hơn.
4.2. Các loại đồ dùng dạy học
- “Thầy và trò” trong lớp học cũng được coi là đồ dùng dạy học: Giáo
viên có thể dùng cử chỉ, điệu bộ tay, chân (gesture), nét mặt (facial expressions) và
các hành động (actions) giúp cho việc chỉ ra nghĩa của từ và để minh họa cho tình
huống. Ngồi ra, giáo viên có thể dựa vào học sinh (tả hình dáng, tính tình, nghề
nghiệp,…)
- Vật thật (real objects): có thể sử dụng những đồ vật có ngay trong lớp học
(bàn, ghế, sách vở,…) hoặc có thể mang đến lớp (hoa quả, thức ăn, đồ uống,…)
- Tranh ảnh (pictures): giáo viên có thể cắt các tranh ảnh trong tạp chí, họa
báo, vẽ lên giấy bìa,… . Tranh ảnh được cắt cần dán vào bìa cứng để có thể treo
(hoặc đính) lên tường hoặc bảng một cách dễ dàng.
- Bảng: giáo viên có thể dùng bảng để vẽ tranh, những hình vẽ bằng những
nét vạch đơn giản bản đồ, biểu đồ. Giáo viên cũng có thể vẽ các hình minh họa
cho việc giới thiệu từ mới (từ orange vẽ quả cam, từ banana vẽ quả chuối,…) hoặc
vẽ những hình người bằng các nét vẽ đơn giản (
) giúp giáo viên trong việc giới
thiệu mẫu đối thoại. Qua theo dõi hình vẽ, học sinh đồng thời có thể thấy được
nhưng điệu bộ, dấu hiệu mà giáo viên diễn tả trong lúc minh họa và giới thiệu mẫu
đối thoại,…
- Bảng giấy bìa (flash cards): giáo viên cần chuẩn bị những tấm giấy bìa
cứng trên đó có dán tranh, ảnh hay ngữ liệu (phrase) phù hợp với mục đích bài dạy
6
giúp giáo viên gợi ý học sinh rèn luyện miệng tại lớp, hay tái tạo mẫu đối thoại đã
học.
- Bảng nỉ, bảng nam châm: là loại đồ dùng tốt, tiết kiệm thời gian, giúp
giáo viên xây dựng tình huống, minh họa, ý nghĩa những mẫu đối thoại, mẫu câu,
từ vựng.
- Máy chiếu, đài, video, TV, máy tính,…: là những loại đồ dùng hỗ trợ rất
tích cực và phổ biến trong các loại bài giảng khác nhau, giúp giáo viên có thể tiết
kiệm thời gian viết bảng trên lớp (máy chiếu, máy tính, TV,…), hỗ trợ tích cực
trong các tiết dạy nghe ( đài, máy tính,…).
4.3. Cách khai thác đồ dùng dạy học
4.3.1. Giới thiệu ngữ liệu mới
Trong giai đoạn giới thiệu ngữ liệu, giáo cụ trực quan được coi là một
phương tiện phổ biến nhất để giới thiệu từ mới. Ngồi ra cịn dùng để giới thiệu
cấu trúc câu.
a) Giới thiệu từ mới: có thể sử dụng các loại giáo cụ trực quan như tranh
ảnh, vật thực, cử chỉ, điệu bộ, vẽ hình lên bảng.
* Ví dụ 1: Dùng tranh ảnh:
a) Unit 6: Speak and Listen (English 9)
- Gv dùng tranh và giới thiệu: This is a ship.
ship (n)
b) unit 13: (A3) English
- Gv yêu cầu hs quan sát tranh và trả lời:
What is she doing?
7
- stir- fry (v): xào
* Ví dụ 2: Dùng hình vẽ
Unit 3: (A1) - English 6
- Giáo viên dùng những nét vẽ đơn giản một cái bàn trên bảng để dạy từ:
table (n)
* Ví dụ 3: Dùng vật thực
Unit 2: (C2) – English 6
- Giáo viên dùng các vật thực có trong lớp học ( bút máy, thước kẻ, viên tẩy,…) để
dạy các từ:
- a pen: cái bút máy
- a ruler: cái thước kẻ
- an eraser: viên tẩy
- a board : cái bảng
- a school bag: cái cặp sách
* Ví dụ 4: Dùng cử chỉ, điệu bộ
Unit 6: Speak and Listen (English 9)
- wrap: gói, bọc
b) Giới thiệu cấu trúc ngữ pháp: có thể dùng bảng biểu, sơ đồ, vật thực,
lớp học, giáo viên, học sinh, tranh vẽ.
* Ví dụ 1: Dùng bảng biểu, sơ đồ
Language focus 3 (ex 2) – English 7
From
Shoe store
To
Clothing store
Meter
600
House
Post office
900
…
…
…
Model sentences:
How far is it from………….to………….?
8
It is ………….meters.
* Ví dụ 2: Dùng tranh vẽ
Unit 9: (A. Parts of the body. 3) – English 6
- Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát bức tranh rồi nhận xét dựa trên câu hỏi:
Who is it? What is he doing? How is he?
Structure: How to describe the
features of somebody.
He
is
short.
S + is/ are/ am + adj
* Ví dụ 3: dùng vật thực
Unit 4: C5- English 6 (dùng đồng hồ để bàn hoặc đồng hồ treo tường để dạy cấu
trúc hỏi và trả lời về giờ).
Structures:
What time is it? – It’s ten o’clock
- It’s ten ten/ half past ten/…
* Ví dụ 4: Dùng lớp học, giáo viên, học sinh
Unit 3: A3 – English 6 : Dạy cấu trúc câu giới thiệu nghề nghiệp
- Giáo viên chỉ vào bản thân và giới thiệu : I am a teacher.
- Giáo viên chỉ vào một học sinh nam trong lớp và nói: He is a student.
- Giáo viên chỉ vào một số học sinh và nói: You are students.
Form:
I
He/ she
You/we/ they
am
is
are
a/ an
N
Ns/es
4.3.2. Dùng trực quan trong việc dạy đọc
9
a) Dùng tranh ảnh để giới thiệu bài khóa, chủ điểm nội dung hoặc tình
huống.
Unit 3: A trip to the countryside ( introduce the title of unit: about the countryside)
b) Giới thiệu từ mới, cấu trúc ngữ pháp mới có trong bài khóa
c) Củng cố bài: Sau khi học sinh đã nắm vững từ mới, cấu trúc ngữ pháp,
hiểu nội dung bài, giáo viên có thể dùng tranh và khung hội thoại gợi ý học sinh
tái diễn lại bài.
Unit 14:A1 P.141 – English 6
- Give the poster with the mapped dialogue A3 and ask Ss to close their book and
practice the dialogue.
10
What ...............?
Where.............stay?