Tải bản đầy đủ (.doc) (4 trang)

Luật hôn nhân và gia đình r

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (112.33 KB, 4 trang )

BÀI KIỂM TRA ĐIỀU KIỆN
Môn: Luật hôn nhân và gia đình
Đề bài:
Câu 1: Hãy nêu, phân tích khái niệm, đối tượng, phương pháp và các nguyên
tắc cơ bản của Luật Hơn nhân và gia đình?

Bài Làm:
1/ Khái niệm:
- Luật hơn nhân và gia đình là một cơng cụ để nhà nước điều chỉnh các mối quan hệ xã
hội phát sinh trong lĩnh vực hơn nhân – gia đình như quan hệ xã hội giữa vợ chồng,
giữa cha mẹ và con cái, giữa các thành viên trong gia đình.
* Khái niệm: “Luật hơn nhân và gia đình” có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau:
+ Với ý nghĩa là một môn học: Luật Hơn nhân và gia đình Việt Nam là hệ thống khái
niệm, quan điểm, nhận thức, đánh giá mang tính lý luận về pháp luật hơn nhân và gia
đình Và thực tiễn áp dụng, thi hành pháp luật hôn nhân và gia đình.
+ Với ý nghĩa là một văn bản pháp luật cụ thể: Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam là
văn bản pháp luật trong đó có chứa đựng các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình.
Ví dụ: Luật Hơn nhân và gia đình năm 1959, Luật Hơn nhân và gia đình năm 1986,
Luật Hơn nhân và gia đình năm 2000.
+ Với ý nghĩa là một ngành luật: Luật Hơn nhân và gia đình Việt Nam là tổng hợp các
quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và
gia đình, bao gồm các quan hệ về nhân thân và quan hệ về tài sản giữa vợ và chồng,
giữa cha mẹ và con, giữa những thành viên trong gia đình.

2/ Đối tượng:
- Đối tượng điều chỉnh của Luật hơn nhân và gia đình Việt Nam là các quan hệ xã hội
trong lĩnh vực hơn nhân và gia đình, cụ thể là quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa
vợ và chồng, giữa cha mẹ và các con, giữa những người thân thích ruột thịt khác.
* Đối tượng điều chỉnh của Luật Hơn nhân và gia đình có các đặc điểm sau:

1




+ Quan hệ nhân thân là nhóm quan hệ chủ đạo và có ý nghĩa quyết định trong các quan
hệ hơn nhân và gia đình.
+ Yếu tố tình cảm gắn bó giữa các chủ thể là đặc điểm cơ bản trong quan hệ hơn nhân
và gia đình.
+ Quyền và nghĩa vụ hơn nhân và gia đình gắn liền với nhân thân mỗi chủ thể, không
thể chuyển giao cho người khác được.
+ Quyền và nghĩa vụ trong quan hệ hôn nhân và gia đình tồn tại lâu dài, bền vững.
+ Quyền và nghĩa vụ tài sản trong quan hệ hôn nhân và gia đình khơng mang tính chất
đền bù, ngang giá.

3/ Phương pháp:
- Phương pháp điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình là những biện pháp, cách
thức tác động của các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình tới các quan hệ xã hội
thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Hơn nhân và gia đình phù hợp với ý chí của Nhà
nước.
- Xuất phát từ đậc điểm của các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật
Hơn nhân và gia đình là quan hệ giữa các chủ thể gắn bó với nhau bởi yếu tố tình cảm,
huyết thống hoặc ni dưỡng nên Luật Hơn nhân và gia đình có phương pháp điều
chỉnh linh hoạt và mềm dẻo. Hầu hết các quy phạm pháp luật hơn nhân và gia đình
khơng quy định biện pháp chế tài.
* Phương pháp điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình có các đặc điểm sau:
+ Trong quan hệ hơn nhân và gia đình, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể luôn tương
ứng với nhau. Đồng thời, các chù thể tham gia quan hệ hôn nhân và gia đình vừa có
quyền, vừa phải thực hiện nghĩa vụ. Vì vậy, trong các điều luật luôn quy định các chủ
thể có “quyền và nghĩa vụ”.
+ Các chủ thể khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình phải xuất phát từ lợi ích chung
của gia đình.
+ Các chủ thể khơng được phép bằng sự tự thỏa thuận để làm thay đổi những quyền và

nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định.
+ Các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình gắn bó mật thiết với các quy tắc đạo
đức, phong tục tập quán và lẽ sống trong xã hội.

4/ Các nguyên tắc cơ bản:

2


* Để đảm bảo cho quan hệ hôn nhân được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật,
đưa ra năm nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình quy định tại Điều
2 Luật hơn nhân và gia đình năm 2014 như sau:
a. Hơn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng:
- Nguyên tắc hôn nhãn tự nguyện, tiến bộ: Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ được hiểu là
mỗi bên nam nữ được tự mình quyết định việc kết hơn. Mọi hành vi cưỡng ép kết hôn,
lừa dối để kết hôn, cản trở việc kết hôn tự nguyện, tiến bộ đều bị coi là vi phạm pháp
luật. Khi vợ chồng đang chung sống hịa thuận, hạnh phúc thì khơng ai có thể buộc họ
ly hôn. Nhưng khi cuộc sống chung của vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và bản thân vợ,
chồng mong muốn được chấm dứt cuộc sống chung thì họ có quyền u cầu ly hơn.
- Ngun tắc hơn nhân một vợ một chồng: Hôn nhân một vợ một chồng là vào thời
điểm xác lập quan hệ hôn nhân (thời điểm đăng ký kết hôn), các bên kết hôn đang
không có vợ hoặc có chồng. Có nghĩa là vào một thời điểm, một người đàn ơng chỉ có
một người vợ, một người đàn bà chỉ có một người chồng.
- Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng: Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng được thể hiện trong
các quy định về quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản của vợ chồng. Ngun tắc vợ
chồng bình đẳng góp phần xố bỏ sự bất bình đẳng giữa vợ vả chồng trong gia đình
phong kiến, khẳng định quyền bình đẳng về mọi mặt giữa nam và nữ, góp phần vào sự
nghiệp giải phóng phụ nữ.
b. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo
tôn giáo với người khơng theo tơn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người khơng

có tín ngưỡng, giữa cơng dân Việt Nam với người nước ngồi được tơn trọng và
được pháp luật bảo vệ:
- Quyền tự do về quan hệ hôn nhân giữa các dân tộc, tơn giáo, tín ngưỡng, người Việt
Nam với người nước ngoài được ghi nhận và bảo vệ trong các quy định của pháp luật
nói chung và luật hơn nhân và gia đình nói riêng trước hết là để bảo đảm sự thống nhất
trong hệ thống pháp luật, tuân thủ theo quy định của Hiến pháp, bảo đảm nhà nước
pháp chế XHCN, sau đó là bảo đảm phù hợp với ngun tắc tự nguyện bình đẳng trong
hơn nhân. Theo đó Hiến pháp năm 2013 ghi nhận tại khoản 1, Điều 24:
“Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tơn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo
nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.”
c. Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa
vụ tơn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các
con:
- Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống
hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau. Gia
3


đình có ấm no hạnh phúc thì hơn nhân mới bền vững, xã hội mới phát triển, thành viên
trong gia đình có quyền và nghĩa vụ u thương chăm sóc lẫn nhau là điều tất yếu trong
đời sống xã hội, việc quy định điều này là nguyên tắc cơ bản là ghi nhận lại điều đó
trong văn bản pháp luật, là cơ sở để xử phạt những hành vi vi phạm quy định nêu trên.
d. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao
tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hơn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà
mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia
đình:
- Ngun tắc này ghi nhận trách nhiệm về phía cơ quan tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
trong việc bảo vệ người già, phụ nữ và trẻ em nói riêng và xã hội hay bản thân các gia
đình Việt Nam nói chung. Thực hiện tốt nguyên tắc này gia đình sẽ hạnh phúc, vợ
chồng có thời gian quan tâm con cái; Người mẹ được bảo đảm quyền bình đẳng trong

gia đình đẩy lùi những tư tưởng lạc hậu về hơn nhân gia đình.
- Xuất phát từ vai trò xã hội của phụ nữ, của các bà mẹ trong gia đình và ý nghĩa của
gia đình trong việc hình thành nhân cách của con người (đặc biệt là trẻ em), có thể nhận
định rằng bảo vệ bà mẹ và trẻ em có ý nghĩa rất lớn trong sự nghiệp phát triển nguồn
nhân lực của đất nước.
- Nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em được cụ thể hóa trong các chế định của Luật Hơn
nhân và gia đình như: Kết hơn; ly hơn; quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con; xác định
cha, mẹ, con; cấp dưỡng…
e. Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về
hơn nhân và gia đình:
- Gia đình vốn là nền tảng của xã hội, vì vậy mà việc giữ gìn, kế thừa và phát huy
những giá trị tốt đẹp góp phần vào sự phát triển xã hội. Nguyên tắc này nhằm tơn vinh
những giá trị truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam./.

4



×