LIÊN HỆ, VÍ DỤ LTMQT
* Các thiết chế điều chỉnh thương mại quốc tế
1. Việt nam với ecosoc
Ngày 21-10-2015 tại New York (Mỹ), Đại hội đồng Liên hợp quốc (ĐHĐ LHQ) khóa
70 đã tiến hành bỏ phiếu bầu 18 nước thành viên mới của Hội đồng Kinh tế Xã hội
(ECOSOC) nhiệm kỳ 2016-2018. Việt Nam đã trúng cử với số phiếu cao là 182 phiếu
trong tổng số 187 phiếu và lần thứ hai trở thành thành viên ECOSOC.
Là một trong 54 thành viên của ECOSOC, Việt Nam sẽ có điều kiện thuận lợi để tham
gia sâu, rộng hơn, vào việc xây dựng, định hình “luật chơi chung” của thế giới, thơng
qua việc đóng góp tiếng nói trách nhiệm, xây dựng của mình vào các chính sách, văn
kiện, hành động của ECOSOC trong các lĩnh vực rất phong phú của đời sống kinh tế,
xã hội của thế giới.
Trong nhiệm kỳ ba năm sắp tới làm thành viên ECOSOC, Việt Nam sẽ có cơ hội đóng
góp trực tiếp một cách xây dựng và trách nhiệm vào tiến trình thực thi Chương trình
nghị sự phát triển bền vững tới năm 2030. Việt Nam cũng sẽ có thêm điều kiện chia sẻ
và học hỏi những kinh nghiệm tốt từ bạn bè quốc tế để phát triển kinh tế và xã hội ở
trong nước. Đây cũng là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những thành tựu
của Việt Nam trong việc triển khai thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ của LHQ.
2. Việt nam với UNDP
Quan hệ đối tác giữa Chính phủ Việt Nam và Chương trình phát triển Liên hợp quốc
(UNDP) chính thức bắt đầu từ năm 1978, khi rất ít các nhà tài trợ có mặt ở Việt Nam.
Kể từ đó, UNDP ln kề vai sát cánh với Việt Nam trong suốt chặng đường phát triển
từ một nước nghèo bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh trở thành nước có thu nhập trung
bình, đi đầu trong nỗ lực giảm nghèo và tăng trưởng.
UNDP hỗ trợ Việt Nam, cùng nhau nghiên cứu trang bị phần mềm hỗ trợ, công cụ
thơng minh dành cho người khiếm thị trong việc tìm đường, thuận tiện hơn trong việc
đi lại. Cùng với đó, UNDP tiếp tục quan tâm hỗ trợ Việt Nam trong nhiệm vụ giảm
nghèo bền vững, các vấn đề liên quan đến người già; đồng thời, tập trung các hoạt
động hỗ trợ người yếu thế...
3. Việt nam với UNCITRAL
Sáng 18/12 theo giờ Việt Nam, tại cuộc bầu cử thuộc khóa họp 73 của Đại Hội đồng
Liên Hợp Quốc ở New York (Mỹ), Việt Nam đã trúng cử thành viên Uỷ ban Luật
thương mại quốc tế nhiệm kỳ 2019-2025 với số phiếu cao.
Đây là một sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những thành tựu phát triển của
Việt Nam, đặc biệt là trong việc xây dựng hệ thống pháp luật, cũng như những nỗ lực,
đóng góp của Việt Nam trong các vấn đề cải tổ và phát triển của Liên Hợp Quốc.
việc chúng ta trúng cử cho thấy các nước đánh giá cao vị thế quốc tế của Việt Nam,
không chỉ về chính trị mà cịn về kinh tế. Họ cũng nhìn nhận những thành tựu trong
quá trình đổi mới về thương mại, đầu tư, thu hút FDI, nhìn nhận mức độ cam kết và
hoàn thiện các văn kiện pháp lý liên quan, vai trò của Việt Nam trong Ủy ban Luật
pháp quốc tế của LHQ.
Việt Nam sẽ tham gia sâu hơn vào quá trình thảo luận của Ủy ban, cùng xem xét các
vấn đề mà các quốc gia và doanh nghiệp nêu lên trong hoạt động thương mại quốc tế.
Từ đó chúng ta có thể có tiếng nói sớm hơn, sâu hơn với các văn bản, văn kiện pháp
lý, vừa đóng góp vào cơng việc chung của cộng đồng quốc tế vừa bảo đảm lợi ích của
quốc gia.
4. Việt nam với UNCTAD
Bộ trưởng Hồ Đức Phớc bày tỏ kỳ vọng tăng cường hợp tác chặt chẽ hơn nữa với
UNCTAD và chờ đợi nhiều dự án hợp tác hiệu quả hơn nữa nhằm giúp Việt Nam đạt
được nhiều thành tựu giá trị trong tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Liên quan đến các mục tiêu xây dựng hệ thống năng lượng tái tạo,
Bộ trưởng cũng khẳng định, Việt Nam đang đi đúng hướng trong
việc thúc đẩy tăng trưởng bền vững thông qua các dự án thay thế
năng lượng truyền thống bằng năng lượng tái tạo như năng lượng
điện gió, mặt trời.
Bà Rebeca Grynspan cho biết, Việt Nam đã là đối tác hợp tác tích cực của UNCTAD
trong nhiều năm qua. Điều này cũng đã được nêu trong Báo cáo về đầu tư thế giới của
UNCTAD với những tổng hợp thành tựu phát triển nổi bật của Việt Nam đặc biệt là
những hoạt động đầu tư để thích ứng với biến đổi khí hậu.
hiện nay UNSTAD đang triển khai các dự án cho cộng đồng doanh nghiệp vừa và nhỏ
và xem Việt Nam là một lựa chọn tiềm năng để thực hiện nhiều nghiên cứu, đánh
giá.
* Chống bán phá giá
1. cá tra, cá basa nhập khẩu từ Việt Nam
- Các bên liên quan: Mỹ và Việt Nam
- Tóm tắt vụ việc:
28/06/2002 Hiệp hội chủ trại nuôi cá da trơn Mỹ (CFA) đệ đơn lên Uỷ ban Hiệp
thương Quốc tế Mỹ (ITC) và Bộ Thương mại Mỹ (DOC) kiện một số doanh nghiệp
Việt Nam bán phá giá mặt hàng này vào Mỹ. Đề xuất về mức thuế chống phá giá của
CFA: - Nếu VN là nước có nền kinh tế thị trường: 144% - Nếu VN là nước phi kinh tế
thị trường: 190%
- 18/07/2002 Bộ thương mại Mỹ (DOC) đưa ra kết luận khởi xướng điều tra và tiến
hành các giai đoạn công bố, tập hợp ý kiến các bên. Bên Nguyên là CFA và Bên Bị
(gồm Bị Đơn Bắt Buộc và Bị Đơn Tự Nguyện) là các nhà sản xuất và chế biến VN
được đại diện bởi Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam – VASEP
- 06/08/2002 Quyết Định Sơ Bộ Của ITC: ITC họp bàn, bỏ phiếu và đưa kết luận sơ
bộ ra xem xét. Các doanh nghiệp Việt Nam bị kết luận là việc họ xuất khẩu cá tra, cá
basa vào thị trường Mỹ đã đe dọa gây thiệt hại về vật chất cho ngành sản xuất của Mỹ
- 09/08/2002 Vụ kiện được ITC chuyển sang DOC để tiến hành điều tra tình trạng bán
phá giá.
- 27-28 /01/2003 DOC công bố kết quả điều tra sơ bộ là các công ty VN bán phá giá cá
tra tại Mỹ. Áp dụng 3 mức thuế trừng phạt dao động trong khoảng 38-64% đối với cá
tra, cá basa Việt Nam nhập khẩu
Kết luận cuối cùng của DOC:
DOC đưa ra mức thuế sửa đổi so với mức thuế trong quyết định cuối cùng áp dụng cho
các doanh nghiệp Việt Nam.
Quyết định cuối cùng của ITC
24/07/2003 ITC đưa ra phán quyết cuối cùng: khẳng định doanh nghiệp VN bán phá
giá với giá thấp hơn giá thành và gây tổn hại cho ngành sản xuất của Mỹ, và ấn định
mức thuế suất bán phá giá từ 36,84 đến 63,88%
4. Sở hữu trí tuệ
BẢN ÁN 17/2019/KDTM-ST NGÀY 31/05/2019 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỞ
HỮU TRÍ TUỆ
Ngun đơn: Ơng Phạm Tấn T, sinh năm 1950 - Chủ hộ kinh doanh Hiệu Đồng T.
Bị đơn: Công ty cổ phần Bột Thực phẩm ASEA Đ
- Nội dung vụ án:
Hộ kinh doanh cá thể Đồng T ra đời từ cuối những năm 1990 chuyên về sản xuất và
cung cấp cho thị trường Hà Nội và các tỉnh lân cận sản phẩm bột thực phẩm, bột chiên
tơm, bột chiên giịn. Năm 2002, Hộ kinh doanh Hiệu Đồng T được cấp Giấy chứng
nhận Đăng ký kinh doanh
Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 59681 do Cục SHTT cấp ngày 12/01/2005 có
hiệu lực đến 29/06/2021 cho nhãn hiệu “Hiệu Đồng T & hình Đồng T ”;
Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 208482 do Cục SHTT cấp ngày 09/07/2013 có
hiệu lực đến 06/10/2021 cho nhãn hiệu “Hiệu Đồng T & hình Đồng T ”;
Bằng độc quyền Kiểu dáng công nghiệp (KDCN) số 13782 do Cục SHTT cấp ngày
5/11/2009 cho bao gói sản phẩm bột chiên giịn Hiệu Đồng T có hiệu lực đến ngày
23/10/2023.
- gày 04/02/2016, Công ty Asea Đồng T (tên gọi cũ là Công ty cổ phần bột thực phẩm
A ) bị Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ xử phạt vi phạm hành chính với số tiền
85.000.000đ, vì lý do xâm phạm quyền độc quyền sử dụng KDCN và nhãn hiệu Hiệu
Đồng T
- ngày 03/03/2016, Công ty cổ phần bột thực phẩm A thành Công ty cổ phần Bột
Thực phẩm ASEA Đồng T.
- về phí nguyên đơn:
Buộc Bị đơn chấm dứt sử dụng tên doanh nghiệp chứa yếu tố/dấu hiệu “Đồng T”
Buộc Bị đơn thu hồi và tiêu hủy toàn bộ sản phẩm bột chiên giịn, bột chiên tơm hoặc
các sản phẩm thực phẩm tương tự khác chứa yếu tố/dấu hiệu “Đồng T”; và đồng thời
buộc Bị đơn tháo dỡ, tiêu hủy tồn bộ bao gói, giấy tờ tài liệu, tờ rơi, biển hiệu,
phương tiện in ấn bao bì bao gồm cả mọi quảng cáo, chào hàng trên môi trường
internet chứa yếu tố/dấu hiệu “Đồng T”
Bị đơn
Phía bị đơn vẫn cho rằng việc mình sử dụng bao bì của sản phẩm trong đó có chữ
Đồng T kể cả trong việc quảng cáo, đăng ký kinh doanh và các hoạt động khác của
doanh nghiệp là không sai,
tuy nhiên để giải quyết việc nhanh gọn khơng phải ra tịa thì cũng đồng ý bỏ chữ
Đồng T trong các sản phẩm, dịch vụ, đăng ký kinh doanh cũng như các hoạt động kinh
doanh khác của cơng ty. Nếu làm như vậy thì chúng tơi sẽ thiệt hại một số tiền khơng
nhỏ và đề nghị phía nguyên đơn hỗ trợ chúng tôi một khoản là 1,5 tỷ đồng, sa u đó đề
xuất là 700 triệu và gần đây nhất là 500 triệu.
KL hội đồng xét xử:
bị đơn sử dụng tên thương mại có dấu hiệu dịng chữ “Đồng T” với tên nhãn hiệu của
nguyên đơn sẽ gây nhầm lẫn cho người sử dụng khi sử dụng những sản phẩm được
tiêu thụ trên thị trường vì tên nhãn hiệu của nguyên đơn đã dùng làm danh xưng đã
được biết đến rộng rãi do sử dụng trên thị trường hàng chục năm nay.
Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để chấp nhận đề nghị của nguyên đơn và luật sư bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ý kiến của bị đơn không phù hợp quy
định pháp luật và chứng cứ trong hồ sơ nên không chấp nhận.
5. Nêu những điểm bất cập của Luật SHTT 2005 hoặc các bản sửa đổi liên quan
đến quyền tác giả, quyền liên quan;
- Về thuật ngữ “tác giả” và “đồng tác giả”
Mặc dù Luật SHTT năm 2005, sửa đổi năm 2009 (gọi tắt là Luật)
không định nghĩa thuật ngữ “tác giả”, nhưng điều 8 Nghị định
100/2006/NĐ-CP đã quy định: “Tác giả là người trực tiếp sáng tạo
ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa
học”, đồng thời Nghị định này không quy định tác giả là pháp
nhân, do đó có thể nói rằng tác giả chỉ có thể là cá nhân.
Pháp luật Việt Nam về SHTT cũng không định nghĩa thuật ngữ
“đồng tác giả” mà mặc nhiên quan niệm trong trường hợp có từ
hai tác giả trở lên cùng sáng tạo nên một tác phẩm thì họ là các
đồng tác giả của tác phẩm đó.
Về thuật ngữ “chủ sở hữu quyền tác giả”
Thuật ngữ “chủ sở hữu quyền tác giả” xuất hiện tại Điều 13 và
một số điều khác của Luật. Điều 36 định nghĩa: “Chủ sở hữu
quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn
bộ các quyền tài sản quy định tại Điều 20”.
Định nghĩa trên đây là chưa chính xác, bởi lẽ nội dung của quyền
tác giả được quy định tại điều 18 bao gồm quyền nhân thân và
quyền tài sản, như vậy về mặt hình thức chủ sở hữu quyền tác giả
phải nắm toàn bộ nội dung quyền tác giả (bao gồm quyền nhân
thân và quyền tài sản). Nhưng như điều 36 định nghĩa thì cho thấy
chủ sở hữu quyền tác giả chỉ nắm quyền tài sản chứ không hề
nắm quyền nhân thân.
Đối tượng của quyền liên quan
Khoản 3 Điều 4 Luật quy định: “Quyền liên quan đến quyền tác
giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân
đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát
sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa”.
Như vậy quyền liên quan là một thuật ngữ được hiểu là nó phải
liên quan đến quyền tác giả, hay nói cách khác nhất thiết nó chỉ
được phát sinh trên cơ sở đã tồn tại một/những tác phẩm trước đó.
Quyền tác giả đối với chương trình máy tính
Đã có nhiều nghiên cứu về quyền tác giả đối với chương trình máy tính,
tác giả của bài viết này cũng có một nghiên cứu riêng[4]. Bởi vậy để đảm
bảo tính mới của bài viết, chúng tôi không nhắc lại những nghiên cứu đi
trước, mà chỉ đề cập đến mục này nhằm chỉ ra một trong những bất cập
của Luật.
Cần hoàn thiện vấn đề này theo hướng:
– Nên có quy định riêng để bảo hộ chương trình máy tính;
– Nếu chưa có quy định riêng như vừa nêu thì chương trình máy tính vẫn
được bảo hộ như một tác phẩm văn học theo quy định của Luật và quy
định của Hiệp định TRIPs, thì cần có quy định đặc thù riêng về quyền nhân
thân, về thời hạn bảo hộ quyền tài sản, nhất là quyền được lưu giữ 01 bản
sao chương trình máy tính đề phịng sự cố máy tính mà khơng bị coi là
xâm phạm quyền sao chép tác phẩm như điểm c Khoản 1 Điều 20 của
Luật đã quy định.
Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân
gian
Khoản 1 Điều 23 của Luật định nghĩa: “Tác phẩm văn học, nghệ
thuật dân gian là sáng tạo tập thể trên nền tảng truyền thống của
một nhóm hoặc các cá nhân nhằm phản ánh khát vọng của cộng
đồng, thể hiện tương xứng đặc điểm văn hoá và xã hội của họ, các
tiêu chuẩn và giá trị được lưu truyền bằng cách mơ phỏng hoặc
bằng cách khác”.
Sau đó Khoản 2 Điều 23 quy định: “Tổ chức, cá nhân khi sử dụng
tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian phải dẫn chiếu xuất xứ
của loại hình tác phẩm đó và bảo đảm giữ gìn giá trị đích thực của
tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian”.
Như vậy, với quy định tại Khoản 2 Điều 23 tác phẩm văn học,
nghệ thuật dân gian được bảo hộ như tác phẩm thuộc về công
chúng như quy định tại điều 43 của Luật, có nghĩa là Luật chỉ bảo
hộ quyền nhân thân chứ không bảo hộ quyền tài sản đối với tác
phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.
6. thương mại bằng trọng tài thương mại
- Khái niệm:
+ Tranh chấp?
+ Có mấy cơ chế GQTC trong TMQT?
+ Trọng tài thương mại là gì (Điều…, định nghĩa)
- Nội dung chính:
+ Nguyên tắc GQTC bằng TTTM (điều 4 Luật TTTM 2010);
+ Quy trình thủ tục giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài thương mại TM +
Đánh giá ưu nhược điểm của phương thức này.
- Ví dụ: tìm 1 ví dụ cụ thể
Quyết định số 11/2018/QĐ-PQTT ngày 12/10/2018 của Tòa án nhân dân thành
phố Hà Nội
+ Thời gian diễn ra vụ việ: 24/11/2017
+ Các bên tranh chấp gồm những ai: Ngân hàng TMCP Đ và Ngân hàng TMCP H
+ Tóm tắt nội dung tranh chấp :
- Ngày 04/3/2014, Ngân hàng TMCP Đ và Ngân hàng TMCP H đã kí Hợp đồng mua
bán trái phiếu số 0001/2014/MSB-OJB. Theo đó, Ngân hàng H mua trái phiếu của
Cơng ty cổ phần Tài chính và đầu tư G với số lượng là 500 trái phiếu, mệnh giá trái
phiếu là 1.000.000.000 đồng/trái phiếu; Ngân hàng Đ cam kết mua lại hoặc chỉ định
bên thứ ba mua lại toàn bộ trái phiếu mà Ngân hàng H đã mua nếu xảy ra các trường
hợp mà các bên đã thỏa thuận. Trường hợp Ngân hàng Đ vi phạm cam kết hoặc đến
ngày thỏa thuận là 364 ngày thì Ngân hàng H có quyền tự động khấu trừ khoản tiền
bằng tổng mệnh giá trái phiếu.
- 24/11/2017, Ngân hàng H đã khởi kiện tại VIAC, yêu cầu Ngân hàng Đ phải thực
hiện việc nhận lại các trái phiếu để thực hiện quyền trái chủ từ các trái phiếu theo quy
định của pháp luật cũng như thực hiện theo đúng thỏa thuận mà các bên đã ký kết.
+ Kết luận của Toà :
Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam ra Phán quyết vụ tranh chấp số 40/17: buộc bị
đơn phải thực hiện nghĩa vụ nhận lại 500 trái phiếu có mã trái phiếu là GIAPHAT
BOND 500.2013 và phải chịu tồn bộ phí trọng tài.
Quyết định số 04/2018/QĐ-PQTT ngày 24/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố
Hà Nội
+ Thời gian: 17/4/2017
+ Các bên liên quan: PDC (sau đây gọi tắt là bên liên quan) và Công ty TNHH ADM
VN, Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (gọi tắt là VIAC)
+ Nội dung:
Ngày 18/6/2014, PDC (sau đây gọi tắt là bên liên quan) và Công ty TNHH ADM VN
(sau đây gọi tắt là bên yêu cầu) ký kết hai Hợp đồng mua bán số QQC-DJ140618-1 và
QQC DJ140618-2 về việc mua bán máy sản xuất cần gạt nước mưa ơ tơ. Trong q
trình thực hiện các Hợp đồng mua bán, ngày 30/8/2015 hai bên đã ký kết Hợp đồng
thế chấp số 01/2015/GDBĐ/DWIADM21, trong đó hai bên đã chốt cơng nợ là bên u
cầu cịn nợ bên liên quan số tiền 884,721.8 USD và hai bên nhất trí lùi thời hạn trả nợ
đến hết ngày 30/11/2015.
Sau khi ký và thực hiện Hợp đồng thế chấp, bên yêu cầu mới chỉ thanh toán được một
phần cho bên liên quan là 109,433.9 USD. Tính đến ngày ra Phán quyết trọng tài, bên
yêu cầu còn nợ bên liên quan số tiền nợ gốc là 775,287.9 USD
=> PDC yêu cầu Hội đồng trọng tài buộc bên yêu cầu phải thanh toán số tiền nợ gốc
là 775,287.9 USD, lãi chậm thanh toán phát sinh trên nợ gốc, đồng thời yêu cầu xử lý
tài sản thế chấp để thu hồi các khoản tiền u cầu thanh tốn.
- phán quyết tịa:
Ngày 19/12/2017, VIAC ra Phán quyết vụ kiện số 15/17 buộc bên yêu cầu chậm nhất
là 30 ngày kể từ ngày ra Phán quyết, phải thanh toán cho bên liên quan về số tiền là
867,557.78 USD, hồn trả chi phí Trọng tài và số tiền 10.127.500 đồng để hồn trả lệ
phí Trọng tài.
- Liên hệ với VN:
Lựa chọn 1 trong các cách sau:
+ Đánh giá hiệu quả áp dụng Luật TTTM tại VN
+HIệu quả áp dụng UNCITRAL tại VN/ đánh giá mối quan hệ giữa VN và LHQ
trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp TMQT bằng trọng tài