Ảnh hưởng của Mỹ đến tư tưởng Hồ Chí Minh
- Mùa hè 1911, Nguyễn Tất Thành qua nước Pháp với niềm khao khát tìm đến đất
nước của lý tưởng “Tự do - Bình đẳng - Bác ái”. Nhưng Người đã khơng lưu lại
Pháp mà tiếp tục cuộc hành trình tới nhiều quốc gia trên thế giới vừa kiếm sống
bằng nghề thuỷ thủ, vừa khảo sát thực tiễn ở nhiều nơi, hy vọng tìm ra con đường
cứu nước.
- Trong quá trình bơn ba tìm đường cứu nước, Mỹ là chặng dừng chân tương đối
lâu của Nguyễn Tất Thành.Vào khoảng 1912 Nguyễn Tất Thành đã đến Mỹ. Trong
thời gian ở Mỹ, Người đã sống, làm việc và tiếp tục học tập tại New York rồi
Brooklin. Người cũng đã qua nhiều thành phố như Boston, New York, tạm trú một
thời gian ngắn ở khu Harlem - nơi sinh sống của người da đen Mỹ. Người đã đến
Mỹ năm 1912 và làm việc trong khách sạn Omni Parker cho đến năm 1913. Đây là
khoảng thời gian vô cùng quan trọng trong cuộc đời ra đi tìm đường cứu nước của
Người.
- Thời gian sống và làm việc trên đất Mỹ, nhất là khu vực Harlem, đã để lại cho
Người nhiều ấn tượng rất sâu sắc về sự thống khổ của người da đen Mỹ, đặc biệt là
“hành hình kiểu Lynch” và những hoạt động đầy tội ác của đảng 3K, những cuộc
bãi công của công nhân Mỹ chống chiến tranh, đòi tăng lương.
- Sau này (năm 1924) các ấn tượng đó đã được thể hiện lại trong những bài báo của
Người như: “Hành hình kiểu Lynch, một phương diện ít người biết đến của nền
văn minh Mỹ” và “Đảng Ku-Klux-Klan”. Những bài báo đó có giá trị đặc biệt tố
cáo mạnh mẽ tệ phân biệt chủng tộc dã man, đồng thời cũng biểu lộ sự cảm thông
với người da đen, “là giống người bị áp bức và bóc lột nặng nề nhất trong giống
người”. Từ sự cảm thơng đó, Người đã tỏ thái độ căm giận bọn người áp bức
thống trị, và rồi sự căm giận đã được thể hiện bằng hành động cụ thể:
Theo báo “Caribbe” (tập IX, số 1) của Mỹ, Nguyễn Tất Thành đã dự đều đặn
các cuộc họp của tổ chức UNIT (Universal Negro Improvement Trust - Hội
tin tưởng cải thiện người da đen của thế giới) và đã hào hiệp góp tiền hưởng
ứng lời kêu gọi về tài chính của Hội”.
Trong một cuộc mít tinh do những người da đen tổ chức, “Hồ Chí Minh đã
dốc tất cả tiền trong túi để ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của họ”.
Người luôn tỏ thái độ ủng hộ nhiệt tình và chân thành cuộc đấu tranh chính
nghĩa của những người Mỹ da đen và luôn quan tâm đến phong trào đấu
tranh của nhiều dân tộc khác, từ đó đã góp phần vào “cuộc chiến đấu cho
người Mỹ, đặc biệt là người Mỹ da đen”.
- Cũng trong thời gian này, Người có điều kiện tìm hiểu về lịch sử - xã hội Mỹ, tìm
hiểu cuộc Cách mạng Mỹ thế kỷ XVIII (1775 - 1783), nghiên cứu truyền thống văn
hố Mỹ, đặc biệt là tìm hiểu “Tuyên ngôn độc lập” năm 1776 của nước Mỹ do Th.
Jefferson khởi thảo. Những tư tưởng lớn của bản Tun ngơn đã được Chủ tịch Hồ
Chí Minh tiếp nhận và trích dẫn nhiều lần sau này, và tên tuổi G. Washington, Th.
Jefferson đã thu hút sự chú ý của Người.
+ Người tiếp thu những giá trị về quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh
phúc của “Tuyên ngôn độc lập” năm 1776, quyền của nhân dân kiểm soát Chính
Phủ. Người tiếp thu giá trị tư tưởng nhân quyền với nhân dân là quyền tự do cá
nhân thiêng liêng trong bản Tun ngơn độc lập này. Đó là: "Tất cả mọi người đều
sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền khơng ai có thể xâm
phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền
mưu cầu hạnh phúc"hiểu về bản chất của chủ nghĩa tư bản để từ đó tìm ra con
đường giải phóng dân tộc Việt Nam.
+ Sau này, Người đã phát triển nó thành quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu
hạnh phúc cho tất cả các dân tộc. Nội dung nhân quyền được Người nâng lên một
tầm cỡ trong bản “Tuyên ngôn độc lập Việt Nam” năm 1945.
“Hỡi đồng bào cả nước,
Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền
khơng ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng
ra, câu ấy có ý nghĩa là: “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng,
dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Đó là những lẽ phải khơng ai chối cãi được”.
Qua nghiên cứu lý luận cũng như theo dõi tình hình thực tế, Nguyễn ÁiQuốc đã
nhận ra thực chất của “chủ nghĩa Wilson” chỉ là một “chiếc bánh vẽ”, là một “trò
bịp bợm lớn”. Người đã nhận thức rõ bản chất của “chủ nghĩa Wilson” được che
đậy bằng những lời lẽ mị dân về “dân chủ” và “quyền dân tộc tự quyết”, “dân tộc
Việt Nam cũng như các dân tộc khác đã bị mê hoặc theo những lời tuyên bố rộng
rãi của Wilson”.
Hành hình kiểu Lynch: một dạng bạo lực bạo lực tập thể, trong đó một nhóm
người tự đánh giá và thực hiện hình phạt đối với một người khơng có điều kiện để
bảo vệ bản thân. Thường xảy ra ở những trường hợp khơng có hệ thống luật hoặc
trong những trường hợp mà hệ thống luật không hoạt động hiệu quả. Hành động
này thường đi kèm với bạo lực, tấn cơng, đánh đập và thậm chí là giết người. Nó
đã được sử dụng trong lịch sử để áp dụng cho người da đen ở Mỹ và những người
khác ở kỳ thị.
Đảng 3K (Ku Klux Klan) Theo tiếng Hy Lạp, nghĩa là "Vòng tròn của những người
anh em", được thành lập sau khi cuộc Nội chiến Mỹ kết thúc, vào ngày 24/12/1865 ở
Pulaski, Tennessee, bởi 6 cựu binh trung cấp của quân đội miền Nam. Là tổ chức
phân biệt chủng tộc lâu đời nhất ở Mỹ. Đặc trưng của tổ chức này là hoạt động theo
dạng các hội kín, các thành viên không biết mặt nhau. Hoạt động bạo lực theo chủ
trương đề cao người da trắng là ưu việt, phân biệt chủng tộc, chống người da đen,
chống nhập cư, chống đồng tính luyến ái, phân biệt tơn giáo.. Những hội kín đi theo
3K thường sử dụng các khủng bố, bạo lực và các hoạt động mang tính hăm dọa chẳng
hạn như đốt thập giá, treo cổ vân vân… để đe dọa người Mỹ gốc Phi và những người
khác. Ngày nay, 3K gần như đã khơng cịn tồn tại trên nước Mỹ.
Những cuộc bãi công của công dân Mỹ chống chiến tranh, địi tăng lương
1. Cuộc bãi cơng của cơng nhân đường sắt năm 1894: Cuộc bãi công này diễn ra vì
các cơng nhân đường sắt địi tăng lương và giảm giờ làm việc. Bãi công kéo dài 18
ngày và 30.000 cơng nhân tham gia. Tuy nhiên, chính quyền liên bang đã triệu tập
quân đội đàn áp cuộc bãi công này.
2. Cuộc bãi công của công nhân khai thác than năm 1919: Cuộc bãi cơng này diễn
ra vì các cơng nhân khai thác than đòi tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc.
Cuộc bãi công kéo dài 5 tháng và 400.000 công nhân tham gia. Cuối cùng, các
công nhân đã đạt được một số u cầu của mình.
3. Cuộc bãi cơng của công nhân ô tô năm 1936-1937: Cuộc bãi công này diễn ra vì
các cơng nhân ơ tơ địi tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc. Cuộc bãi công
kéo dài 44 ngày và hơn 200.000 công nhân tham gia. Cuối cùng, các công nhân đã
đạt được một số yêu cầu của mình và đưa ra những tiêu chuẩn mới cho ngành công
nghiệp ô tô.
4. Cuộc bãi công của người lao động chống chiến tranh năm 1968: Cuộc bãi công
này diễn ra vì sự phản đối chiến tranh Việt Nam. Hàng triệu người lao động đã
ngưng làm việc và tham gia các cuộc biểu tình, diễn tập và các hoạt động phản đối
chiến tranh. Tuy nhiên, các cuộc biểu tình này đã gây ra nhiều bạo lực và bất hòa
trong xã hội.
Tuyên ngôn độc lập Mỹ 1776
Là thành quả đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, tư sản, chủ đồn điền,
công nhân, nô lệ đều đấu tranh chống ách thống trị của thực dân Anh khi
thành lập 13 thuộc địa chủ mình ở Bắc Mĩ từ đầu thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ
XVIII.
4/7/1776, tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ được thông qua bởi cuộc họp của
Đệ nhị Quốc hội Lục địa. Tuyên ngôn tuyên bố rằng 13 thuộc địa trong tình
trạng chiến tranh với Vương quốc Liên hiệp Anh sẽ coi mình là mười ba
quốc gia độc lập có chủ quyền, khơng cịn phải chịu sự cai trị của người Anh
và nước Anh. Tuyên ngôn do Hội đồng Năm soạn thảo
Qua bản tuyên ngôn, quyền con người và quyền cơng dân chính thức được
tun bố trước toàn thể nhân loại. Nguyên tắc về chủ quyền của nhân dân
được đề cao.
Hạn chế: Tuy Tuyên ngơn khơng đề cập đến việc xóa bỏ chế độ nơ lệ cùng
việc bóc lột giai cấp cơng nhân và nhân dân lao động. Thực chất chỉ bảo vệ
quyền lợi cho người da trắng. Cách mạng chỉ đáp ứng được quyền lợi cho tư
sản và quý tộc mới còn nhân dân khơng được hưởng chút quyền lợi gì.
Chủ nghĩa Wilson (còn được gọi là chủ nghĩa tự do) là một triết lý chính trị và
ngoại giao được đặt tên theo Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson. Chủ nghĩa
Wilson củng cố quyền tự do cá nhân, ưu tiên việc duy trì hồ bình thế giới và quan
hệ quốc tế dựa trên nguyên tắc công bằng và hợp tác đa phương.