Tải bản đầy đủ (.docx) (31 trang)

Đề Cương Gt&Ltng Chuẩn K72D Tino.docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (241.44 KB, 31 trang )

TINO - 1

ĐỀ CƯƠNG HP: GIAO TIẾP VÀ LỄ TÂN NGOẠI GIAO
GV: Phạm Quốc Sử ( biên soạn)
SV:Nguyễn Quốc Toàn (Soạn đáp án)
Câu 1: Giao tiếp là gì? Văn hóa giao tiếp là gì? Trình bày chức năng, vai
trị và cấu trúc của giao tiếp.
1.1 Giao tiếp là gì?
Có nhiều khái niệm về giao tiếp nhưng cơ bản và đầy đủ thì thể hiện qua 2 khái
niệm sau:
1, Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các mối quan hệ tiếp xúc giữa
người và người, hoặc giữa người và các yếu tố xã hội nhằm thỏa mãn các yêu
cầu nhất định. Giao tiếp là quá trình mà qua đó con người có thể có cùng nhận
thức thơng qua việc truyền và nhận thông tin . Là sự tác động qua lại giữa
người với người nhằm thể hiện tình cảm và trao đổi thông tin, làm cho mọi
người hiểu biết lẫn nhau dẫn đến sự thiết lập quan hệ với mọi người.
2, Giao tiếp là quá trình truyền đạt thông tin giữa các cá nhân hoặc tổ chức khác
nhau bằng cách sử dụng các phương tiện như lời nói, văn bản, hình ảnh hoặc âm
thanh. Giao tiếp có vai trò quan trọng trong cuộc sống con người, giúp trao đổi
thông tin, ý tưởng và cảm xúc với nhau.
VD: Giao tiếp giữa hai người dựa trên cùng 1 chủ đề
1.2 Văn hóa giao tiếp là gì?
- Văn hóa giao tiếp là cách thức thể hiện nhân cách thái độ của mỗi người đối
với người khác trong quá trình sống. Trong giao tiếp, văn hóa nổi bật lên nét
tính cách đặc trưng, nét đẹp của mỗi người.
- Văn hóa giao tiếp là một phạm trù văn hóa, dùng để thể hiện cử chỉ, hành động
và lời nói làm cho đối phương có cảm tình với mình, từ đó những cơng việc mà
mình hợp tác đạt tới mục tiêu thành cơng.
=> Văn hóa giao tiếp giúp xây dựng mối quan hệ giữa con người với con
người, con người và tổ chức. Kỹ năng giao tiếp hiệu quả là một trong những
kỹ năng cần thiết để thành công trong cuộc sống và trong cơng việc.


1.3 Chức năng, vai trị và cấu trúc của giao tiếp.
a, Chức năng ( 2 chức năng nhé 😊)


TINO - 2

Giao tiếp có nhiều chức năng, thể chia các chức năng của giao tiếp ra thành hai
nhóm : các chức năng thuần túy xã hội và các chức năng tâm lý – xã hội.
 Các chức năng thuần túy xã hội là các chức năng giao tiếp phục vụ các
nhu cầu chung của xã hội hay của một nhóm người.
VD: Khi bộ đội kéo pháo thì họ cùng hơ lên với nhau “hị dơ ta nào”
để điều khiển thống nhất cùng hành động để tăng thêm sức mạnh của
lực kéo.
+ Giao tiếp cịn có chức năng tổ chức, điều khiển, phối hợp hoạt động lao động
tập thể.
+ Giao tiếp cịn có chức năng thơng tin, muốn quản lí một xã hội phải có thơng
tin hai chiều, từ trên xuống, từ dưới lên và cả các nhóm tập thể,...
 Các chức năng tâm lý – xã hội của giao tiếp là các chức năng phục vụ về
nhu cầu của từng cá nhân, từng thành viên trong xã hội.
+ Trong cuộc sống, đặc thù cơ bản của con người là luôn giao tiếp với người
khác. Cô đơn là một trạng thái tâm lí nặng nề. Bị “cơ lập” với bạn bè người
thân,.. có thể nảy sinh trạng thái tâm lí khơng bình thường.
+ Chức năng này của giao tiếp gọi là chức năng nối mạnh – tiếp xúc với người
khác. Khi đã nối được mạch với nhóm xong thì từng thành viên, cá nhân trong
nhóm sẽ nối được mạch với nhau từ đó tạo nên các quan hệ nhóm dẫn đến có
hứng thú chung, mục đích chung, có nhu cầu gắn bó với nhau, làm cho mối
quan hệ trở thành mqh tích cực, đảm bảo sự thực tồn tại của nhóm.

 Giao tiếp giúp các cá nhân liên kết với nhau, mỗi thành viên hịa nhịp
vào nhóm, coi nhóm là mình, mình là nhóm. ( nhóm ở đây là từ 2 thành

viên trở lên)
b, Vai trò của giao tiếp. ( 5 vai trị nhé 😊)
Giao tiếp đóng vai trị vơ cùng quan trọng trong cuộc sống con người, vì hằng
ngày chúng ta phải giao tiếp với bạn bè, người thân, đồng nghiệp,.. trong những
hồn cảnh và tình huống khác nhau (trao đổi thông tin, giải quyết vấn đề, thuyết
phục,..) và những lời nói, cử chỉ trong giao tiếp sẽ tạo ra ấn tượng tốt đẹp, sự tin
cậy, cảm xúc tích cực cũng có thể làm mất lịng nhau, tổn hại đến sức khỏe và
khả năng hoạt động của con người vì vậy mỗi người cần phải nhận thức rõ vai
trị quan trọng của giao tiếp :
+ Giao tiếp là phương tiện thể hiện nhân cách, tâm lý học của ngon người
được hình thành và phát triển trong giao tiếp với những người xung quanh.


TINO - 3

+(truyền đạt thông tin) Giao tiếp là điều kiện để thực hiện tốt các hoạt động
khác, là một công cụ sắc bén để tạo ra mối quan hệ trong quản lý, kinh doanh và
tạo ra tình cảm hạnh phúc gia đình.
+(xây dựng mối quan hệ) Trong quản lý, nếu người lãnh đạo có kỹ năng giao
tiếp tốt thì sẽ tạo ra được các cộng sự, tạo ra một bầu khơng khí tâm lý thuận lợi
trong tổ chức, tạo ra các mqh gần gũi thân mật giữa cấp trên và cấp dưới, nâng
cao uy tín của mình.
+Giao tiếp giúp giải quyết xung đột giữa các cá nhân, tổ chức khác nhau, giúp
tạo ra sự đồng cảm và tôn trọng giữa các bên.
+ Giao tiếp giúp tạo ra sự đồng thuận, đưa ra các ý tưởng giải pháp chung cho
các ý tưởng cụ thể.
VD: “học ăn, học nói, học gói, học mở”

 Kỹ năng giao tiếp hiệu quả là một kỹ năng tốt để đến với thành công
trong công việc và cuộc sống.

c, cấu trúc của giao tiếp.
Trong quá trình giao tiếp xã hội khơng có sự phân cực giữa bên phát và nhận
thông tin, cả hai đều là chủ thể tích cực, ln đổi vai trị cho nhau. Và giao tiếp
có một cấu trúc kép, nghĩa là giao tiếp chịu sự chi phối của động cơ, mục đích
và điều kiện giao tiếp của hai bên cụ thể như sau:
 Động cơ của S1
 Mục đích của S1
S2
 Điều kiện của S1
S2

hoạt động giao tiếp
hành động giao tiếp
thao tác giao tiếp

động cơ của S2
mục đích của
điều kiện của

Và cũng có các cấu trúc cơ bản như sau:
+ Người gửi thông điệp: là người tạo ra thông điệp và truyền tải nó đến
người nhận.
+ Thơng điệp: nội dung cần truyền tải từ người nhận đến người gửi.
+ Kênh truyền thông điệp: là phương tiện để truyền tải thông điệp từ người
gửi đến người nhận, ví dụ: lời nói, văn bản, hình ảnh, âm thanh.
+ Người nhận thông điệp: là người nhận thông điệp từ người gửi đến người
nhận.
+ Phản hồi: là phản ứng của người nhận với thông điệp đã nhận được.



TINO - 4

+ Bối cảnh: Là mối trường xung quanh và các yếu tố khác ảnh hưởng đến
việc truyền tải thơng điệp.

 Trong q trình giao tiếp hai người ln tự nhận thức về mình, đồng
thời họ cũng nhận xét đánh giá về phía bên kia.
Câu 2: Giao tiếp giữa các nền văn hóa là thế nào? Trình bày nội dung
vấn đề văn hóa xun quốc gia về ngơn ngữ nói và viết? Vấn đề văn hóa
xuyên quốc gia về quan niệm giá trị?
2.1, Giao tiếp giữa các nền văn hóa là như thế nào?
“Giao tiếp giữa các nền văn hóa” là việc chia sẻ thơng tin giữa các nền văn
hóa và các nhóm xã hội khác nhau, bao gồm các cá nhân có nền tảng tơn
giáo, xã hội, dân tộc và giáo dục khác nhau.
2.2 Trình bày nội dung vấn đề văn hóa xun quốc gia về ngơn ngữ nói và
viết.
Vấn đề văn hóa xun quốc gia về ngơn ngữ nói và viết là một chủ đề phức
tạp và đa dạng. Nó bao gồm các khía cạnh như sự khác biệt về ngữ âm, từ
vựng, ngữ pháp, cách sử dụng ngơn ngữ và thói quen viết khác nhau giữa
các quốc gia và văn hóa khác nhau.
+ Việc sử dụng ngơn ngữ khơng phải tiếng mẹ đẻ của mình để giao tiếp quốc
tế phải hết sức thận trọng để tránh hiểu lầm. Bởi mỗi từ ngữ, câu nói đều có
nghĩa đen và nghĩa bóng mà những người sử dụng tiếng mẹ đẻ mới hiểu
được.
- Việc sử dụng nhiều loại ngôn ngữ như vậy là do mỗi dân tộc có hình thức
diễn đạt của riêng mình, tùy theo đặc thù, đó có thể là do nơi cư trú (cách
phát âm nặng – nhẹ) ảnh hưởng tới việc truyền đạt, hình tượng khác
nhau.
- Ngơn ngữ là cơng cụ giao tiếp chính của con người, khi giao tiếp quốc tế,
các chủ thể giao tiếp gặp nhiều khó khăn khi phải giao tiếp với những

người nói khơng cùng một ngơn ngữ, chính vì vậy, việc sử dụng ngoại
ngữ trong giao tiếp quốc tế là tất yếu.
- Trên thế giới có 206 quốc gia vs 193 quốc gia 2 thành vên quan sát và 11
qg khác nhưng có tới 6500 ngơn ngữ khác nhau
- Hiện nay, có 7 ngơn ngữ quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong
lịch sử được nhiều người sử dụng là: Trung Quốc, tiếng Anh, tiếng
Hindu, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Ả rập
+ Trong đó tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thông dụng và được sử dụng
nhiều nhất trên thế giới. (Tiếng Anh được sử dụng phổ biến nhờ vào ảnh


TINO - 5

hưởng của Mỹ và Anh trên các lĩnh vực quân sự, kinh tế, khoa học, tin
học, chính trị và văn hóa)
Ví dụ: Người Việt ít sử dụng tên với người lớn tuổi, người được tơn trọng
thì người phương Tây lại thoải mái về việc này, nếu không dùng cịn được
coi là bất lịch sự.
Với nhiều quốc gia thì việc nói lời cảm ơn, xin lỗi được nói thường
xuyên trong giao tiếp, khi nhận được lời cảm ơn thì cần nói “you welcom” –
khơng có gì.
 Để giải quyết được vấn đề văn hóa nói – viết chúng ta cần phải có sự
hiểu biết về các nền văn hóa khác nhau và cách họ sử dụng ngôn ngữ.

2.3 Vấn đề văn hóa xuyên quốc gia về quan niệm giá trị.
“Giá trị” và “hệ giá trị” là những thuật ngữ được sử dụng rộng rãi ở trong
các ngành khoa học xã hội và nhân văn nhưng cũng là một khái niệm hết sức
phức tạp khó có thể định lượng được và bao quát nhưng lại phụ thuộc vào
nhiều quan điểm khác nhau trên thế giới chính vì thế mà hạt nhân của mỗi
nền văn hóa là hệ thống giá trị, và có thể coi hệ thống giá trị là chỉ số để

đánh giá trình độ và tính chất đạt được của nền văn hóa.
Đối với các nền văn hóa khác nhau, sự khác biệt trong quan niệm về hệ giá
trị dẫn tới những quan điểm khác nhau về cái đúng cái sai, cái tốt – xấu hay
cái hợp lí và cái khơng hợp lí. Trong giao tiếp quốc tế chúng ta phải nhận
thức rõ những vấn đề liên quan đến quan niệm về giá trị để mà tránh những
xung đột hiểu lầm khơng đáng có và giá trị là tập hợp những phạm trù giá trị
khác nhau được cấu trúc thành các bậc khác nhau và các mối liên hệ có tính
chất lịch sử -cụ thể với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất
định.
 Mặc dù mình có thể dần quen sự khác nhau về văn hóa trên thế giới
vật chất, chúng ta cũng thấy như là về quần áo, thực phẩm hay đồ vật
thì có thể nhận ra được là mọi người từ các nền văn hóa khác nhau
qua cách nhìn có phần khác nhau so với mình, đây chính là vấn đề
văn hóa có sự khác nhau trên quan điểm giá trị.
Câu 3: Ngoại giao là gì? Trình bày các khái niệm về:
-Văn bản-văn kiện giấy tờ ngoại giao: Quốc thư, sách trắng, công hàm
ngoại giao, hiệp định, hiệp ước, công ước, hộ chiếu, thị thực,..


TINO - 6

-Cơ quan ngoại giao: đại sứ quán, lãnh sứ quán, văn phòng liên lạc.
-Cán bộ ngoại giao: đại sứ, cơng sứ, tham tán, bí thư, tùy viên sứ quán,...
3.1 Định nghĩa về ngoại giao.
Ngoại giao là một nghệ thuật tiến hành trong việc đàm phán thương lượng
giữa những người đại diện cho một nhóm hay một quốc gia.
 Ngoại giao là phương tiện để thực hiện những chính sách đối ngoại, sự
vận dụng tổng hợp các biện pháp, hình thức hịa bình để giải quyết các
vấn đề có tính đến điều kiện cụ thể và tính chất của vấn đề được giải
quyết, là hoạt động chính thức của các cơ quan đối ngoại và các vị lãnh

đạo Nhà nước về chính phủ về quan hệ đối ngoại để thực hiện các mục
tiêu và chính sách đối ngoại của nhà nước bằng con đường đàm phán và
các hình thức hịa bình khác, bảo vệ lợi ích và quyền hạn của nhà nước và
cơng dân nước mình ở nước ngồi.
 Tại Việt Nam, giáo trình Một số vấn đề cơ bản về nghiệp vụ ngoại giao
đưa ra định nghĩa: “Ngoại giao là một khoa học mang tính tổng hợp,
một nghệ thuật của những khả năng, là hoạt động của các cơ quan
làm công tác đối ngoại và các đại diện có thẩm quyền làm cơng tác
đối ngoại của Nhà nước, bảo vệ quyền lợi, lợi ích, quyền hạn của
quốc gia, dân tộc ở trong nước và trên thế giới, góp phần giải quyết
các vấn đề quốc tế chung, bằng con đường đàm phán vá các hình
thức hồ bình khác”.
3.2 Văn bản-văn kiện giấy tờ ngoại giao.
- Quốc thư: là văn bản do cơ quan có thẩm quyền của quốc gia cấp nhằm
xác nhận tư cách đại diện hợp pháp của người đại diện chính thức cho quốc
gia đó khi tham gia quan hệ quốc tế.
- Sách trắng(bạch thư): là một bản báo cáo hoặc bản hướng dẫn của cơ
quan thẩm quyền với mục đích giúp người đọc hiểu về một vấn đề, giải
quyết một vấn đề hoặc ra một quyết định nào đó.
- Cơng hàm ngoại giao: Cơng hàm ngoại giao là thư tín chính thức giữa
những Chính phủ truyền đạt các vấn đề Chính phủ ủy quyền hay chỉ đạo.
Cơng thức lịch thiệp khơng được dùng trong hình thức thư tín này. Cơng
hàm này có thể do Lãnh đạo Bộ, trưởng cơ quan đại diện ngoại giao hay
người được ủy quyền ký tắt hoặc ký đầy đủ


TINO - 7

- Hiệp định: Theo Luật và điều ước quốc tế năm 2016 của Việt Nam, có thể
hiểu hiệp định là thỏa thuận bằng văn bản được kí kết giữa các quốc gia,

được pháp luật quốc tế điều chỉnh.
- Hiệp ước: Thường được gọi là văn kiện thể hiện các hợp đồng chính thức
giữa các quốc gia liên quan đến các vấn đề như hịa bình, hoặc chấm dứt
chiến tranh , thiết lập các liên minh, thương mại, mua lại lãnh thổ hoặc giải
quyết tranh chấp.
- Công ước: là văn bản luật quốc tế tiến hành giữa các chủ thể luật quốc tế.
+ Có thể là các quốc gia hoặc các tổ chức quốc tế, cũng có thể là các công
ước được ký kết giữa hai quốc gia thành viên trở lên.

 Hộ chiếu: (passpost) ngoại giao:
+ Là loại giấy tờ tùy thân dùng với mục đích để xuất nhập cảnh chỉ được cấp
đối với một số chủ thể nhất định theo quy định pháp luật
+ Hộ chiếu có thể được cấp cho cơng dân của quốc gia đó, hộ chiếu có thời
hạn và sẽ được cấp lại sau khi hết hạn.

 Thị thực(visa)
+ Thị thực là loại giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp,
cho phép người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam.
3.3 Cơ quan ngoại giao.
- Đại sứ quán( embassy): là cơ quan đại diện ngoại giao của một quốc gia này
tại một quốc gia khác để thiết lập khi hai nước có quan hệ ngoại giao và đồng ý
thiết lập cơ quan ngoại giao. Đại sứ quán luôn đặt ở thủ đô của một quốc gia.
- Lãnh sứ quán(consulate): Là cơ quan ngoại giao của một nước đặt ở thành
phố một nước khác. Phụ trách một vùng nào đó. Đây là nơi làm việc của Tổng
Lãnh sự và các nhân viên ngoại giao. Cơ quan này được thiết lập sau Đại sứ
quán, các yếu tố khác như khối lượng công việc, yếu tố địa lý,...
- Văn phòng liên lạc: “cơ quan đại diện ngoại giao” cơ quan này được thiết lập
khi giữa hai nước chưa có quan hệ ngoại giao chính thức hoặc khi giữa hai nước
đã có quan hệ ngoại giao chính thức nhưng tạm thời bị chia cắt.
3.4 Cán bộ ngoại giao.

- Đại sứ:
 Là cấp bậc ngoại giao cao nhất của người đứng đầu cơ quan đại diện
ngoại giao


TINO - 8

 Là cán bộ ngoại giao có chức vụ cao nhất, được chỉ định đại diện cho một
quốc gia tại một đất nước khác hoặc một tổ chức quốc tế.
 Công sứ :
là đại diện ngoại giao đứng đầu công sứ quán và được bổ nhiệm làm đại
diện cho nước cử trước nguyên thủ quốc gia của nước tiếp nhận theo quy
định của luật quốc tế. Công sứ được hưởng các quyền ưu đãi và miễn trừ
ngoại giao giống như đại sứ.
 Tham tán: Là dự vào việc bàn kế hoạch (động từ), chỉ cán bộ cấp cao ở
sứ quán một nước, sau đại sứ, họ hỗ trợ làm việc cho đại sứ.
 Bí thư: Cán bộ ngoại giao ấp bậc dưới tham tán, phụ trách từng phần việc
của sứ quán, như lễ tân, báo chí…, và thường giao thiệp với các cơ quan
hữu quan của nước sở tại. Chia ba bậc: Bí thư thứ nhất, bí thư thứ hai,
bí thư thứ ba.
 Tùy viên:
+ Là một chức vụ cao cấp trong một sư quán, phụ trách công tác văn hóa
hoặc quân sự, Tùy viên văn hóa, Tùy viên quân sự,...

Câu 4. Phân tích nhằm làm rõ sự khác nhau giữa các cơ quan trong hệ
thống các cơ quan đối ngoại trung ương: các cơ quan chính trị do hiến
pháp quy định; các cơ quan chun mơn có tính chất cơng ước quốc tế; các
cơ quan đại diện thường trú, đại diện lâm thời của nhà nước ở nước ngồi?
4.1 Các cơ quan chính trị do hiến pháp quy định (có những bộ nào, ban nào,
ngành nào?)

Cơ quan này bao gồm nguyên thủ quốc gia (cá nhân hoặc tập thể), Chính
phủ và Thủ tướng, Bộ ngoại giao và Bộ trưởng bộ ngoại giao.
 Nguyên thủ quốc gia chính là Vua ở các nước theo chế độ quân chủ và
Chủ tịch hoặc Tổng thống theo chế độ cộng hòa => Trách nhiệm hoạt
động của quốc gia do Hiến pháp quy định.
+ Có những quyền hạn mà Nguyên thủ quốc gia khơng ghi trong Hiến pháp
nhưng trên thực tế thì quốc gia nào cũng thừa nhận nguyên thủ quốc gia có
thể trực tiếp quan hệ với các nước khác, chính thức hóa các thỏa thuận về
chính sách đối ngoại.
+ Những điều ước, văn bản, tuyên bố quan trọng thuộc chính sách đối ngoại
thường do nguyên thủ quốc gia kí.


TINO - 9

 Chính phủ là cơ quan chính trị do Hiến pháp quy định có chức năng
lãnh đạo, có thẩm quyền thiết lập và điều chỉnh các mối quan hệ giữa
cộng đồng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và ngồi lãnh thổ.
+ Người đứng đầu chính phủ thường được gọi là Thủ tướng, có quyền đại
diện cho quốc gia, Chính phủ các quan hệ đối ngoại trong phạm vi quyền
hạn của mình được hiến pháp quy định
+ Thủ tướng có quyền đi dự các phiên họp của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc
không cần sự ủy quyền nào,..
 Bộ ngoại giao là cơ quan thực thi đường lối, chính sách đối ngoại của
nhà nước, Chính phủ về các công việc đối ngoại.
+ Bộ trưởng Ngoại giao là người lãnh đạo cơ quan phụ trách quan hệ đối
ngoại của Chính phủ, được quyền liên hệ với các nước khác, khơng cần có
một sự uỷ quyền đặc biệt nào, trong phạm vi quyền hạn được hiến pháp quy
định.


 Khi ra nước ngồi thì Ngun thủ quốc gia, Thủ tướng, Bộ trưởng ngoại
giao, được hưởng mọi quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao ở mức cao
nhất: Quyền bất khả xâm phạm, đặc quyền danh dự,..
 Nói chung đối với các cơ quan chính trị do hiến pháp quy định được
quy định và phân chia rất rõ ràng, nhưng trên thực tế thì cịn phải xem
xét tình hình về cơ bản thì vẫn phải tuân thủ theo các quyền hạn mà
Hiến Pháp đặt ra.
4.2 Các cơ quan chun mơn có tính chất công ước quốc tế.
Trong bộ máy hoạt động và đối ngoại của nhà nước có những cơ quan
được tổ chức và hoạt động trên cơ sở những hiệp ước, hiệp định quốc tế hoặc
trên cơ sở tập quán và thừa nhận trong quan hệ quốc tế.

 Chúng được gọi là cơ quan chun mơn có tính cơng ước.
 Là những cơ quan chuyên môn của nhà nước quan hệ với nước khác.
 Những cơ quan này được tổ chức theo ngành dọc trực thuộc các bộ,
ngành chuyên môn. Cán bộ ngành này có liên quan, quan hệ với nước
khác là do thực chất nội dung công việc của họ.
Trong ngày nay với sự phát triển của cuộc cách mạng 4.0, một thế giới của thời
đại công nghệ chạy ra và buộc con người cần phải chạy theo công nghệ số mới
bắt kịp xu hướng hiện đại, chúng ta có thể thấy như các ngành hàng không, bưu


TINO - 10

điện, ngoại rất thương, thơng tin, văn hóa,.. đang phát triển và cần phải có sự
liên kết trao đổi với các quốc gia khác mới có thể xúc tiến, phát triển trong nước
vì vậy vấn đề đặt ra là nếu khơng quan hệ với các nước khác thì họ khó có thể
hồn thành được cơng việc giao phó. (họ sẽ phải quan hệ với các nước khác
và làm trịn trách nhiệm mà mình được giao phó)
Điều quan trọng nhất là các mối liên hệ của cơ quan này với nước ngồi khơng

mang tính chất quan hệ chính trị, mà chỉ mang tính chất chun mơn, và các cơ
quan này không hoạt động dựa trên cơ sở hiến pháp mà chỉ dựa trên những công
ước quốc tế.

 Qua hai phần trên chúng ta có thể thấy rõ sự khác nhau giữa “các cơ
quan chính trị do Hiến pháp quy định” và “các cơ quan chun mơn có
tính chất cơng ước quốc tế”
4.3 Các cơ quan đại diện thường trú.
Là các cơ quan hàng ngày làm công tác ở nước ngoài, đại diện cho quyền lợi
quốc gia, quyền lợi dân tộc, quyền lợi cơng dân, pháp nhân nước cử đi.
Ví dụ: mấy chú phóng viên thời sự ở nước ngồi, ...
+ Các cơ quan đại diện thường chú bao gồm: Đại sứ quán, Công sứ quán, Cơ
quan đại diện các tổ chức quốc tế, Đại biện quán, Tổng lãnh sự quán, Lãnh sự
quán.
Tùy theo chức năng tính chất hoạt động thì người ta sẽ phân cơ quan đại
diện thường trú thành:

 Cơ quan đại diện thường trú ngoại giao
 Cơ quan đại diện thường trú không ngoại giao
4.4 Các cơ quan đại diện lâm thời.
Thường bao gồm các đoàn đại biểu, các đại diện riêng lẻ, đặc phái viên được cử
ra nước ngoài hoạt động trong một thời gian nào đó, hoặc các quan sát viên ở
các hội nghị quốc tế, hoặc các đại diện cá biệt được cử đi dự các ngày lễ nhà
nước, lễ đăng quang, quốc tang,...

 Chúng ta có thể thấy rõ sự khác nhau của “các cơ quan đại diện
thường trú” và “các cơ quan đại diện lâm thời” để là những cơ quan
đại diện quan trong của một quốc gia nhưng tính chất và thời gian
cơng việc có sự khác nhau và mỗi cơ quan đều cần có sự liên kết, quan
trọng khơng thể thiếu một trong những cơ quan đó trong một quốc gia.



TINO - 11

Câu 5. Lễ tân ngoại giao là gì? Nêu vị trí, vai trị, ý nghĩa của lễ tân ngoại
giao? Các ngun tắc và tính chất của cơng tác lễ tân ngoại giao?
5.1 Lễ tân ngoại giao là gì?
Lễ tân ngoại giao được hình thành từ thuở rất xa xưa. Sau khi các nhà nước
xuất hiện, xã hội loài người từng bước tích lũy kinh nghiệm về những nghi
thức, tập quán, luật lệ trong ứng xử giữa các quốc gia, về sau được gọi là lễ
tân ngoại giao.
Là sự vận dụng tổng hợp những nguyên tắc và qui định của luật pháp quốc
tế, phù hợp luật pháp quốc gia của nước sở tại, đồng thời phù hợp truyền
thống và tập quán quốc tế, cũng như đặc điểm văn hóa, tơn giáo của các
dân tộc.
5.2 Vị trí, vai trị, ý nghĩa của lễ tân ngoại giao?
a, vị trí của lễ tân ngoại giao.
 Lễ tân ngoại giao là một bộ phận của lễ tân nhà nước, là một lĩnh vực
công tác quan trọng trong hoạt động giao tiếp, đối nội và đối ngoại của
Chính phủ và nhân dân ta, là lĩnh vực được Đảng và nhà nước quan tâm
chỉ đạo ngay từ khi cách mạng tháng 8 thành công năm 1945 đến nay.
 Lễ tân ngoại giao (hoặc lễ tân đối ngoại nếu hiểu theo nghĩa rộng) là một
bộ môn thuộc nghiệp vụ đối ngoại, có tầm quan trọng đặc biệt đối với
hoạt động có nhân tố nước ngồi.
=> có thể khẳng định rằng hễ có hoạt động ngoại giao, hoạt động đối
ngoại là có lễ tân ngoại giao, lễ tân đối ngoại.
b, Vai trò của lễ tân ngoại giao.
Lễ tân ngoại giao ln đóng những vai trị quan trọng trong công tác hoạt động
đối ngoại, ngoại giao cơ bản như:
 Trong quan hệ quốc tế, đường lối chính sách đối ngoại là nhân tố quyết

định.
 Là một bộ phận cấu thành của hoạt động ngoại giao nhằm thực hiện chính
sách đối ngoại của một nhà nước, đồng thời góp phần thúc đẩy hợp tác và
hữu nghị giữa các nước.
 Là cơng cụ chính trị nhằm phục vụ cho hoạt động ngoại giao của một
nước.
+ Cụ thể hóa các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế áp dụng vào
nước mình.


TINO - 12

VD: Nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia được thể hiện trong việc
sắp xếp ngôi thứ các trưởng đoàn trong hội nghị quốc tế
+ Đảm bảo nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của mỗi quốc gia, được cụ thể
hóa vào các quy định trọng lễ đón tiếp những người đứng đầu nhà nước,
chính phủ cũng như các đặc quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho các đại diện
của các nước.
+ Giữ vai trò tạo khung cảnh và bầu khơng khí thuận lợi trong quan hệ
giữa các quốc gia.
 Thể hiện sự trọng sự, lịch thiệp, văn minh của một quốc gia, dân tộc này
đối với quốc gia, dân tộc khác. ( phải tôn trọng lẫn nhau, tộn trọng phẩm
giá,..
 Lễ tân ngoại giao là sự vận dụng tổng hợp toàn bộ các quy định, tập
quán lễ tân, của quốc gia cũng như quốc tế được công nhận ngay
trong giao tiếp và hoạt động đối ngoại nhằm mục đích thực hiện và
làm tốt chính sách đối ngoại của quốc gia mình.
c, ý nghĩa của lễ tân ngoại giao
1) Lễ tân ngoại giao có ý nghĩa vơ cùng quan trọng đến các chính sách,
đường lối của nước ta tuy không phải là hoạt động chủ yếu của hoạt

động ngoại giao nhưng lại là những công việc cần thiết để tạo điều
kiện cho hoạt động ngoại giao được tiến hành thuận lợi.
+Và lễ tân ngoại giao cũng là một bộ phận cấu thành của hoạt động đối ngoại để
thực hiện chính sách đối ngoại của một nhà nước. Chính vì thế lễ tân ngoại giao
thể hiện thái độ, quan điểm chính trị trong từng lễ tiết. Và các thái độ đón, lễ
tiếp thể hiện nội dung mức độ quan hệ
Ví dụ: Việc đón tiếp đối tác, hay việc đón tiếp những vị quan chức cao ở bên
Hàn Quốc sang để nâng cấp ngoại giao, kí kết những văn bản, cùng nhau
hợp tác thì ngay từ cơng tác chuẩn bị, lễ đón tiếp của nước ta như chuẩn bị
hoa, xe đưa đón, tiệc ăn mừng,... những điều đó chính là một góc nhỏ của lễ
tân ngoại giao và thể hiện mức độ quan hệ giữa hai nước.
2) Mọi hoạt động đối ngoại đều cần tới công tác lễ tân ngoại giao
+ Bất cứ hoạt động ngoại giao nào giữa hai hoặc nhiều quốc gia đều cần đến các
thủ tục lễ tân ngoại giao như: đón phái đồn, triệu tập các hội nghị quốc tế, đàm
phán kí kết các hiệp định, đến việc bổ nhiệm, trang phục trong các lễ tết,...
3) Vừa là cơng cụ chính trị của hoạt động đối ngoại, vừa là phương tiện
thực hiện và cụ thể hóa các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.


TINO - 13

+ Nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia được thể hiện trong việc sắp xếp ngôi
thứ cho các Trưởng cơ quan đại diện ngoại giao nước tiếp nhận, hay sắp xếp
chỗ ngồi,...
+ Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia được cụ thể hóa vào các quy định
coi trọng quốc kỳ, quốc thiều của một nước trong các nghi lễ đón tiếp dành cho
các vị đứng đầu nhà nước, đứng đầu chính phủ, cũng như trong các đặc quyền
ưu đãi,...
4) Tạo khơng khí thuận lợi trong quan hệ quốc tế.
+ Lễ tân ngoại giao tạo điều kiện cho mọi hoạt động, công tác tổ chức ngoại

giao, tạo sự hiểu biết lẫn nhau, tăng cường tình hữu nghị giữa các dân tộc, quốc
gia.
+ Lễ tân ngoại giao đề ra các quy tắc trong các cuộc giao thiệp quốc tế, vận
dụng, khéo léo các hình thức thích hợp trong đàm phán, ký kết các văn kiện
quốc tế nhằm làm tăng giá trị và sự tôn trọng những điều đã kí kết.
5) Đảm bảo quyền bình đẳng tơn trọng lẫn nhau giữa các nước.
Lễ tân ngoại giao tạo điều kiện để mỗi quốc gia, ngay cả trong trường thù địch
với nhau, có sự tơn trọng lẫn nhau tơn trọng phẩm giá và quyền độc lập giữa các
dân tộc, ngay cả những tân tộc nhỏ nhất. Ln tạo sự bình đẳng, tơn trọng trong
cơng tác, tổ chức ngoại giao.
Ví dụ: nước Việt Nam ta ln đề cao tiêu chí “tơn trọng, bình đẳng” trên
mọi cơng tác ngoại giao cũng như thực hiện các chính sách cần có sự “mềm
dẻo” để khơng mất lịng hai bên mà cịn tạo lợi ích cho cả hai bên.
Câu 6, Hoạt động ngoại giao là gì? Quá trình hình thành và phát triển
ngoại giao quốc tế theo các thời kì nào lịch sử?
6.1 Hoạt động ngoại giao là gì?
Hoạt động ngoại giao là việc tiến hành mối quan hệ giữa các quốc gia có chủ
quyền thơng qua việc giao tiếp, thương lượng, gây ảnh hưởng và hịa giải
những khác biệt giữa đơi bên hoặc các bên.
6.2 Quá trình hình thành và phát triển ngoại giao quốc thế theo các thời kì
nào lịch sử? ( 3 thời kì)
- Quá trình hình thành và phát triển ngoại giao quốc thế được chia ra thành 2
mốc thời gian lịch sử và cho đến nay, vấn đề ngoại giao xuất hiện rất nhiều và
xuất phát từ nhiều nguyên nhân qua nhiều thời kì ( thời thượng cổ, thời cổ đại,


TINO - 14

thời phong kiến,..) và giai đoạn ngoại giao quốc tế từ sau CTTGt2 đến nay vấn
đề ngoại giao vẫn luôn được coi trọng là chủ chốt trong công tác ngoại giao.

6.2.1, Thời kì trước thế kỉ XV
*) Thời thượng cổ
- Ngay từ thời Thượng cổ, đã xuất hiện hình thức phơi thai của quan hệ ngoại
giao, là những hình thức giao tiếp cơ bản, thơ sơ giữa các bộ lạc, cộng đồng, thị
tộc.
- Việc xuất hiện ngoại giao gắn liền với việc xuất hiện nhà nước, ngoại giao
cũng như nhà nước, đều là con đẻ của xã hội có giai cấp.
 Đây là thời kì xuất hiện “phơi thai” là những hình thức giao tiếp rất cơ
bản thơi, và để có ngoại giao thì phải có sự xuất hiện của nhà nước.
Ngoại giao phải có nhà nước thì mọi người mới có thể giao lưu được với nhau
*) Thời cổ đại
- Cùng với sự tan rã của chế độ công xã nguyên thủy và xuất hiện nhà nước,
ngoại giao đã chiếm vị trí quan trọng trong các mối quan hệ giữa các nước
nhưng không phải là phương pháp hàng đầu trong việc sử dụng các chính sách
đối ngoại.
+ Với thời kì này thì phương pháp hàng đầu là bạo lực, là những cuộc chiến
tranh. Chính vì thế mà ngoại giao đã ra đời và là phương pháp không thể thiếu
để chuẩn bị hoặc chấm dứt chiến tranh. => Là phương tiện để giao bang, thúc
đẩy phát triển giữa các nước với nhau.
 Ở thời kì nay thì trong các bộ máy nhà nước chưa có cơ quan chuyên
trách về cơng tác ngoại giao, chưa có viên chức ngoại giao, và cơ quan
đại diện thường trú ở nước này đóng ở nước kia chưa có các quy định về
đặc quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao.
+ Khi cần thương huyết một vấn đề nào đó hoặc yết kiến, triều cống,.. các
quốc gia thường sẽ cử các phái bộ, do các sứ thần dẫn đầu sang với nhau chứ
khơng có quan hệ thường xuyên hay cử đi thường trực tại một nước nào đó.
+ Cơng tác ngoại giao thời đó thường tập trung một số vấn đề như: phục vụ
cho các nhiệm vụ tác chiến, cầu phong, cống sính, hiếu, hỷ, đi sứ, tiếp sự ,..
Nhìn chung quan hệ ngoại giao thời kỳ này thường được thể hiện ở mặt
chính trị: là việc thể hiện sự: Thần phục của nước nhỏ đối với nước lớn, của

nước yếu đối với nước mạnh, và quan hệ của bá chủ đối với chư hầu.
*) Chế độ phong kiến.


TINO - 15

Thời kì này có ngoại giao Châu Âu thời kỳ phong kiến phân quyền thời
trung cổ mang nặng dấu ấn của chế độ phong kiến nông nô.
 Hằng năm triều đình thường cử các sứ thần đến các quốc gia lân cận để
giao hảo nhằm giữ gìn mối quan hệ thân thiện. Có khi các sứ thần cịn
được giao phó trọng trách đi thuyết phục các nước khác liên kết với mình
để chinh phục, đàm phán hoặc đe dọa mối gây hại xâm lược của một
nước nào đó.
Một nhân tố nữa ảnh hưởng mạnh đến ngoại giao của thời kì này đó là Nhà
thờ mà đại diện là Giáo hội với toàn bộ mối quan hệ quốc tế phức tạp của
nó( giáo hội khơng chỉ là một lực lượng tơn giáo mà cịn là lực lượng nhà
nước).
 Sự thống nhất và uy tín quốc tế của giáo hội đối lập với tình trạng
chia rẽ và tranh giành giữa các quốc gia phong kiến.
+ Nền ngoại giao của Giáo hội thành công trong việc tham gia tổ chức, thực
hiện một số trào lưu lớn của thời đại như những cuộc Thập tự chinh.
6.2.2 Từ thế kỉ XV trở đi.
Ở thời kì này đã phân chia rõ ràng các giai đoạn để thấy sự phát triển và thay
đổi trong công tác ngoại giao của các nước, và đặc biệt là giai đoạn sau CTTG
t2 đến nay.
Do có sự phát triển của Chủ nghĩa tư bản và việc trao đổi buôn bán thì
ngày càng nhiều, việc giao tiếp ngoại giao để mang lại lợi ích, mở rộng mối
quan hệ ngày càng nhiều => phát triển ngoại giao hơn.
*) Ngoại giao châu âu từ thế kỉ XV đến XVII
- Thế kỉ XV, cùng với sự hình thành của chủ nghĩa tư bản và việc trao đổi

hàng hóa, giao lưu hàng hố, và bn bán, tiêu thụ nhu cầu ngày càng mở rộng
thì quan hệ ngoại giao cũng ngày càng phát triển.
Ở giai đoạn này có một hình thức giao dịch mới là: đặt các phái đoàn thường
trực ở nhiều nước trong khu vực Địa Trung Hải để quan sát tình hình tại chỗ,
nhằm hoạch định những chính sách ngoại giao thích hợp cho việc phát triển
thương mại.
 Mang lại nhiều lợi ích, được người dân hưởng ứng, nghi thức và lễ
tân ngoại giao với nước ngồi cũng được điều chỉnh chính xác hơn.
*) Ngoại giao thế giới từ thế kỉ XVIII đến 1945.


TINO - 16

- Chính vì sự đổi mới về hình thức giao dịch của thời kì trước đã dẫn đến sự phổ
biến toàn Châu Âu vào thế kỉ XVII, từ đó các nước đều có các cơ quan phụ
trách về vấn đề đối ngoại.
*) Ngoại giao thế giới sau CTTG t2 đến nay:
Sau khi CTTG T2 kết thúc, sự hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa đã hỗ trợ,
thúc đẩy phong trào độc lập phát triển, hàng trăm các quốc gia ở Châu Á, Âu,
Mỹ La Tinh đều giành được độc lập. Từ đây thì quan hệ ngoại giao giữa các
quốc gia độc lập có chủ quyền khơng ngừng được mở rộng trên khắp thế giới.
( Các quốc gia đều đang thiết lập mối quan hệ ngoại giao rất cởi mở, làm cho
hoạt động ngoại giao được diễn ra một cách phát triển hơn.)
+ Liên hợp quốc đã cho ra đời hàng loạt công ước và lễ tân ngoại giao mang
tính pháp lý, được hầu hết các nước thành viên LHQ công nhận và thực hiện.
( các công ước này liên tục được bổ sung, cho phù hợp với hiện đại)

 Mục đích là nhằm bảo vệ quyền lợi và an toàn cho các phái đoàn ngoại
giao và các tổ chức quốc tế đang làm việc ở nước sở tại. Trên cơ sở đó
quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế ngày càng

được hồn chỉnh, hệ thống hóa và phát triển.
*) Về các cơ quan đại diện ngoại giao thường trú ở nước ngồi
Những người đảm nhận cơng việc này đóng vai trị vơ cùng quan trọng, các vị
trí như: Sứ giả, đối tác chiến lược, đại sứ công chúng,...là cầu nối cung cấp
thông tin cũng như trao đổi những công việc quan trọng. Cho đến TK XIII cơ
quan đại diện thường trực mới bắt đầu hình thành, đến TK XIX những cơ quan
thường trực như vậy đã hình thành trên nhiều quốc gia có quan hệ với nhau, và
đến những năm 20 cơ quan này đã trở nên khá mạnh, mang tính chuyên nghiệp
và là bộ phận quan trọng trong toàn bộ hệ thống lãnh đạo của nhà nước.
 Như vậy chúng ta có thể thấy rằng vấn đề cơng tác ngoại giao quốc tế
đã có từ rất lâu rồi và qua từng thời kì thì có sự thay đổi để phù hợp
hơn với các vấn đề về trao đổi trong tính chất cơng việc, và những sự
thay đổi theo hướng tích cực ấy được các nước ủng hộ và thúc đẩy
cho đến ngày nay vấn đề ngoại giao quốc tế luôn là vấn đề quan trọng
trong thời đại.
Câu 7. Trình bày con đường hình thành các đặc quyền miễn trừ ngoại
giao?
“Quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao” là những đặc quyền ưu tiên dành cho
người và cơ quan đại diện ngoại giao của một nước ở nước ngoài, nhằm tạo


TINO - 17

điều kiện cho họ thực hiện các hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của mình với tư
cách đại diện quốc gia.

 Quan hệ quốc tế ngày càng phát triển, việc cử các phái đoàn đại diện
ngoại giao ra nước ngoài trở thành việc làm thường xuyên giữa các
quốc gia trở nên cần thiết hơn bởi vì đó ngày nay mới hình thành
những cơng ước về các quan hệ ngoại giao để các quốc gia có thể gần

lại nhau hơn.
Ví dụ: Người ta có thể đưa ra một số cơ sở lí luận, các quyền – đặc
quyền cho ưu đãi miễn trừ ngoại giao ( như theo các thuyết : đại diện,
ngoại pháp, vì lợi ích cơng việc).
 Ngày nay không một quốc gia nào đứng riêng rẽ, tách biệt khơng có quan
hệ với thế giới bên ngồi, với các quốc gia khác.
 Và các quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao này dành cho các cơ quan đại
diện ngoại giao một số đặc quyền là cần thiết không những để các cơ
quan đại diện hoàn thành chức năng của mình, mà cịn cần thiết để tăng
cường quan hệ giữa các nước, tăng cường hiểu biết lẫn nhau và cũng là
tăng cường việc tôn trọng chủ quyền của nhau.
 Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao đã mở đầu bằng câu:
“các quốc gia tham gia Công ước này nhắc lại rằng thời xa xưa, nhân
dân tất cả các nước đã thừa nhận quy chế các viên chức ngoại giao”
+ Một vài điều của quy chế đó như quyền bất khả xâm phạm của các sứ
giả thì đã có từ chế độ nơ lệ.
+ Để bảo vệ các sứ thần, đạo Luật của Ấn Độ cổ xưa đã quy định người
ám sát sứ thần sẽ bị tử hành.
 Trong quá trình phát triển ngoại giao giữa các nước, các lý thuyết sau đây
đã được nêu lên làm cơ sở lý luận cho đặc quyền ưu đãi miễn trừ ngoại
giao:
+ Thuyết “đại diện” bắt nguồn từ thời Trung cổ ở Châu âu và rất thịnh
hành cho mãi đến khi có cuộc cuộc cách mạng Pháp. Thời kì này hầu hết
các nước trên thế giới đều là những quốc gia dân chủ. Sự giao dịch quốc
tế được gọi là sự giao dịnh giữa cá nhân các vua chúa. Ngày nay một vị
đại sứ khơng cịn là đại diện riêng của nhà Vua mà là đại diện chung cho
cả một quốc gia.
+Thuyết “ngoại pháp” phát sinh từ thế kỉ XVII và thịnh hành cho tới nửa
đầu thế kỉ 20 và đã từng song song và tồn tại với thuyết “đại diện”trong
một thời gian trước khi lấn át hẳn thuyết đó. Theo thuyết này sở dĩ nhà

ngoại giao thoát ra khỏi thẩm quyền của quốc gia địa phương là bởi vì họ
được giả định như là chưa bao giờ ra khỏi đất nước họ. Nói khác đi nhà
ngoại giao tuy được ủy nhiệm, bên cạnh một quốc gia khác nhưng vẫn


TINO - 18

được coi là ở trên một đất nước mình. Dọ đó họ được quyền bất khả xâm
phạm. Thuyết này bị bác bỏ dần dần vì tính chất giả tạo của nó, và trong
Hội nghị viên 1961, người ta tránh khơng nêu thuyết đó trong việc ấn
định phạm vi của quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao.
+ Thuyết “lợi ích vì cơng việc” cho rằng một viên chức ngoại giao chỉ có
thể làm trịn nhiệm vụ của mình khi ông ta không bị đe dọa và hoàn toàn
toàn độc lập với quốc gia tiếp nhận. Các quốc gia này cũng bắt buộc phải
công nhận cho các viên chức ngoại giao để được hưởng các quyền ưu đãi
miễn trừ ngoại giao để họ yên tâm làm tròn nhiệm vụ. Thuyết này ngày
nay được chấp nhận rộng rãi.
- Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao có đoạn viết “Các
quốc gia tham gia Công ước này nhận thức rằng mục đích của các quyền
ưu đãi và miễn trừ khơng phải là để làm lợi cho cá nhân mà để đảm bảo
cho các cơ quan đại diện ngoại giao thực hiện có hiệu quả các chức
năng của họ là đại diện của quốc gia”.
- Như vậy cơ sở của đặc quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao vừa là sự
cần thiết phải đảm bảo một cách có hiệu quả sự hoạt động của các cơ
quan ngoại giao, vừa là sự cần thiết phải bảo đảm tính chất đại diện của
quốc gia của các cơ quan đó
Quy định về đặc quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, tập trung vào 3 nội
dung chính.
-Quyền bất khả xâm phạm về con người, về trụ sở, về tài liệu, về
phương tiện giao thông

-Quyền khơng bị xét xử về hình sự, dân sự
-Tự do di chuyển và đi lại
-Các ưu đãi về xã giao
_Những đặc quyền rộng rãi nhất được công nhận cho các viên chức
ngoại giao và thành viên gia đình họ.
Có thể nói trong giai đoạn hiện nay Cơng ước Viên năm 1961 là một văn
kiện cơng pháp quốc tế tồn diện và cơ bản, là cơ sở để xem xét và điều
chỉnh những vấn đề nảy sinh trong quá trình giao tiếp giữa các quốc gia
Ngày 7 tháng 3 năm 1993, chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam đã ký lệnh số 25–L/CNTN công bố “pháp lệnh về quyền ưu
đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ
quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam”.
+ Nguyên tắc có đi có lại là một nguyên tắc được nhắc đến nhiều.
(Áp dụng nguyên tắc này là buộc các quốc gia phải tơn trọng lợi ích của
nhau)


TINO - 19

+ Nếu trước A đối xử không tốt với viên chức ngoại giao nước B thì nước B
cũng sẽ đối xử không tốt trả lại.
+ Sở dĩ nước này dành cho viên chức ngoại giao nước kia nhiều đặc quyền là họ
hy vọng nước kia cũng sẽ đối xử tương tự với viên chức ngoại giao của nước
họ.
+ Trong thực tiễn quan hệ ngoại giao, người ta thường thấy những vụ trục xuất
viên chức ngoại giao được kèm theo những vụ trục xuất khác hồn tồn vơ lý để
trả đũa.
Trong thực tiễn áp dụng đặc quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao, người ta
thường phân biệt phần ưu đãi có thể thu hẹp hoặc mở rộng, ví dụ ưu đãi về thuế
quan, những vấn đề có tính chất xã giao, và những đặc quyền có tính chất bất

biến vì nó cần thiết cho việc thừa hành cơng vụ, ví dụ quyền miễn trừ khơng bị
xét xử trước tịa án của nước tiếp nhận.

+ Một quốc gia tơn trọng luật pháp quốc tế thường không căn cứ vào hành động
vi phạm của một quốc gia khác để tự mình cùng vi phạm để trả đũa quốc gia đó.
Trong trường hợp này chỉ nên áp dụng những biện pháp mà luật quốc tế đã quy
định như phản kháng, tạm thời đình chỉ hoặc cắt đứt quan hệ ngoại giao v.v
- Một quốc gia tôn trọng luật pháp quốc tế cũng thường khơng căn cứ vào
ngun tắc có đi có lại để từ chối không cho một cơ quan đại diện của nước
ngoài được hưỡng những ưu đãi, miễn trừ ngoại giao đã được ghi trong Cơng
ước Viên.
+ Ví dụ, tháng 8 năm 1967, Hồng Vệ binh đốt phá trụ sở Đại biện quán của
Anh tại Bắc Kinh.
+ Chính phủ Anh phản đối, địi bồi thường thiệt hại chứ khơng áp dụng biện
pháp tương tự đối với Đại biện quán của Trung Quốc tại Luân Đôn để trả đũa.,

Nguyên tắc có đi có lại này được áp dụng thường xuyên, từ lâu xem qua có
vẻ là cơng bằng và hợp lí, nhưng thực tế thì có nhiều lợi cho các nước lớn
do họ có nhiều lợi ích trên thê giới và cần có mặt ở khắp nơi để bảo vệ lợi
ích đó.
Các nước nhỏ thường lo ngại việc mở rộng đặc quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại
giao cho tất cả nhân viên hành chính, kỹ thuật các cơ quan đại diện, vì các sứ


TINO - 20

quán lớn với số lượng nhân viên quá đơng có thể gây cho Nước tiếp nhận nhiều
khó khăn trở ngại.
Câu 8. Trình bày các quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao cơ bản
8.1 Quyền bất khả xâm phạm.

Cơ quan đại diện và thành viên cơ quan đại diện ngoại giao khơng thể hồn
thành được sứ mạng của họ, nếu họ bị phụ thuộc vào chính quyền nước sở tại.
- Đặc quyền dành cho họ là nhằm tạo điều kiện để họ được tự do hồn
tồn, khơng bị xâm phạm trong bất kỳ trường hợp nào, trong suốt thời
gian họ thực hiện chức năng đại diện của họ ở nước tiếp nhận.
-Quyền ưu đãi bất khả xâm phạm bao gồm.
+Bất khả xâm phạm về thân thể ( không được xâm phạm vê thân thể của người
khác)
+Quyền bất khả xâm phạm trụ sở, nhà ở, phương tiện thông tin liên lạc, hồ sơ
tài liệu, phương tiện giao thơng. ( mình khơng được xâm phạm vào vì họ là cơ
quan đại diện ở các nước sở tại thì mình khơng được động vào => Theo Công
ước viên năm 1961 đã quy định.)
8.2 Quyền miễn trừ.
Công ước Viên 1961 quy định miễn trừ xét xử hình sự, dân sự, đối với thành
viên cơ quan đại diện. Đây là sự đảm bảo cần thiết để các viên chức ngoại giao
và các thành viên ngoại giao khác của cơ quan đại diện ngoại giao hoàn toàn
độc lập, tự do thực hiện chức năng đại diện mà Nhà nước giao phó.
- Cơng ước Viên 1961 cũng nhấn mạnh: mọi thành viên cơ quan đều phải tôn
trọng luật pháp nước tiếp nhận và đều bị xét xử tại toà án nước cử đi khi phạm
tội. Mức độ được hưởng quyền miễn trừ xét xử đối với các cấp thành viên cơ
quan đại diện được quy định cụ thể trong các điều khoản Công ước Viên 1961.
 Miễn trừ xét xử hình sự.
+ Tất cả những người có thân phận ngoại giao đều có quyền miễn trừ xét
xử: không bị bắt, bị truy tố, bị giam, bị xét xử và khơng bị ra tịa làm
chứng.
(Nhưng khơng có nghĩa là khơng có trách nhiệm tội phạm khi phạm tội)
-Đối với thành viên khác của cơ quan đại diện.
Quyền miễn trừ xét xử cũng được dành cho:
+Thành viên gia đình viên chức ngoại giao;
+ Nhân viên hành chính, kỹ thuật;




×