Tải bản đầy đủ (.docx) (17 trang)

Tiểu luận an sinh xã hội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (118.03 KB, 17 trang )

Đề bài: Đổi mới quản lý nhà nước về an sinh xã hội Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU
An sinh xã hội là hệ thống các chính sách và chương trình do Nhà nước và các lực
lượng xã hội thực hiện nhằm bảo đảm cho mọi người dân ít nhất có được mức tối
thiểu về thu nhập, có cơ hội tiếp cận ở mức tối thiểu về các dịch vụ xã hội cơ bản,
thiết yếu: giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin,..
Qua hơn 35 năm đổi mới và phát triển đất nước, Việt Nam đã cơ bản xây dựng
được một hệ thống an sinh xã hội (ASXH) đồng bộ, nhất là các chính sách về tạo
việc làm, bảo đảm thu nhập tối thiểu cho người dân; bảo hiểm xã hội (BHXH) bù
đắp phần thu nhập bị suy giảm khi đau ốm, tai nạn lao động, tuổi già; trợ giúp xã
hội đột xuất và thường xuyên; cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục,
chính sách ưu đãi đối với người có cơng... Đây là những thành tựu tiên phong trong
thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Việt Nam đã được Liên hợp
quốc công nhận, biểu dương.
Bước sang thế kỷ XXI, dưới tác động của cách mạng khoa học - kỹ thuật, thế giới
ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng. Sự kết nối chặt chẽ giữa thế giới thực
và thế giới số đã làm gia tăng tính linh hoạt của thị trường lao động, gia tăng tỷ
trọng khu vực kinh tế phi chính thức, giúp người lao động có thể làm việc từ khắp
nơi mà không nhất thiết phải gắn với một doanh nghiệp. Tuy nhiên, kỷ nguyên số
cũng làm gia tăng mất việc làm ở một số ngành, nghề, gia tăng khoảng cách giàu
nghèo. Do đó, hệ thống quản lý nhà nước về ASXH cần phải thay đổi để thích ứng
với các điều kiện mới trong kỷ nguyên số.


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ AN SINH XÃ HỘI
1. Khái niệm an sinh xã hội
An sinh xã hội là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong
xã hội, là sự bảo đảm của xã hội, nhằm bảo tồn nhân cách cùng giá trị của cá nhân,
đồng thời tạo lập cho con người một đời sống sung mãn và hữu ích để phát triển tài


năng đến tột độ.
An sinh xã hội là một khái niệm có nội hàm rộng và biến đổi theo thịi gian và
khơng gian; từ ngày sơ khai hình thành cho đến thời đại phong kiến nó chỉ là
những hình thức trợ giúp tự phát của các bộ tộc, của cộng đồng cho những người
có hồn cảnh khó khăn khơng tự bảo đảm được cuộc sống của mình do già cả, ốm
đau, bệnh tật, khuyết tật, khơng có sức lao động hoặc các rủi ro khác do thiên tai,
dịch bệnh, mất mùa và sau này là sự trợ giúp của nhà thờ, nhà chùa.
Nhưng cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của lồi người thì những nguy
cơ rủi ro diễn ra ngày càng nhiều hơn, đa dạng hơn, dẫn đến số lượng người gặp
phải nguy cơ rủi ro ngày càng lớn hơn; trước tình hình đó Nhà nước cũng đã phải
tham gia vào việc cứu trợ cho những người khơng may mắn, gặp nhiều khó khăn
trong cuộc sống. Ngày nay, trong xã hội việc trợ giúp xã hội cho các đối tượng có
hồn cảnh khó khăn nêu trên cịn có sự tham gia của các tổ chức phi Chính phủ,
các doanh nghiệp mà ngày nay chúng ta thương gọi chung là sự trợ giúp của cộng
đồng là một hiện tượng mang tính phổ biến.
2. An sinh xã hội tại Việt Nam
Khi đánh giá vai trò của an sinh xã hội (ASXH), Ngân hàng Thế giới đã nhận định
rằng một hệ thống ASXH được thiết kế tốt sẽ góp phần quan trọng vào sự phát
triển của quốc gia. Thông qua hệ thống ASXH, nhà nước tiến hành phân phối lại


thu nhập và dịch vụ cho người nghèo và những nhóm xã hội yếu thế, dễ bị tổn
thương, góp phần giảm nghèo bền vững, chống nguy cơ tái nghèo, tiến tới thu hẹp
bất bình đẳng xã hội. ASXH là một trong những hợp phần quan trọng của các
chương trình, chiến lược phát triển nhằm mục tiêu ổn định xã hội, thu hẹp bất bình
đẳng, tạo nên sự đồng thuận xã hội trong q trình phát triển. ASXH, do đó, vừa có
tính kinh tế, vừa mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.
Ở Việt Nam, các trụ cột cơ bản của hệ thống ASXH gồm tạo việc làm, bảo hiểm xã
hội, trợ giúp xã hội và giảm nghèo do nhà nước làm chủ đạo, tạo ra một lưới an
toàn nhiều tầng cho tất cả các thành viên, các nhóm xã hội, nhất là các đối tượng

yếu thế, dễ bị tổn thương khi bị suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập, khi gặp rủi ro,
hoạn nạn, đau ốm, bệnh tật,... ASXH cịn nhằm nâng cao khả năng ứng phó khi
mất việc làm, đảm bảo cuộc sống ổn định cho người dân, và vì vậy, ASXH góp
phần quan trọng vào phát triển xã hội bền vững. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19
đang tàn phá mạnh mẽ trên quy mơ tồn cầu, kinh tế suy thối và tình hình an ninh
quốc tế biến động khó lường, ASXH trở thành một trụ cột quan trọng, góp phần ổn
định chính trị-xã hội ở nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới.
Hệ thống ASXH nước ta là một ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, như được ghi
nhận trong Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của Việt Nam. Bản Hiến pháp công nhận
quyền được hưởng bảo hiểm xã hội của công nhân viên chức nhà nước, chăm sóc
những người già cả, người khuyết tật, trẻ em mồ côi. Truyền thống nhân ái, sẻ
chia, “lá lành đùm lá rách” được nhấn mạnh trong các hoạt động tập thể và sinh
hoạt cộng đồng. Ngay từ trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, ASXH đã
được quan tâm. Việc khám chữa bệnh, học hành, phân công việc làm được nhà
nước đảm bảo và dựa trên nguồn lực bao cấp. Bảo trợ xã hội trong giai đoạn này
tuy ở mức tối thiểu nhưng đã góp phần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội. Tuy nhiên, bước sang giai đoạn phát triển kinh tế thị trường, ASXH


theo mơ hình bao cấp khơng cịn phù hợp, địi hỏi huy động các nguồn lực trong xã
hội, với sự tham gia của những chủ thể ngoài nhà nước, cũng như nhận thức đầy đủ
hơn về sự vận hành bền vững của hệ thống an sinh trong dài hạn.
ASXH ngày nay được đảm bảo và trở thành quyền hiến định tại điều 34 của Hiến
pháp 2013: “Cơng dân có quyền được đảm bảo an sinh xã hội”. Chiến lược an sinh
xã hội giai đoạn 2011-2020 xác định: “An sinh xã hội là sự bảo đảm mà xã hội
cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ
chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước các nguy cơ, rủi ro có thể dẫn đến suy
giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế”(3). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIII của Đảng đã nêu rõ một trong những định hướng phát triển đất nước giai đoạn
2021-2030, đó là “Quản lý phát triển xã hội có hiệu quả, nghiêm minh, bảo đảm an

ninh xã hội, an ninh con người; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; quan tâm
đến mọi người dân, bảo đảm chính sách lao động, việc làm, thu nhập, thực hiện tốt
phúc lợi xã hội, an sinh xã hội. Khơng ngừng cải thiện tồn diện đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân”(4). Văn kiện Đại hội XIII của Đảng còn đề cập khá cụ
thể những vấn đề cần tiếp tục đổi mới như chính sách bảo hiểm thất nghiệp, giải
quyết việc làm cho lao động khu vực phi chính thức; thực hiện các biện pháp chính
sách về dinh dưỡng, an tồn thực phẩm,... Qua đó, xác định đúng vị trí, vai trị của
ASXH đối với sự phát triển đất nước, phù hợp với tình hình mới, là cơ sở và điều
kiện để người dân được thụ hưởng nhiều hơn thành quả tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam.
Có thể nói, Đảng và Nhà nước ta đã kịp thời ban hành các chủ trương, chiến lược
phù hợp, từng bước đáp ứng các nhu cầu an sinh như hỗ trợ việc làm, bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp xã hội, và các dịch vụ xã hội cơ
bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin, v.v...). Xã hội ngày càng phát triển,
đời sống con người càng trở nên phong phú, nhu cầu ASXH chưa được đáp ứng


của các tầng lớp dân cư trở nên đa dạng. Do đó, đối tượng thụ hưởng được mở
rộng cùng với việc nâng cao chất lượng dịch vụ công, hướng tới mục tiêu công
bằng cho tất cả mọi người. Công bằng xã hội vừa là mục đích, vừa là sự biểu hiện
tập trung nhất mục đích của ASXH, đó là thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của
con người, trợ giúp các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương nhằm tạo dựng bao trùm xã
hội.
3. Một số nội dung cơ bản của chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam
Chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH), là chính sách quan trọng nhất trong hệ thống
an sinh xã hội (ASXH) được xây dựng theo hai loại hình BHXH bắt buộc và
BHXH tự nguyện. Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu dựa vào sự đóng góp của
người sử dụng lao động, người lao động, tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư, tài trợ,
viện trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài và các nguồn thu hợp
pháp khác. Trong đó, Nhà nước đóng vai trị hỗ trợ một phần nguồn tài chính và

bảo trợ cho sự an tồn về tài chính của quỹ. Nhà nước có cơ chế, chính sách quản
lý, cho phép cơ quan BHXH được thực hiện các biện pháp bảo tồn và tăng trưởng
quỹ BHXH, nhằm bảo đảm việc thực hiện chính sách BHXH được ổn định lâu dài.
Chính sách bảo hiểm y tế (BHYT) với hai loại hình cơ bản là, BHYT bắt buộc và
BHYT được xác định đối tượng tham gia, mức đóng và mức chi trả chế độ. Quỹ
BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch và có sự phân cấp
quản lý trong hệ thống tổ chức BHYT. Chính phủ quy định cụ thể việc quản lý quỹ
BHYT; quyết định nguồn tài chính để bảo đảm việc khám, chữa bệnh BHYT trong
trường hợp mất cân đối thu – chi quỹ BHYT.
Chính sách ưu đãi xã hội là một “đặc thù” trong hệ thống chính sách ASXH của
Việt Nam. Nhà nước bố trí ngân sách để thực hiện chính sách ưu đãi xã hội và
khuyến khích mọi thành viên trong xã hội tham gia. Bên cạnh các chế độ ưu đãi
bằng vật chất cịn có các hình thức ưu đãi, như: giáo dục và đào tạo, việc làm, dạy


nghề, chăm sóc sức khỏe, xây nhà tình nghĩa, thăm hỏi, tặng quà vào các dịp lễ, tết,
ngày truyền thống…
Chính sách trợ giúp xã hội thiết lập nhằm trợ giúp kịp thời các thành viên trong xã
hội rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Đối tượng hưởng trợ giúp xã hội là người già cô
đơn, trẻ mồ côi, người tàn tật nặng, người gặp rủi ro do thiên tai và các lý do bất
khả kháng khác mà bản thân họ và người thân không thể tự khắc phục được.
Ở Việt Nam, chính sách trợ giúp xã hội cịn mở rộng thêm đối tượng thụ hưởng,
như: diện đói nghèo, tệ nạn xã hội, người tàn tật, trẻ mồ côi, trẻ em bị nhiễm chất
độc da cam… với nhiều hình thức trợ giúp, như: tiền mặt, hỗ trợ đào tạo nghề, tìm
kiếm việc làm, hỗ trợ kinh phí khám, chữa bệnh,… Ngồi nguồn tài chính được sử
dụng từ ngân sách nhà nước, Nhà nước cũng khuyến khích, huy động sự tham gia
đóng góp của cộng đồng và tài trợ của các tổ chức quốc tế.
Chính sách ASXH ln được Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện và bảo trợ về tài
chính để chính sách ASXH nhanh chóng đi vào cuộc sống. Nhiều văn bản pháp
luật được điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung, việc xác định đối tượng, chế độ, chính sách,

nguồn lực, cơ chế tổ chức, bộ máy triển khai thực hiện chính sách đã được quy
định cụ thể, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chính sách ASXH phù hợp
với tình hình phát triển kinh tế – xã hội, đáp ứng nhu cầu nguyện vọng của nhân
dân và quá trình hội nhập quốc tế.


CHƯƠNG 2: ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN SINH XÃ HỘI Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Thực trạng đổi mới quản lý nhà nước về an sinh xã hội
Chính sách ASXH luôn được Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện và bảo trợ về tài
chính để chính sách ASXH nhanh chóng đi vào cuộc sống. Nhiều văn bản pháp
luật được điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung, việc xác định đối tượng, chế độ, chính sách,
nguồn lực, cơ chế tổ chức, bộ máy triển khai thực hiện chính sách đã được quy
định cụ thể, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chính sách ASXH phù hợp
với tình hình phát triển kinh tế – xã hội, đáp ứng nhu cầu nguyện vọng của nhân
dân và quá trình hội nhập quốc tế.
Đẩy mạnh cơng tác cải cách hành chính, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát
việc tổ chức thực hiện chính sách trợ giúp xã hội.
Diện bao phủ được mở rộng, chất lượng cung cấp dịch vụ ASXH ngày càng nâng
cao, tạo cơ hội thuận lợi và bình đẳng cho các đối tượng tiếp nhận dịch vụ ASXH.
Thiết lập nhiều hình thức tiếp nhận các dịch vụ ASXH như, cấp thẻ BHYT cho đối
tượng trợ giúp xã hội, cấp sách vở, đồ dùng học tập, khi chết được hỗ trợ kinh phí
mai táng…
Đại hội lần thứ XIII của Đảng đặc biệt chú trọng tăng cường quản lý phát triển xã
hội bền vững, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong chính sách
xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người. Đại hội đề ra
định hướng: “Quản lý phát triển xã hội có hiệu quả, nghiêm minh, bảo đảm an sinh
xã hội, an ninh con người; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”; bảo đảm chính
sách lao động, việc làm, thu nhập, thực hiện tốt phúc lợi xã hội, an sinh xã hội. Đại
hội XIII cũng xác định phải “xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển

xã hội phù hợp, giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội”. Như vậy, quản lý an sinh


xã hội bền vững trên cơ sở phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao
phủ tồn dân với các chính sách phịng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho
người dân, bảo đảm trợ giúp xã hội cho các nhóm đối tượng yếu thế.
Là quốc gia đang phát triển, có thu nhập trung bình thấp, để thực hiện hiệu
quả quản lý nhà nước về an sinh xã hội bền vững, việc xây dựng chính phủ kiến
tạo và phát huy cao nhất vai trò của chính phủ kiến tạo là rất cấp thiết đối với Việt
Nam. Xây dựng chính phủ kiến tạo trong đổi mới quản lý nhà nước về an sinh xã
hội là bước chuyển mạnh từ chính phủ thực hiện chức năng quản lý là chính sang
chính phủ vừa là chủ thể quản lý, vừa là chủ thể phục vụ nhân dân. Trong xây
dựng chính phủ kiến tạo quản lý an sinh xã hội, vấn đề cơ bản là phải xác định rõ
vai trị của chính phủ và vai trị của thị trường, giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà
nước - thị trường - xã hội trong bảo đảm quyền an sinh xã hội của người dân.
Chính phủ quản lý, đóng vai trò chủ đạo, đồng thời sử dụng cơ chế thị trường phù
hợp và phát huy tinh thần tự an sinh của người dân, mở rộng sự tham gia của cộng
đồng, xã hội trong một thể chế “chính phủ nhỏ, xã hội lớn”. Đây chính là “phong
cách mới quản trị xã hội” của chính phủ kiến tạo quản lý phát triển an sinh xã hội
bền vững một cách dân chủ, văn minh. Xây dựng chính phủ kiến tạo quản lý phát
triển an sinh xã hội sẽ đạt yêu cầu kép là chính phủ mạnh và thị trường mạnh, vừa
phát huy vai trị, thế mạnh của chính phủ, vừa tăng cường vai trò, ưu thế của thị
trường trong đổi mới quản lý an sinh xã hội.
Đạt được những thành tựu trên, trước tiên, là do các văn bản pháp lý, chiến lược về
ASXH đã được sửa đổi phù hợp, bổ sung kịp thời, tạo hành lang pháp lý cho các
hoạt động ASXH phù hợp với thực tiễn đất nước và hội nhập quốc tế.
Hai là, chủ trương xã hội hóa hoạt động ASXH của Đảng và Nhà nước là động lực
quan trọng cho việc triển khai các chính sách ASXH thu được nhiều kết quả thiết
thực, bước đầu huy động được các nguồn lực trong xã hội. Xã hội hóa ASXH được



coi là một trong những giải pháp hữu hiệu, quan trọng, thu hút các thành phần kinh
tế, tập thể, cá nhân tham gia vào các hoạt động ASXH, xây dựng ý thức tương trợ,
cộng đồng trách nhiệm của toàn xã hội vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội,
tạo điều kiện cho thực thi chính sách ASXH hiệu quả, đồng bộ, mạnh mẽ, rộng
khắp. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân là tiền đề căn bản để góp phần thúc
đẩy việc hoàn thiện hệ thống ASXH theo hướng hiện đại.
Ba là, công nghệ kỹ thuật số nâng cao năng lực của Chính phủ trong việc cung cấp
dịch vụ xã hội và trao quyền cho người dân trong việc tiếp nhận dịch vụ. Qua đó,
cơ quan quản lý nhà nước có thể kiểm tra, giám sát, giúp người dân phản hồi
thường xuyên về chất lượng dịch vụ và hỗ trợ người dân trong đăng ký, hoàn thiện
hồ sơ giải quyết các chính sách, chế độ ASXH chính xác, kịp thời. Công nghệ số
giúp gắn kết sự tham gia của người dân cũng như cải thiện chất lượng cung cấp
dịch vụ xã hội, giúp các chương trình hỗ trợ xã hội hoạt động hiệu quả hơn, như
đăng ký, xác thực và chi trả cho người thụ hưởng; hỗ trợ những người khuyết tật
trong việc giao tiếp, tương tác, truy cập thông tin và tham gia vào các hoạt động
cộng đồng, xã hội. Trong lĩnh vực BHXH, BHYT, vấn đề chuyển đổi số được chú
trọng từ rất sớm, thể hiện qua tích hợp các phần mềm nghiệp vụ; thực hiện các dịch
vụ công trực tuyến cấp độ 3, cấp độ 4 trên Cổng Giao dịch BHXH điện tử của
BHXH Việt Nam cũng như trên Cổng Dịch vụ công quốc gia; phối hợp với ngân
hàng tạo hệ thống thanh toán điện tử q trình thu - chi, cung cấp những tiện ích để
đa kênh thanh tốn cho người bệnh có BHYT, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về
bảo hiểm; bảo đảm việc cập nhật khai thác và kết nối liên thông cơ sở dữ liệu quốc
gia với các bộ, ngành, địa phương để chia sẻ, sử dụng, phục vụ người dân... Bên
cạnh đó, việc xây dựng, vận hành hệ thống thơng tin giám định BHYT khơng chỉ
góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu suất công tác giám định BHYT, mà còn thúc đẩy


thay đổi quy trình khám, chữa bệnh tại cơ sở y tế, mang lại những hiệu quả thiết

thực cho người bệnh. Mới đây nhất, ngành BHXH đã đưa vào triển khai ứng dụng
“VssID - BHXH số” trên hệ thống điện thoại thông minh. Thông qua sản phẩm
thuộc hệ sinh thái chuyển đổi số của ngành BHXH, người dân, người lao động có
thể trực tiếp theo dõi, giám sát việc đóng BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp và
được cung cấp nhiều dịch vụ tiện ích, có thể thực hiện các giao dịch với cơ quan
BHXH tại bất cứ đâu và bất kỳ lúc nào.
Có thể thấy rằng, thành tựu về đổi mới quản lý ASXH trong thời kỳ chuyển đổi số
những năm qua rất đáng tự hào. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được
cũng còn tồn tại một số hạn chế:
Một là, tư duy quản lý về ASXH vẫn chưa theo kịp quá trình đổi mới đất nước, hội
nhập quốc tế và nền kinh tế số. Dấu ấn thời bao cấp với cơ chế “xin - cho”, hành
chính - mệnh lệnh, cửa quyền vẫn còn nặng nề. Các chủ trương, đường lối, chính
sách, kế hoạch phát triển ASXH phần lớn được xác định và xây dựng từ cấp vĩ mô
tỏa xuống cấp vi mô, chưa bám sát thực tiễn cơ sở; sự chủ động, thích ứng, nhạy
bén, sáng tạo trong quản lý, điều hành chưa được cải thiện. Thể chế ASXH còn
chậm đổi mới, thiếu đồng bộ; pháp luật về an sinh chưa hiệu quả. Một số văn bản
quản lý vừa được ban hành đã có những bất cập, đòi hỏi phải điều chỉnh, bổ sung.
Việc tổ chức thực thi các văn bản quy phạm pháp luật về ASXH còn yếu, nên
nhiều quy phạm pháp luật chưa thực sự đi vào cuộc sống. Nhận thức về ASXH
trong kỷ ngun số của các cấp, các ngành cịn mang tính hình thức, cứng nhắc.
Trên thực tế, vai trị, vị trí của ASXH chưa được đặt ngang tầm với nhiệm vụ phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phịng...
Hai là, trình độ khoa học - kỹ thuật, cơng nghệ của đất nước cũng như các nguồn
lực khác còn nhiều hạn chế. Kinh tế phát triển chưa ngang tầm với lợi thế, tiềm
năng, văn hóa - xã hội đang bị tác động bởi mặt trái nền kinh tế thị trường, toàn


cầu hóa và hội nhập quốc tế, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất
nước, trong đó có lĩnh vực ASXH.
Ba là, đội ngũ nguồn nhân lực làm trong lĩnh vực ASXH còn yếu, thiếu kỹ năng

chun mơn và quản lý, tính chun nghiệp chưa cao, đặc biệt là năng lực đổi mới
sáng tạo, ứng dụng cơng nghệ số vào quản lý, điều hành ASXH cịn hạn chế. Chất
lượng đội ngũ cán bộ quản lý các cấp về ASXH chưa theo kịp sự phát triển của đời
sống xã hội, còn tồn tại những biểu hiện quan liêu, xa dân; hoạch định chính sách,
hướng dẫn tổ chức thực hiện, xử lý các vụ, việc vi phạm pháp luật cịn lúng túng.
Bên cạnh nguồn lực tài chính cho ASXH còn hạn hẹp, mức độ hỗ trợ còn thấp thì
một bộ phận đối tượng thụ hưởng vẫn cịn ỷ lại, trơng chờ vào chính sách, sự hỗ
trợ của Nhà nước; việc phát huy tiềm năng và trách nhiệm xã hội của người dân,
doanh nghiệp trong lĩnh vực ASXH chưa được sâu rộng, tự giác.
Bốn là, chất lượng dịch vụ ASXH chưa cao, nhất là các dịch vụ bảo hiểm, y tế. Các
sản phẩm dịch vụ ASXH vẫn chưa thực sự sáng tạo, phong phú, chưa đáp ứng
được nhu cầu của nhân dân. Hệ thống ASXH chưa bao phủ hết các mặt, các lĩnh
vực, đối tượng tham gia còn hẹp. Tỷ lệ lực lượng lao động tham gia BHXH còn
thấp do các giải pháp mở rộng đối tượng chưa thật sự hiệu quả, đặc biệt là đối với
các đối tượng lao động ở khu vực kinh tế phi chính thức. Quỹ BHXH chưa bền
vững. Quy mô và chất lượng cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản chưa cao, nhất là tại
các vùng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Năm là, việc ứng dụng các tiến bộ công nghệ từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần
thứ tư có những tác động, thay đổi to lớn đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã
hội; con người được giải phóng khỏi những cơng việc địi hỏi hao phí sức lao động
cơ bắp, cơng việc nặng nhọc, những cơng việc giản đơn có tính lặp lại, cũng như
các công việc nội trợ, mở ra nhiều cơ hội để phát triển kinh tế tri thức, các hình
thức quản trị, quản lý công nghệ bậc cao, hiệu quả lớn... Tuy nhiên, ở nước ta hiện


nay, trong bối cảnh lao động giản đơn chiếm số đơng, tay nghề kỹ thuật chưa cao
thì đó cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp, đặc biệt
là lao động ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa; gia tăng khoảng cách thụ hưởng những
thành tựu của kỷ nguyên số giữa các vùng, miền, khu vực; giữa các tầng lớp nhân
dân. Bên cạnh đó, kết quả giảm nghèo chưa bền vững, bất bình đẳng tuyệt đối giữa

người giàu và người nghèo có xu hướng gia tăng; chênh lệch phát triển giữa các
vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp. Tỷ lệ hộ nghèo tập trung cao ở nhóm dân
tộc thiểu số. Văn hóa ứng xử trong quản lý, tinh thần, thái độ, trách nhiệm với cộng
đồng và đối tượng thụ hưởng ASXH còn nhiều bất cập. Khoảng cách thụ hưởng
ASXH giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng lớp nhân dân
chậm được rút ngắn.
2. Một số giải pháp thúc đẩy đổi mới quản lý nhà nước về an sinh xã hội
Việt Nam thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội theo hướng kết hợp hài
hòa giữa tăng trưởng kinh tế bao trùm và bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi
trường là một cơ hội lớn để phát triển an sinh xã hội bền vững. Song, q trình đó
sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro xã hội do cải cách thể chế, do mặt trái, khiếm
khuyết và trục trặc của cơ chế thị trường; sự phát triển không đồng đều giữa các
vùng vẫn tồn tại, nhất là giữa vùng đồng bằng với vùng miền núi, vùng sâu, vùng
xa; khủng hoảng kinh tế và tài chính khu vực, tồn cầu có nguy cơ xảy ra với
cường độ mạnh hơn, chu kỳ ngắn hơn sẽ tác động khơng nhỏ đến Việt Nam. Hơn
nữa, Việt Nam cịn phải đối mặt với cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường
khu vực và thế giới trong quá trình hội nhập quốc tế, vấn đề già hóa dân số nhanh
và biến đổi khí hậu tồn cầu mà Việt Nam là một trong 5 nước bị ảnh hưởng mạnh
nhất... cũng là những thách thức lớn mà Việt Nam phải vượt qua trong quản lý nhà
nước về an sinh xã hội. Do đó, cần phải xây dựng, thực hiện đồng bộ hệ thống các
giải pháp sau:


Thứ nhất, tạo chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức đến hành động và tổ chức triển
khai, phát triển hệ thống ASXH theo Quyết định số 794/QĐ-TTg, ngày 3-6-2020,
của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến
năm 2025, định hướng đến năm 2030”, nhằm chuyển đổi số thành công trong lĩnh
vực y tế; đưa chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà
nước trong lĩnh vực ASXH thành chương trình hành động của tất cả các bộ, ngành,
địa phương một cách thực chất, hiệu quả. Tăng cường hơn nữa nhận thức về vai trị

và vị trí của ASXH trong chuỗi động lực phát triển đất nước, phát triển kinh tế - xã
hội, văn hóa và mơi trường, hợp tác quốc tế. An sinh xã hội phải trở thành khâu đột
phá chiến lược trong mơ hình phát triển bền vững của đất nước giai đoạn 2021 2026 và những năm tiếp theo, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại
biểu tồn quốc lần thứ XIII của Đảng. Cơng tác giáo dục, tuyên truyền chính sách
ASXH trên các phương tiện truyền thông đại chúng cần chủ động, sáng tạo, bám
sát thực tiễn xã hội, trong đó cân nhắc đến yếu tố tác động của các phương tiện
truyền thông mới.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế ASXH trong kỷ nguyên số nhằm tạo ra mạng lưới
ASXH đa dạng, phong phú, sát hợp thực tiễn, phù hợp thơng lệ quốc tế. Hồn thiện
pháp luật an sinh số, hành lang pháp lý, thúc đẩy mọi tổ chức, cá nhân, doanh
nghiệp trong và ngoài nước tham gia vào phát triển ASXH. Thúc đẩy sự phát triển
của công nghiệp an sinh hay công nghệ an sinh như một giải pháp để phát triển hệ
thống ASXH hiệu quả. Thiết kế lại chính sách ASXH gắn với đào tạo nguồn nhân
lực, tăng độ bao phủ, đặc biệt là lao động trong lĩnh vực kinh tế phi chính thức
trong bối cảnh thích ứng linh hoạt với tình hình mới và tương lai kỷ nguyên số.
Tạo cơ chế thúc đẩy hệ thống ASXH mạnh về nguồn lực, bao phủ toàn diện, an
toàn, hiệu quả với cơ chế Nhà nước - doanh nghiệp - người dân cùng đồng hành,


đổi mới, kiến tạo và phát triển. Phát huy tính sáng tạo, chủ động của các chủ thể an
sinh trong đóng góp và thụ hưởng.
Thứ ba, đẩy mạnh các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động
chuyển đổi số trong lĩnh vực ASXH nhằm công khai, minh bạch ASXH của những
chủ thể có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ được giao, nhanh chóng phát hiện để
kịp thời xử lý và điều chỉnh đúng theo các quy định của pháp luật.
Thứ tư, ứng dụng các công nghệ mới trong quan trắc xã hội, sinh trắc, căn cước
công dân kỹ thuật số; chi trả, đóng nộp, thụ hưởng với sự hỗ trợ của các công cụ
công nghệ thông tin, nghe nhìn, internet trong các phần mềm quản lý dữ liệu và
chia sẻ dữ liệu, tiến tới xây dựng mã số định danh ASXH duy nhất trong thực thi
chính sách ASXH, tạo sự thống nhất và thuận lợi trong việc quản lý, tiếp cận phát

triển, cũng như hỗ trợ các đối tượng cần thụ hưởng. Tăng cường nguồn lực tài
chính đầu tư phục vụ cho quá trình chuyển đổi số hóa ASXH từ Trung ương đến
địa phương, đặc biệt là cấp huyện, cấp xã khi chưa có đầy đủ các cơ sở vật chất kỹ
thuật, công nghệ cần thiết để phục vụ cho số hóa hệ thống ASXH.
Thứ năm, phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động cung cấp dịch vụ xã hội, an
sinh xã hội. Hệ thống cung cấp dịch vụ xã hội, an sinh xã hội, như dịch vụ việc
làm, dịch vụ chăm sóc xã hội các đối tượng bảo trợ xã hội, dịch vụ xã hội cơ bản (y
tế, giáo dục, văn hóa, thơng tin, pháp lý...), dịch vụ công tác xã hội cần phát triển
theo hướng chuyên nghiệp và tự chủ. Coi trọng chăm sóc đối tượng tại cộng đồng
và mở rộng khu vực ngoài nhà nước (các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ,
doanh nghiệp...) tham gia trên cơ sở vận dụng cơ chế thị trường theo quy định của
pháp luật, sự ủy thác, đặt hàng của Nhà nước gắn với bảo đảm chất lượng dịch vụ
và nâng cao tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ
phát triển các cơ sở này đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân, nhất là
chính sách hỗ trợ về đất đai xây dựng mặt bằng, mua sắm các trang thiết bị của các


cơ sở cơng lập và ngồi cơng lập; chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, phát triển
kỹ năng nghề nghiệp nhân lực cơng tác xã hội; chính sách tiền lương, tơn vinh
nghề cơng tác xã hội; chính sách về khung giá dịch vụ công tác xã hội sát với thị
trường để các cơ sở cung cấp dịch vụ an sinh xã hội có thể tự chủ và phát triển;
chính sách về ủy thác của Nhà nước thông qua ký kết hợp đồng cung cấp dịch vụ
công về an sinh xã hội, thông qua hoạt động công tác xã hội chuyên nghiệp...


KẾT LUẬN
Hệ thống an sinh xã hội trong tình hình mới cần định hướng rõ mục tiêu phát triển
vì con người, coi trọng bao trùm xã hội, thay đổi căn bản nhận thức về vị trí, vai
trị của cộng đồng, doanh nghiệp, khu vực tư nhân trong các trụ cột an sinh, giảm
bớt gánh nặng bao cấp của nhà nước và hội nhập sâu hơn với quốc tế.

Mặc dù an sinh xã hội là một trong những trụ cột cơ bản của hệ thống chính sách
xã hội ở Việt Nam được Đảng và Nhà nước ta quan tâm xây dựng, song sau 35
năm đổi mới hệ thống quản lý an sinh vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội.
Các chính sách tuy được ban hành nhiều, song thiếu đồng bộ, và chưa đến tay đối
tượng cần hỗ trợ khi triển khai trên thực tế. Chất lượng các dịch vụ cơng cịn thấp,
các biện pháp an sinh nhằm khắc phục khó khăn trong điều kiện bất thường, như
đại dịch Covid-19, cịn chậm trễ, chưa đảm bảo cơng bằng, bao trùm và bền vững.
Đối mới quản lý nhà nước về an sinh xã hội trong tình hình mới cần định hướng rõ
mục tiêu phát triển vì con người, coi trọng bao trùm xã hội, thay đổi căn bản nhận
thức về vị trí, vai trị của cộng đồng, doanh nghiệp, khu vực tư nhân trong các trụ
cột an sinh, giảm bớt gánh nặng bao cấp của nhà nước và hội nhập sâu hơn với
quốc tế.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. World Bank. 2008. The Growth Report: Strategies for sustained growth and
inclusive development. Washington D.C.
2. Đặng Nguyên Anh: An sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và đề xuất mơ hình
giải pháp, Tạp chí Xã hội học, số 1, H, 2013
3. Ban cán sự Đảng Chính phủ: Chiến lược an sinh xã hội giai đoạn 2011-2020, H,
2010
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ
XIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2021.
5. Văn kiện Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự
thật, Hà Nội, 2021
6. Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hịa. Vấn đề dân sinh và xã hội
hài hòa.H. NXB Khoa học xã hội, 2010




×