PHẦN I
TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA CƠ SỞ NGHIÊN CỨU
• GIỚI THIỆU VỂ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA
HUYỆN CẦN GIỜ _TP.HCM.
Cần Giờ là một trong 5 huyện ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh, nằm về
hướng Đông Nam, cách trung tâm thành phố khoảng 50km, có hơn 20km đường bờ biển
chạy dài theo hướng Đông Tây-Nam Bắc, có các cửa sông lớn của các con sông long
Tàu, Cái Mép, Gò gia, Thị Vải, Soài Rạp, Đồng tranh.
Phía Đông và Đông Bắc Cần Giờ giáp ranh với huyện Nhơn Trạch, Long Thành
(Đồng Nai), huyện Châu Thành, Tx Bà Rịa, Tp Vũng Tàu ( tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) Phía
Tây giáp huyện cần Giuộc, Cần Đước (Long An) huyện Gò Công Đông (tỉnh Tiền
Giang). Phía Tây Bắc giáp với huyện Nhà Bè (Tp.HCM). Phía Nam giáp với biển Đông.
Vị trí huyện Cần Giờ ở từ 106
o
46′12″ đến 107
o
00′50″ Kinh độ Đông và từ
10
o
40′00″ vĩ độ Bắc.
Cần Giờ có tổng diện tích tự nhiên 70.421ha, chiếm khoảng 1/3 diện tích toàn thành
phố, trong đó đất lâm nghiệp là 32.109ha (46,45% diện tích toàn huyện), đất kênh rạch là
22.850ha (chiếm 32%) ngoài ra cò có 5000 ha đất nông nghiệp.
Rừng ngập nặm chiếm tới 56.7% diện tích toàn huyện, tạo nên hệ sinh thái rừng
ngập nặm độc đáo trong đó chủ yếu cây đước, bần, mắm…
Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5-10, mùa khô từ tháng 11 đến
tháng 4 năm sau. Nhiệt độ tương đối cao và ổn định, trung bình khoảng 25-29
o
C ( cao
nhất là 38,2
o
C, thấp nhất là 14,4
o
C ).
Độ ẩm trung bình từ 73% -85%. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1000-
1402mm Trong mùa mưa hướng gió chính là Tây-Tây Nam, mùa khô là hướng Đông -
Đông Bắc.
Biển là nguồn lợi to lớn của Cần Giờ, vì vậy trong cơ cấu phát triển kinh tế của
huyện, ngành thuỷ sản luôn được xem là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện, là một trong
những động lực phát triển kinh tế xã hội.
Ưu thế lớn của Cần Giờ trong sự phát triển kinh tế xã hội là quỹ đất lớn, môi trường
thiên nhiên trong lành, cảnh quan hấp dẫn và đặc biệt đây là một đơn vị hành chính thuộc
Tp.HCM- một trong những trung tâm kinh tế lớn của cả nước.
Dân số Cần Giờ tính đến năm 2009 khoảng 68.213 người, mật độ 96 người/km
( thấp nhất so với các quận, huyện khác của thành phố).
II. GIỚI THIỆU VỀ TRUNG TÂM
Trung tâm có điều kiện thuận lợi về giao thông như:giáp với biển và giao thông thuận
lợi cho việc vận chuyển cũng như việc cung cấp điện, nước đảm bảo cho việc sản xuất tại
trung tâm.
• CHỨC NĂNG CHUNG
Một số chức năng chủ yếu sau:
• Nhập, khảo nghiệm, thuần hoá giống tảo, nuôi sinh khối và lưu giữ tảo giống.
• Hoàn thiện công nghệ sản xuất nhân tạo giống nghêu và cua, ghẹ.
• Sản xuất giống và cung cấp giống cho các khu vực như: huyện Cần Giờ và khu vực các
tỉnh Nam Bộ.
2. NHIỆM VỤ
• Nâng cao chất lượng con giống trong quá trình sản xuất.
• Nuôi sinh khối tảo.
• Xây dựng quy trình công nghệ lưu giữ tảo,công nghệ sản xuất giống nghêu sinh sản nhân
tạo…
• Chuyển giao các tiến bộ khoa học công nghệ, tham gia đào tạo cán bộ kỹ thuật.
• Trao đổi thông tin và hợp tác khoa học công nghệ kinh tế và quản lý trong nước cũng như
với các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực giống thuỷ sản.
3. GIỚI THIỆU CƠ SỞ VẬT CHẤT VÀ NGUỒN NHÂN LỰC CỦA TRUNG TÂM
3.1.CƠ SỞ VẬT CHẤT:
- Tổng diện tích của trung tâm là:1,1 ha
3.1.1. Ao thực nghiệm bao gồm:
• Ao nuôi vỗ nghêu bố mẹ
• Ao ương ấu trùng
• Ao cho nghêu xuống đáy
• Ao chứa,lắng,xử lý nước cho khu sản xuất tảo và nghêu.
• Hệ thống mương thoát nước
• Hệ thống máng cấp nước bằng nhựa
3.1.2. Hệ thống sinh sản nhân tạo và ương nuôi.
• Khu sinh sản nhân tạo nghêu bố mẹ bể (xi măng).
• Hệ thống ương nuôi ấu trùng bể ( xi măng).
• Hệ thống bể composite
• Khu nuôi tảo composite và túi nilon.
• Khu sản xuất và thực nghiệm giống cua.
• Khu sản xuất nhân tạo giống nghêu.
• Khu nuôi sinh khối tảo.
3.1.3. Trang thiết bị:
SVợt: vợt thu và vợt lọc có mắt lươi 40-60 µm.
• Dây khí, đá bọt.
• Máy sục khí
• Bình nhựa, túi nilon để nuôi tảo giống và nhân giống.
• Bề composite 1m
3
- 5m
3
.
• Các loại hóa chất: ure, clorine, FeCl
3,
NaNO
3
, EDTA
,
MnCl
2
và Vitamin B1
• Và các trang thiết bị khác.
3.1.4. Khu Văn Phòng:
+ Phòng khách
+ Phòng thí nghiêm.
+ Khu nhà ở tập thể của Cán Bộ Công Nhân Viên.
4. Nhân lực:
Tổng số thành viên là 5 người.Trong đó gồm:
+ 1 Giám đốc trung tâm.
+ 1 kỹ sư
+ 3 công nhân
5. Tổ chức gồm 3 bộ môn:
+ Nuôi sinh khối tảo
+ Sinh sản nhân tạo nghêu bố mẹ.
+ Sản xuất nhân tạo giống Cua.
PHẦN II
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
M Ở ĐẦU
Bờ biển nước ta có nhiều vùng vịnh đầm phá rất thuận lợi cho việc phát triển nghề
nuôi trồng thủy sản. Sản lượng khai thác hàng năm được ước tính giao động khoảng trên
1,3 triệu tấn, trong đó khoảng 400.000 tấn khai thác được do nuôi trồng. Các đối tượng
nuôi chính hiện nay là các loài cá nướ ngọt, rong biển và tôm sú. Các loài hải sản khác
như cá biển động vật thân mềm, chỉ mới được nghiên cứu, phục vụ cho nuôi trồng trong
những năm gần đây và đã có một số kết quả khả quan trong điều kiện nuôi thí nghiệm.
Việc triển khai nuôi đại trà các đối tượng này vẫn còn nhiều hạn chế nhất định: khâu sản
xuất giống chưa ổn định, quy trình sản xuất thúc ăn tươi sống cho các giai đoạn ấu trùng
vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
Ngày nay, để đáp ứng nhu cầu về thức ăn cho các đối tượng nuôi thuỷ sản phù hợp với
giai đoạn phát triển kinh tế theo phương hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá, ngoài
việc cải tạo môi trường nước, bón phân, gây nuôi thức ăn tự nhiên, việc chế biến thức ăn
tổng hợp, nuôi thức ăn sống để cung cấp cho cá và các loài thuỷ sản khác là một nhu cầu
rất cần thiết hiện nay.
Thức ăn tươi sống là loại thức ăn thích hợp ở giai đoạn ấu trùng của nhiều đối tượng
nuôi và ít gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy việc nghiên cứu sử dụng thức ăn tươi sống
trong sinh sản nhân tạo sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình sản xuất.
Trong tự nhiên tảo là mắt xích quan trọng trong chuỗi thức ăn của sinh vật biển nói
chung và các đối tượng thủy sản nói riêng. Vi tảo biển được coi là thức ăn tốt nhất cho
các đối tượng nuôi, ngoài thành phần dinh dưỡng là các vitamin thiết yếu, và có nhiều
chất dinh dưỡng có giá trị cho ấu trùng một số loài thuỷ sản và là thức ăn cho tất cả các
giai đoạn của đa số loài thân mềm,Hai mảnh vỏ. Tế bào tảo có chứa nhiều acid béo không
no (HUFA) như EPA và DHA, đây là các ạid béo rất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát
triển của ấu trùng hải sản. Chất EPA có hàm lượng cao trong các loài tảo Chaetoceros sp,
còn DHA có nhiều trong các giống Platymonas, Isochrysis Ngoài ra các loài tảo đều
giàu vitamin C. Giá trị dinh dưỡng của tảo phụ thuộc nhiều vào kích thước tế bào của tảo,
khả năng tiêu hoá và môi trường nuôi cấy.
Trong số các loài vi tảo biển hiện đang được áp dụng rộng rãi là tảo Nannochloropsis
oculata, tetraselmis… có chất lượng khá tốt và được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên
thế giới.
Ở Việt Nam trong những năm gần đây, sự thành công của các quy trình sản xuất giống
nhân tạo cua xanh (Scylla serrata), cá chẽm (Lates calcarifer), cá mú (Epinephelus sp),
Động vật thân mềm(Mulusca)… đã đặt ra những yêu cầu cấp bách đối với việc sản xuất
thức ăn sống, đặc biệt tại các cơ sở sản xuất giống đại trà nhằm cung cấp số lượng con
giống lớn cho nhu cầu nuôi thương phẩm.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, được sự đồng ý của Trung tâm nghiên cứu và nuôi
trồng thuỷ sản – Trường cao đẳng kỹ thuật công nghệ Vạn Xuân, cho chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài:
“Nuôi thu sinh khối tảo Nannochloropsis oculata làm thức ăn cho ấu trùng động
vật thân mềm”
• Mục đích và ý nghĩa của đề tài
• Bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học .
• Nắm bắt được các thao tác kỹ thuật trong sản xuất tảo Nannochloropsis oculata.
• Nắm được quy trình nuôi sinh khối tảo Nannochloropsis oculata
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN
1. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng vi tảo trong nước và trên thế giới
1.1. Trên thế giới.
Khoảng 1/3 sinh khối thực vật trên thế giới là sinh khối tảo. Trong tổng số khoảng 25.000
loài vi tảo hiện nay có khoảng 50 loài được nghiên cứu tỉ mỉ về mặt sinh hoá, sinh lý và
sinh thái học (Đặng Đình Kim, 2002). Hiện nay, có trên 40 loài tảo khác nhau được phân
lập ở các nên trên thế giới, đang được nuôi để làm các chủng tảo thuần khiết trong các hệ
thống thâm canh (Lavens & SorgelooS, 1996).
Việc nghiên cứu phân lập và nuôi tảo thuần khiết sạch vi khuẩn đã được Beijerkin tiến
hành năm 1980 (Phạm Thị Lam Hồng, 1999).
Năm 1993, Liao và ctv đã sử dụng thành công tảo Skeletonema costatum làm thức ăn cho
ấu trùng tôm sú P. monodon.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của công nghệ sản xuất giống nhiều đối
tượng hải sản, các nghiên cứu về sản xuất các loài tảo khác nhau cũng được tiến hành
theo nhiều quy mô và đa dạng hoá đối tượng.
Ở Nhật bản, nuôi N. oculata làm thức ăn cho trùng bánh xe rất phổ biến. Ở Úc các
loài tảo đơn bào như: N. Oculata , Tetraselmis sp, Palova lutheri… được nuôi phổ biến
làm thức ăn cho động vật thân mềm.
1.2. Trong nước.
Tại Việt Nam, những nghiên cứu về tảo dã được thực hiện từ rất lâu. Nhưng những
nghiên cứu trước đây chủ yếu về phân loại, điều tra thành phần trong các thuỷ vực nội
địa, những nghiên cứu về tảo biển còn rất hạn chế ở thời kỳ trước những năm 80 của thế
kỷ trước, và những hiểu biết của chúng ta về tảo thường gắn liền với những báo cáo của
một số ít tác giả.
Trương Ngọc An và ctv (1970 – 1971) đã phát hiện 115 loài thực vật nổi trên sông Ninh
Cơ ở Nam Hà.
Dương Đức Tiến (1982) đã công bố 1389 loài tảo ở các thuỷ vật nội địa Việt Nam.
Những nghiên cứu ứng dụng tảo trong sản xuất chỉ thực sự phát triển kể từ giữa thập kỷ
80 của thế kỷ 20, với thành công trong công trình của Lê Viện Trí (1980 – 1986) về ứng
dụng nuôi tảo Skeletonema costatum làm thức ăn trong các trại sản xuất tôm giống ở Hạ
Long.
Trong những năm gần đây, những thành công của công nghệ sinh sản nhân tạo giống tôm
sú, điệp quạt và đặc biệt việc nghiên cứu cho sinh sản nhiều loài cá biển đã góp phần thúc
đẩy khoa học nghiên cứu ứng dụng tiến thêm một bước mới với những nghiên cứu mang
tính thực tiễn hơn.
Năm 1995, Hoàng Thi Bích Mai đã nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, nhiệt độ ánh
sáng, hàm lượng muối dinh dưỡng lên sinh trưởng, phát triển và đưa ra quy trình nuôi hai
loài tảo Skeletonema costatum và Chaetoceros sp, làm thức ăn cho ấu trùng tôm sú.
Tại viện nghiên cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản III ứng dụng nuôi tảo N. oculata và
Chaetoceros muelleri làm thức ăn cho ấu trùng điệp quạt và đã thu được nhiều thành
công.
Phạm Thi Lam Hồng (1999), đã nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, ánh sáng và tỷ lệ thu
hoạch lên một số đặc điểm sinh học, thành phần sinh hoá của hai loài vi tảo N. oculata và
C. muelleri trong điều kiện phòng thí nghiệm, thành công của nghiên cứu đã góp thêm
những hiểu biết quan trọng về hai loài tảo và ứng dụng nuôi bán liên tục để cung cấp tảo
cho việc sản xuất động vật phù du, trong quy trình ương các loại ấu trùng động vật biển.
Năm 1999, Lục Minh Diệp đã có những công bố quan trọng khi nghiên cứu ảnh hưởng
của tỷ lệ phân bón, tỷ lệ thu hoạch lên sự phát triển của hỗn hợp tảo tự nhiên và thử
nghiệm nuôi tảo N. oculata. Những kết quả từ báo cáo này đã giúp cho chúng ta hiểu biết
đầy đủ hơn về vi tảo và khả năng thay đổi thành phần loài tảo ưu thế của tảo tự nhiên
theo tỷ lệ pha loãng và tỷ lệ phân bón.
Hồng Thị Kiều Nga (2002), ảnh hưởng chế độ bón phân đến sinh trưởng của quần thể tảo
N. oculata và I. galbana ngoài trời ; Hoàng Thị Ngọc (2003), ảnh hưởng của hàm lượng
phân bón và sự bổ sung CO
2
đến sinh trưởng của các quần thể tảo ; Mai Thi Thuỳ Linh
(2004), nuôi thu sinh khối hai loài tảo N. oculata và I.galbana ở quy mô túi nylon 50 lít
và 2 m
3
. Ý nghĩa của những báo cáo này là không thể phủ nhận nhưng chúng lại được
tiến hành tại cùng một địa điểm trong điều kiện của một trại thực nghiệm, vì vậy mà tính
thực tiễn là không cao.
Nhìn chung, hiện nay nước ta đã có nhiều cơ quan nghiên cứu, phân lập, nhân giống, lưu
giữ và nuôi sinh khối tảo và quy trình sản xuất các loài tảo cũng tương đối hoàn chỉnh.
Tuy vậy, những nghiên cứu ứng dụng tại các cơ sở sản xuất còn rất hạn chế, cần phải
được tiến hành nhiều hơn nữa.
2. Đặc điểm sinh học tảo Nannochloropsis oculata.
2.1. Vị trí phân loại tảo Nannochloropsis oculata.
Ngành Heterokontophyta
Lớp Eustigmtophyceae
Bộ Eustigmatales
Họ Monopsidaceae
Giống Nanochloropsis
Loài N. Oculata Hibberd. 1981
Hình ảnh cấu tạo tế bào tảo Nanochloropsis oculata
2.2. Đặc điểm sinh học tảo Nannochloropsis oculata .
2.2.1. Đặc điểm hình thái cấu tạo.
Tảo N. oculata có kích thước nhỏ, tế bào có dạng hình cầu và hình trứng, đường kính
dao động trong khoảng 2 – 4 m. Đây là tảo đơn bào không có khả năng di động (Phạm
Thị Lam Hồng, 1999).
2.2.2. Cấu tạo hiển vi của tế bào.
Năm 1986, Murayama đã nghiên cứu cấu trúc hiển vi của tế bào tảo N. Oculata dưới
kính hiển vi điện tử cho thấy tế bào có một nhân. Thể sắc tố quang hợp chỉ có một thể sắc
tố hình trứng. Thể sắc tố được bao bọc bởi hai lớp màng, lớp màng ngoài dính liền với
màng nhân. Trong thể sắc tố có nhiều bản sắc tố, mỗi bản gồm 3 phiến sắc tố xếp song
song, không có đai nối giữa các sắc tố. Sắc tố quang hợp duy nhất tìm thấy ở tảo N.
Oculata là Chlorophyl a, không thấy sắc tố quang hợp chlorophyl b và c. Đây có thể coi
là một đặc trưng sinh hoá chủ yếu để phân loại tảo Nannochloropsis nói riêng và ngành
Eustigmataphyta nói chung. Các carotenoid bao gồm carotene 11%, violaxathin 51%,
vaucherixathin 26% và các carotenoid khác chiếm 12% (Maruyama, 1986 trích bởi Phạm
Thị Lam Hồng, 1999).
- Hình thức sinh sản: N. oculata có hai hình thức sinh sản là sinh sản sinh dưỡng
bằng cách phân đôi và sinh sản bằng tự bào tử.
3. Giá trị dinh dưỡng của tảo.
Vi tảo là mắt xích thức ăn đầu tiên của chuỗi thức ăn ngoài tự nhiên. Chúng là thức ăn
không thể thay thế cho giai đoạn ấu trùng và trong suốt giai đoạn trưởng thành của động
vật thân mềm. Đối với ấu trùng giáp xác và ấu trùng một số loài cá, tảo cũng là thức ăn
bắt buộc ở giai đoạn sớm. Tảo biển với giá trị dinh dưỡng cao và thoả mãn yêu cầu về
kích thuớc nên có thể nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng, quyết định thành công trong việc
sản xuất giống nhiều loài động vật biển có giá trị kinh tế.
Vi tảo biển có hàm lượng dinh dưỡng cao, hàm lượng protein từ 6 – 34% khối lượng
khô, hàm lượng lipit từ 5 – 23%, hàm lượng carbohydrate từ 5 – 12% khối lượng khô
(Brown và ctv, 1997 trích bởi Phạm Thị Lam Hồng, 1999).
Vi tảo biển là nguồn cung cấp acid béo không no cho các động vật biển. Acid béo
không no có vai trò quan trọng đối với ấu trùng động vật thân mềm, cá biển và các loại
động vật phù du. Các acid béo có giá trị dinh dưỡng nhất là EPA 20:5n-3
(Eicosapentaenonic acid), và DHA 22:66n-3 (Docosahexaenoic acid).
Ngoài ra, các vi tảo biển còn rất giàu vitamin. Mười loại vitamin đã tìm thấy ở vi tảo,
trong đó hàm lượng vitamin C và vitamin B12 cao nhất, tiếp theo là các Vitamin A, D, E,
K Ngoài vai trò cung cấp thức ăn cho luân trùng và ấu trùng cá, ấu trùng hai mảnh vỏ,
tảo còn tác dụng làm ổn định môi trường nước như cung cấp oxy hoà tan và hấp thụ NH
3
trong bể ương ấu trùng. Tuy nhiên, giá trị dinh dưỡng của những loài tảo khác nhau rõ rệt
giữa các loài, giữa các dòng trong cùng một loài và đặc biệt phụ thuộc vào điều kiện môi
trường như độ mặn, ánh sáng,pH,nhiệt độ, thời điểm thu hoạch
4. Các pha sinh trưởng của tảo
Trong các điều kiện thuận lợi của môi trường về dinh dưỡng, ánh sáng, độ mặn và nhiệt
độ, các loài vi tảo sinh sản theo kiểu phân cắt tế bào làm số lượng tế bào tăng lên một
cách nhanh chóng.
Sự sinh trưởng của vi tảo được đặc trưng bởi 5 pha (Lavens & Sorgeloos, 1996):
1.Pha tăng trưởng chậm: ở pha này tảo bắt đầu làm quen với môi trường nuôi, hấp
thụ dinh dưỡng và bắt đầu phân chia tế bào nhưng số lượng tế bào tăng chậm.
2. Pha tăng trưởng logaritte: số lượng tế bào ở pha này tăng theo cấp số nhân. Tảo
ở giai đoạn này hấp thụ dinh dưỡng mạnh.
3. Pha tăng trưởng giảm: ở pha này môi trường dinh dưõng có chiều hướng giảm
mạnh cùng với mật độ tế bào tảo cao làm tốc độ sinh sản giảm, tuy vậy số lượng tế bào
vẫn còn tăng.
4. Pha ổn định : tảo đạt mật độ cực đại và số lượng ổn định.
5. Pha suy thoai: tảo sau khi đạt mật độ cực đại, khả năng sinh sản giảm dần và số
lượng tảo giảm một cách rõ rệt.
Tốc độ tăng trưởng của các loài tảo khác nhau thì khác nhau, ngoài ra nó còn chịu sự
chi phối lớn của các điều kiện môi trường.
5. Ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường tới sự phát triển quần thể tảo.
5.1. Ánh sáng
Giống như bao loài thực vật khác, vi tảo cùng phải quang hợp, tức là chúng hấp
thụ cacbon vô cơ để chuyển hoá thành các chất hữu cơ. Trong khi đó, ánh sáng chính là
nguồn năng lượng cho quá trình quang hợp. Vì vậy, ảnh hưởng của ánh sáng cần phải
được xem xét ở các khía cạnh như: cường độ ánh sáng, phổ ánh sáng và thời gian chiếu
sáng.
Mặc dù, ánh sáng ban ngày đủ cung cấp cho tảo quang hợp. Nhưng cường độ ánh sáng
ban ngày lại phụ thuộc rất lớn vào điều kiện thời tiết, khí hậu địa phương, những thay đổi
đột ngột về cường độ ánh sáng, thời gan chiếu sáng (do thời tiết thay đổi) có thể làm ảnh
hưởng đến quá trình sinh trưởng của tảo, thậm chí làm cho tảo tàn lụi hàng loạt. Chính vì
vậy, những nghiên cứu về ánh sáng nhân tạo cho việc nuôi tảo cũng được nghiên cứu
nhiều.
Theo Guillard (1975) tảo chỉ có thể chịu được ánh sáng mặt trời trực tiếp khi mật độ tảo
nuôi đạt được mật độ khá cao (Phạm Thị Lam Hồng, 1999). Với cường độ ánh sáng quá
mạnh có thể ức chế quá trình quang hợp (Lavens & Sorgeloos, 1996). Cường độ mạnh và
thời gian chiếu sáng lâu có thể làm tăng nhiệt độ bể nuôi. Và ánh sáng còn kết hợp với
nhiệt độ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của tảo.
Theo tài liệu của phòng thí nghiệm nuôi trồng thủy sản (Đại học Tổng Hợp Ghent, Bỉ)
thì cường độ ánh sáng sử dụng trong phạm vi khoảng từ 5000-10000 lux, chúng ta có thể
sử dụng ánh sáng tự nhiên (mặt trời) hay ánh sáng nhân tạo (đèn huỳnh quang) thời gian
chiếu sáng ít nhất 18 giờ/ngày tảo vẫn phát triển bình thường.
5.2. Nhiệt độ
Nhiệt độ có ảnh hưởng lớn tới đời sống của tảo, đồng thời ảnh hưởng cả chất lượng
dinh dưỡng cũng như sinh vật gây hại cho tảo.
Hầu hết các loại tảo có thể sống trong khoảng nhiệt độ từ 16-30
0
C. Nếu nhiệt độ cao
hơn 35
0
C thì tảo có thể bị chết và nếu nhiệt độ thấp hơn 16
0
C thì tảo chậm phát triển. Nếu
cần thiết, ta có thể làm mát môi trường nuôi tảo bằng cách cho dòng nuocwslanhj chảy
trên bề mặt của bình và túi nilon nuôi tảo hoặc các trang thiết bị điều hòa nhiệt độ khác.
Tảo N. oculata là loài có khả năng thích nghi với sự biến động nhiệt độ rộng, phát triển
tốt nhất trong khoảng nhiệt đô từ 10-30
0
C.
Kết quả nghiên cứu ở huyện Cần Giờ Tảo N. oculata phát triển tốt nhất ở nhiệt độ
26-29
0
C.
5.3. Độ mặn
Mỗi loài tảo khác nhau có khả năng thích nghi với một khoảng dao động độ mặn khác
nhau. Hầu hết các loại tảo biển sinh trưởng trong khoảng độ mặn dao động 12-40 ppt,
nhưng phát triển tốt nhất ở độ mặn 25-30 ppt.
N. oculata là một loài rộng muối, thích ứng được trong khoảng độ mặn 7-35 ppt.
Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Lam Hồng (1999) tảo N. oculata phát triển tốt
nhất ở độ mặn 30-35 ppt nhưng có thể phát triển ở độ mặn 10-35 ppt. Tuy nhiên, theo Vũ
Dũng(1998) Tảo N. oculata phát triển tốt ở độ măn 18-26 ppt (Đặng Đình Kiêm,(2002).
Theo kết quả nghiên cứu ở huyện Cần Giờ (2010) tảo N. oculata phát triển tốt ở độ mặn
25-30 ppt. Mặc dù có khả năng thích nghi với sự thay đổi độ mặn một cách đột ngột sẽ
làm thay đổi nhanh chóng áp suất thẩm thấu của tế bào, thậm chí sẽ bị chết hàng loạt.
Nếu độ mặn quá cao chúng ta có thể hạ xuống bằng cách cho thêm nước ngọt vào đến khi
đạt được độ mặn theo yêu cầu.
Sự biến đổi độ mặn chỉ ảnh hưởng nhẹ đến hàm lượng protein, hydratcacbon,
chlorophyla, nhưng đối với lipit trong khoảng độ mặn từ 10 – 15 ppt, độ mặn tăng hàm
lượng lipit tăng, độ mặn thay đổi làm thành phần acid béo cũng thay đổi.
5.4. pH
pH của môi trường quá cao hoặc quá thấp đều làm chậm tốc độ tăng trưởng của tảo.
Sự biến đổi của nhiệt độ, ánh sáng có tác động đến pH thông qua quá trình quang hợp của
tảo. Biên độ pH đối với hầu hết các loài tảo nuôi là 7.0-9.0, mức pH tốt nhất cho sự phát
triển của tảo là từ 7.5- 8.7.
Sự biến động pH trong môi trường nuôi tảo phụ thuộc vào sự cân bằng sau:
HCO
3
-
CO
2
+ OH
-
Trong quá trình quang hợp tảo hấp thụ rất mạnh CO
2
nên làm cho pH tăng cao.
5.5. Sục khí / Đảo nước:
Đảo nước là việc làm cần thiết để ngăn ngừa tảo không bị lắng nhằm đảm bảo tất cả
các tế bào của quần thể đều được tiếp xúc với ánh sáng và các chất dinh dưỡng các chất
dinh dưỡng như nhau nhằm tránh sự phần tầng nhiệt và để cải thiện sự trao đổi khí giữa
môi trường nuôi và không khí. Không khí là yếu tố quan trọng hàng đâu vì nó chứa
nguồn cacbon ở dạng CO
2
phục vụ cho quang hợp. Đối với trường hợp nuôi rất dày CO
2
,
bay ra không khí (chứa 0,03
0
/
0
CO
2
) sẽ sủi bọt làm hạn chế sức sinh trưởng của tảo và có
thể bổ sung CO
2
khiết vào việt cung cấp không khí (với tỉ lệ bằng 1
0
/
0
thể tích không
khí ). Việc bổ sung CO
2
có tác dụng làm điệm nước chống lại những thay đổi về độ PH
sự cân bằng giữa CO
2
và HCO
3
. Tùy thuộc vào quy mô của hệ thống nuôi, việc đảo nước
được thực hiện hàng ngày bằng cách thủ công (các ống nghiệm, các bình tam giác), sục
khí (các túi, các bể) hoặc dùng truyền guồng và bơm phun tia (các ao). Tuy nhiên các ý
rằng không phải tất cả các loài tảo đều có thể chịu đựng việc khuấy đảo mạnh.
6. Môi trường dinh dưỡng
Trong nuôi sinh khối tảo, mật độ tảo sẽ cao hơn rất nhiều so với ngoài tự nhiên.
Chính vì vậy, sau một thời gian chất dinh dưỡng trong môi trường sẽ bị giảm sút và ta
phải bổ sung dinh dưỡng cho sự phát triển của tảo.
Dinh dưỡng là yếu tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng mạnh tới sự sinh trưởng và
phát riển của tảo. Môi trường dinh dưỡng ảnh hưởng cả trên phương diện số lượng và
chất lượng. Mỗi loài tảo khác nhau có nhu cầu dinh duỡng về thành phần và số lượng
từng chất là khác nhau. Nhu cầu về đạm giảm dần từ tảo Lục, tảo Lam và tảo Silic có nhu
cầu về đạm là thấp nhất, Silic rất cần thiết chi sự phát triển của tảo Silic vì nó tham gia
vào cấu tạo màng tế bào.
Muối nitơ rất cần thiết cho quá trình sinh trưởng và phát triển của tảo. Bởi vì nitơ
là thành phần cơ bản tạo nên các loại prôtêin, trong đó có protêin cấu trúc và protêin chức
năng. Ngoài ra, nitơ còn tham gia vào cấu tạo của nhiều loại vitamin B1, B2, B6, BP là
thành phần quan trọng của hệ men oxy hóa khử và nhiều men quan trọng khác.
Photpho được coi là chìa khoá của quá trình trao đổi chất. Hàm lượng photpho không
cần thiết phải cao, xong nếu thiếu nó thì tảo không phát triển được. Bởi vì photpho có tác
dụng lên hệ keo ở dạng các ion, photpho ở dạng liên kết với các kim loại tạo nên hệ đệm
đảm bảo cho pH của tế bào luôn xê dịch trong một phạm vi nhất định (6-8) là điều kiện
tốt cho các hệ men hoạt động. Photpho tham gia vào cấu trúc có vai trò quan trọng trong
những khâu chuyển hoá trung gian và có ý nghĩa then chốt trong trao đổi năng lượng.
Bên cạnh những nguyên tố đa lượng việc bổ sung những nguyên tố vi lượng cũng rất
cần thiết. Các nguyên tố vi lượng gồm một số các muối kim loại với nồng độ thấp như:
CuSO
4
, CoCl
2
, ZnSO
4
, FeCl
3
… Vai trò của các nguyên tố vi lượng này hầu như đều có
tác dụng đến quá trình trao đổi chất của tảo. Trong đó, sắt là nguyên tố vi lượng được bổ
sung nhiều nhất so với các muối kim loại khác trong môi trường nuôi. Tuy sắt không phải
là chất tham gia vào cấu tạo của diệp lục nhưng nó là tác nhân bổ trợ hoặc là thành phần
tham gia vào cấu trúc của các hệ men và chủ yếu là các men oxy hoá khử, tham gia tích
cực vào dây chuyền sinh tổng hợp của các chất quan trọng. Sắt đóng vai trò quan trọng
vào quá trình vận chuyển điện tử quang phân ly nước và quá trình photphoryl hoá quang
hợp. Do vậy nhu cầu sắt cho sự sinh trưởng và phát triển của tảo là rất cần thiết nhưng chỉ
ở hàm lượng thấp. Khi hàm lượng sắt quá cao có thể gây độc cho tảo.
Ngoài ra vitamin cũng được sử dụng khá phổ biến để bổ sung vào môi trường nuôi
tảo, dù chỉ với một lượng rất nhỏ nhưng có thể thúc đẩy sự gia tăng sinh khối của tảo.
Vitamin B12 và B1là hai vitamin rất cần cho tảo, sau đó là biotin.
CHƯƠNG 2
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
1.1. Đối tượng nghiên cứu
Tảo Nannochloropsis oculata Hibbred, 1981
1.2. Thời gian nghiên cứu.
Từ ngày 15/03/2010 đến ngày 15/05/2010.
1.3. Địa điểm nghiên cứu
Trung Tâm Nghiên Cứu và Nuôi Trồng Thủy Sản Xã Long Hòa, huyện Cần Giờ.
2 Nội dung nghiên cứu
• Xác định các yếu tố môi trường thích hợp cho tảo N. oculata nuôi sinh khối tại huyện
Cần Giờ.
• Tìm hiểu môi trường nuôi dưỡng, mật độ trong quá trình nuôi sinh khối tảo N. oculata
trong bịch và trong bể.
• Kỹ thuật nuôi thu sinh khối tảo N. oculata.
Sơ đồ 1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu tảo N. oculata.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp xác định các yếu tố môi trường :
Đo pH : dùng test pH, nhỏ(4 giọt /5ml) độ chính xác 0,5 đo hàng ngày vào lúc 7 giờ và
17 giờ.
Đo nhiệt độ : dùng nhiệt kế thuỷ ngân độ chính xác 1
0
C đo hàng ngày vào lúc 7 giờ và
17 giờ.
Độ mặn : dùng khúc xạ kế (Salinometer) độ chính xác 1ppt đo khi chuẩn bị nước và đo
hàng ngày vào lúc 7 giờ và 17 giờ.
Trong thời gian thí nghiệm các yếu tố này được duy trì trong suốt thời gian thí nghiệm.
3.2. Phương pháp xử lý nước nuôi sinh khối tảo N. oculata
Nguồn nước chính cấp cho tảo ta lấy từ biển, nước biển có độ mặn 29 – 35 ppt
được bơm vào bể lắng, sau đó được lọc qua hệ thống lọc thô với kích thước từ 20 - 40 μm
vào bể chứa và xử lý lý bằng clorine với nồng độ 25 ppm trong vòng 24 – 48 giờ, rồi lọc
qua hệ thống lọc tinh với lõi lọc có mắt lưới 0,5-1 µm.
Trước khi cấp nước vào tảo, trước hết ta phải thử dư lượng clorin ( cứ 4 giọt/5 ml
nước), nếu còn clorin thì trung hoà lại bằng Thiosunfat 20 ppm, trước khi sử dụng phải
đo độ mặn, nếu quá cao thì phải giảm độ mặn xuống còn 25- 30 ppt bằng nước ngọt, sau
đó cấp vào tảo.
Nước biển
Thiosunfat 20 ppm
Clorin 25 ppm
Sơ đồ 2 : Sơ đồ bố trí xử lý nước để nuôi tảo N.oculata
4. Bố trí quá trình nuôi tảo.
Tảo N. Oculata được nuôi với mật độ ban đầu là 3x10
4
tb/ml.Qúa trình nuôi được lặp lại
3 lần theo không gian và thời gian.Tảo N. oculata được nuôi trong điều kiện độ măn 25-
30 ppt, sục khí 24/24 và nuôi trong túi nylon 50L.
Sơ đồ 3: Sơ đồ nuôi tảo N. Oculata
4.1. Các phương pháp nuôi tảo.
Tảo Nannochloropsis oculata: có kích thước từ 2-5µm, rất nhiều HUPA và giàu acid béo
họ (n-3), thích hợp vùng nhiệt đới, dễ nuôi đại trà, có màu xanh nõn chuối hơi ánh vàng.
Tảo giống được lấy từ Nha Trang - Vũng Tàu.
Để chuẩn bị cho nuôi tảo trước hết chúng ta phải chuẩn bị đầy đủ hệ thống bể, bịch và
các dụng cụ cần thiết khác.
Phương pháp nuôi phổ biến: gồm có 3 phương pháp sau.
• Nuôi từng đợt
• Nuôi bán liên tục
• Nuôi liên tục
Trong quá trình nghiên cứu ở huyện Cần Giờ chúng tôi tiến hành nuôi tảo bằng phương
pháp nuôi liên tục, đây là phương pháp được áp dụng rộng rãi, ít tốn kém,dễ chăm sóc và
quản lí. Đòi hỏi quy trình nuôi chặt chẽ.
. Mặt khác hệ thống này có thể kiểm soát về mặt công nghệ và có thể kiểm soát chặt chẽ
trong quá trình nuôi về các vấn đền nhiễm tảo lạ và các nguyên sinh động vật cũng như
các sự tác động của các yếu tố môi trường khác, từ đó làm tăng độ tin cậy của hệ thống
và giảm nhu cầu về lao động. Chúng ta có thể nuôi sinh khối tảo trong bịch nilon hay bể
composite và có lắp đầy đủ các thiết bị cần thiết để tảo phát triển.
Trước khi nuôi tảo chúng ta phải vệ sinh dụng cụ sạch sẽ:
• Rửa bằng bột giặt.
• Rửa lại nước ngọt cho sạch.
• Ngâm dụng cụ trong clorin 10ppm trong một ngày.
• Rửa lại một lần nữa cho sạch clorin bằng nước ngọt.
• Phơi khô trước khi sử dụng.
4.2. Phương pháp xác định các chỉ số kỹ thuật.
* Phương pháp xác định mật độ tảo.
4.2.1. Dụng cụ hoá chất:
+ Buồng đếm hồng cầu
+ Kính hiển vi
+ Ống hút tảo
+ Cốc đốt 500 mL
+ Formalin 3%
4.2.2. Phương pháp lấy mẫu tảo:
Mẫu được lấy vào lúc 7giờ sáng hoặc 4 giờ chiều. Ta lấy mẫu tảo ở túi hay bể bất kì,
dùng bybest để hút tảo hay dùng ống khí hút tảo để lấy mẫu và cho vào tip đựng mẫu,
mỗi mẫu tảo khác nhau nên sử dụng bipet và tip đựng mẫu khác nhau tránh lây nhiễm.
Mỗi mẫu lấy khoảng 5mL và đánh dấu mẫu để kiểm tra tảo được chính xác.
4.2.3. Cách chuẩn bị mẫu:
Mẫu tảo được thu vào ly đựng mẫu, lắc đều mẫu tảo sau đó dùng ống hút hút nhỏ
một giọt dung dịch tảo vào buồng đếm, để vài phút cho tảo ổn định, sau đó dùng lamen
đậy nhẹ nhàng, để lắng một lúc rồi đưa vào kính hiển vi để đếm và quan xác dưới kính
hiển vi ở vật kính như sau:
- Ở vật kính 4 nhìn tổng quan buồng đếm, kiểm tra Protozoa.
- Ở vật kính 10 đếm số lượng tế bào
- Ở vật kính 160 kiểm tra chất lượng tế bào.
• Mật độ được tính theo công thức:
MD=
4
Trong đó:
MD: là mật độ tế bào
A : tổng số tế bào đếm được ổ 5 ô đường chéo của ô E
Mỗi mẫu đếm 3 lần, kết quả là lấy giá trị trung bình của 3 lần đếm
• Tính trung bình :
Trong đó: M là giá trị trung bình.
X
i
là giá trị thứ i.
n là số lần thí nghiệm.
i là số thứ tự lần đo đếm.
4.3. Phương pháp xử lý số liệu.
Số liệu được nhập và xử lý bằng chương trình Microsoft Exel thuộc phần mềm Office
2003.
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1. Kết quả về sự biến động các yếu tố môi trường trong nuôi sinh khối tảo.
1.1. Kết quả về sự biến động nhiệt độ trong nuôi sinh khối tảo
• Bảng biến động nhiệt độ đợt 1
Ngày Nhiệt độ (
0
C)
Sáng Chiều
1 25 29
2 26.5 30
3 25 29.5
4 27 31
5 26 28.5
6 25 28
7 25.5 29
Bảng 1: Thể hiện sự biến động của nhiệt độ đợt 1
• Đồ thị thể hiện sự biến động nhiệt độ trong nuôi sinh khối tảo đợt 1
Đồ thị 1 : Thể hiện sự biến động nhiệt độ trong thí nghiệm nuôi tảo N. Oculata đợt 1.
Qua bảng 1 thì sự phát triển của mật độ tảo phụ thuộc vào biến thiên của nhiệt độ,
nhiệt độ cao thì tảo phát triển tốt và ngược lại nhiệt thấp tảo phát triển chậm lại.Yếu tố
nhiệt độ khó kiếm soát vì phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, khí hậu và sự biến động của
từng ngày.Trong thời gian thực hiện ở xã Long Hòa huyện Cần Giờ sự biến động nhiệt độ
trong đợt 1 thì không đáng kể, nói chung là nhiệt độ tương đối cao và ổn định cho nên tảo
phát triển rất mạnh. Nhiệt độ cao nhất vào buổi sáng là 25 - 27
o
C vào buổi chiều là 28-
31
o
C.
• Bảng biến động nhiệt độ đợt 2
Ngày Nhiệt độ (
0
C)
Sáng Chiều
1 27 32
2 28 34
3 29 36
4
27.5 33
5
28 35
6
29 36
Bảng 2: Thể hiện sự biến động của nhiệt độ đợt 2
• Đồ thị thể hiện sự biến động nhiệt độ trong nuôi sinh khối tảo đợt 2
Đồ thị 2 : Thể hiện sự biến động nhiệt độ trong thí nghiệm nuôi tảo N. Oculata đợt 2.
Qua bảng 2 ta thấy nhiệt độ tương đối cao nên ảnh hưởng đến quá trình phát triển của
mật độ tảo. Nhiệt độ đợt 2 có sự chênh lệch so với đợt 1, nhiệt độ buổi sáng dao động
trong khoảng 27 – 29
0
C và nhiệt độ buổi chiều cũng khá cao từ 32 – 36
0
c nên ảnh hưởng
đến mật độ của tảo.
• Bảng biến động nhiệt độ đợt 3
Ngày Nhiệt độ (
0
C)
Sáng Chiều
1 25 29
2 26 30
3 25 28
4
25.5
29
5
26 30
6
27 31
7 26 30
Bảng 3: Thể hiện sự biến động của nhiệt độ đợt 3
• Đồ thị thể hiện sự biến động nhiệt độ trong nuôi sinh khối tảo đợt 3
Đồ thị 3 : Thể hiện sự biến động nhiệt độ trong thí nghiệm nuôi tảo N. Oculata đợt 3.
Qua bảng 3 ta thấy nhiệt độ sáng chiều ít dao động, nhiệt độ buổi sáng dao động từ 25-
27
0
C và nhiệt độ buổi chiều nhiệt độ tăng cung không đáng kể. Nhiệt độ không quá cao
nên rất thích hợp cho sự phát triển của tảo lúc này tảo phát triển rất nhanh. Nhiệt độ trong
đợt 3 này thích hợp cho tảo phát triển nên mật đô rất cao.
Vậy qua 3 đợt theo dõi nhiệt độ ta thấy sự phát triển của mật độ tảo phụ thuộc vào biến
thiên nhiệt độ, nhiệt độ cao tảo phát triển tốt và ngựơc laị nhiệt độ thấp thì mật độ tảo
phát triến chậm lại. Yếu tố nhiệt độ khó kiếm soát vì phụ thuộc vào điều kiện thời tiết,
khí hậu và sự biến động của từng ngày. Nhiệt độ nuôi trong khoảng thích hợp cho tảo
phát triển và ổn định.
Trong thời gian thực hiện ở xã Long Hòa huyện Cần Giờ nhiệt độ tương đối cao và ổn
định cho nên tảo phát triển rất mạnh.
1.2. Kết quả về sự biến động pH trong nuôi sinh khối tảo
Ngày pH
Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3
1 7.5 8.2 8.2
2 7.5 7.9 8.1
3 7.9 8.1 7.8
4 8.0 8.0
7.9
5 7.6 8.2
8.0
6 8.2 8.0
8.2
7 8.1
8.1
Bảng 4: Thể hiện sự biến động của pH
• Đồ thị thể hiện sự biến động pH trong nuôi sinh khối tảo
Đồ thị 4 : Thể hiện sự biến động pH trong thí nghiệm nuôi tảo N. Oculata.
Dựa vào kết quả bảng 4 ta thấy giá trị pH trong thí nghiệm nuôi tảo N.oculata trong 3
đợt ít có sự biến động lớn giữa buổi sáng và buổi chiều, pH có mối quan hệ chặt chẽ với
nhiệt độ và mật độ tế bào.Theo Couttaeu (1997) mức pH tốt nhất cho sự phát triển của tảo
là 8,2 – 8,7 (Phạm Thị Lam Hồng, 1999). Còn theo thí nghiệm của chúng tôi, pH giao
động ở 3 đợt không đáng kể chỉ giao động từ 7.5-8.2 nên cũng ít ảnh hưởng tới sự phát
triển của tảo. Với điều kiện nuôi nhiệt độ cao kết hợp với mật độ tế bào tảo cao có thể
giải thích được tại sao giá trị pH cao như vậy.
Trong quá trình nuôi sự biến động pH được duy trì và theo dõi trong suốt quá trình nuôi
sinh khối tảo N.oculata.
1.3. Kết quả về sự biến động độ mặn trong nuôi sinh khối tảo
Ngày Độ mặn(‰)
Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3
1 30 30 29
2 28 29 30
3 29 30 29
4 27 28 28
5 25 27 27
6 26 28 25
7 27 29 27
Bảng 5: Thể hiện sự biến động của độ mặn
• Đồ thị thể hiện sự biến động độ mặn trong nuôi sinh khối tảo
Đồ thị 5: Thể hiện sự biến động độ mặn trong nuôi sinh khối tảo N.oculata.
Sự biến động của độ mặn qua 3 đợt ta thấy có ảnh hưởng đến sự phát triển của tảo, khi
độ mặn dao động từ 25-30‰ tảo phát triển mạnh. Độ mặn quá cao 35‰ tảo nhanh tàn,
ngược lại nhiệt độ thấp 18‰ thì tảo không phát triển. Sự biến đổi của độ mặn còn phụ
thuộc vào điều kiện tự nhiên (nắng, mưa). Nên trong quá trình nuôi ta nên giảm độ mặn
trong khoảng phù hợp để tránh ảnh hưởng đến quá trình nuôi.
Trong quá trình nuôi sự biến động độ mặn được duy trì và theo dõi trong suốt quá trình
nuôi sinh khối tảo N.oculata.
2. Kết quả về môi trường dinh dưỡng sử dụng trong nuôi sinh khối tảo N.oculata.
Dùng môi trường conways (sử dụng 1ml/l) để cấy giữ và nuôi sinh khối trong bình và túi
nilon:
Các dung dịch theo thứ tự sau:
2.1. Kết quả về môi trường dinh dưỡng nuôi tảo N. oculata trong bình và túi.
* Dung dịch 1: môi trường đa lượng.
NaNO
3
500g
EDTA 225g
H
3
PO
3
168g
Na.H
2
PO
4
100g
FeCl
3
65g
MnCl
2
18g
Vi lượng 5ml
Vitamin B1 1g
Pha trong 5 lít nước cất đã tiệt trùng , sử dụng cho 1ml/l.
* Dung dịch 2: Môi trường vi lượng.
ZnCl
2
10,5g
CoCl
2
10g
(NH
4
)
6
M
O2
O
4
45g
CuSO
4
10g
Pha với 500ml nước cất đã tiệt trùng, sử dụng 1ml/l
* Dung dịch 3: Vitamin
Vitamin B1 200 mg
Vitamin B12 10 mg
Pha với 100ml nước cất đã tiệt trùng, sử dụng 1ml/l
• Cách pha:
• Lấy khoảng 5ml dung dịch 2 đã pha cho vào dung dịch 1 đã pha sẵn
và khuấy đều .
• Sau đó lấy khoảng 5ml dung dịch 3 cho vào hỗn hợp dung dịch 1 và
dung dịch 2, khuấy đều để cho dung dịch ổn định rồi đem sử dụng cho
quá trình nuôi tảo.
Trong quá trình nuôi tảo N.oculata ở Cần Giờ thì môi trường dinh dưỡng conways thích
hợp cho tảo phát triển với nhiều mật độ khác nhau, trong điều kiện nuôi trong túi nylon
với liều lượng thích hợp từ (1ml/l). Dựa vào nhũng kết quả trong quá trình nuôi thì môi
trường conways chứa hàm lượng dinh dưỡng cao sẽ làm tăng mật độ của tảo và duy trì
mật độ tảo trong thời gian khá lâu trong quá trình nuôi.
2.2. Kết quả môi trường nuôi tảo N.oculata trong bể
Ure 2 kg
Na
2
HPO
4
400g
EDTA 400g
FeCl
3
80g
Pha trong 5 lít nước cất đã tiệt trùng, liều lượng sử dụng 100ml/m
3
.
Tảo nuôi trong bể mật độ tương đối thấp vì thế môi trường dinh dưỡng rất quang trọng,
trong quá trình nuôi tảo ở trung tâm đã sử dụng môi trường bể trên để nuôi tảo ở Cần Giờ
thì thấy môi trường này rất thích hợp cho quá trình phát triển cuả tảo N.oculata trong bể
hiện nay.
3. Kết quả nuôi sinh khối tảo N.oculata
3.1. Kết quả nuôi tảo N.oculata trong bình nhựa
Tảo giống được lấy từ viện thủy sản Nha Trang hay từ Vũng Tàu về được nuôi cấy trong
bình 10L, bình được tiệt trùng bằng nước biển ta giữ nước trong bình còn khoảng 1-1,5
lít. Sau đó ta cấp nước và môi trường dinh dưỡng vào bình với dung lượng 1ml/1 nước và
lắp dây khí để tảo không bị lắng đáy.
Sau 2-4 ngày ta cấp thêm nước và môi trường vào cho đến khi đạt 8-10 lít, khi tảo đạt
mật độ cao thì chúng ta cấy sang túi nilon nuôi sinh khối có dung tích 50 lít hay sang qua
bình khác, sục khí 24/24, cở 3-4 ngày thì cấp nước và cấp môi trường dinh dưỡng (1ml/1)
đầy đủ.
Tảo nuôi trong bình cầu có thể duy trì được trong vòng 1 tháng. Lưu giữ tảo giống trong
tủ lạnh ngăn mát.
Dựa vào kết quả sau một thời gian nuôi tảo N.oculata trong bình nhựa tại trung tâm thì tôi
thấy mật độ tảo đạt rất cao lên đến 12x10
6
tb/ml chỉ trong 3-4 ngày nuôi, thời gian nuôi
cũng được lâu hơn và có thể giữ làm tảo giống. Trong quá trình nuôi thì tảo cung ít nhiêm
tảo lạ khác, cũng ít bị biến động đột ngột về môi truong tự nhiên. Chúng ta cũng dễ chăm
sóc và vệ sinh hơn.
3.2. Kết quả nuôi tảo N.oculata trong túi nilon
Buộc túi → cấp nước biển được xử lý Cholorine và lọc sạch, độ măn duy trì từ 28-30ppt
(S‰: 28 - 30‰) và pH (từ 7.5-8.0) → cấp tảo cỡ 5- 10 lít → sục khí và cấp môi trường
→ thu hoạch.
Mỗi túi cho từ 20 đến 30 ml môi trường túi ( tùy vào lượng nước cấp vào mà cấp