Triết học
Chương 1: Triết học và vai trò của triết học trong đời sống xã hội
I. Triết học và các phương pháp nghiên cứu của triết học
1. Khái niệm triết học và điều kiện ra đời của triết học.
1.1. Khái niệm:Triết học là hệ thống tri thức tổng quát bao quát về toàn bộ thế giới (về tự nhiên, xã hội, tư duy) và về vị trí
của con người trong thế giới.
1.2. Điều kiện ra đời của triết học:
- Về nhận thức: Triết học ra đời khi năng lực nhận thức, năng lực tư duy trìu tượng của con người đã phát triển đến
mức cho phép hình dung thế giới trong tính tổng thể của nó, trong sự thống nhất của nó và cho phép khái quát bức tranh
tổng quát, bao quát về thế giới qua hệ thống biểu đạt là ngôn ngữ.
- Về xã hội:Xã hội chiếm hữu nô lệ cùng với sự phân công lao động xã hội và chun mơn hố hoạt động đã làm xuất
hiện nhóm người lao động trí óc chun tìm hiểu suy tư về thế giới, chuyên đặt ra các câu hỏi có tính bao quát, tổng quát về
thế giới, họ là các triết gia.
2. Các phương pháp nghiên cứu của triết học.
Để nghiên cứu thế giới, triết học sử dụng phương pháp nắm bắt toàn bộtổng thể thế giới bằng thao tác như: trực giác
và suy luận, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, trừu tượng hoá và khái qt hố để xây dựng hệ thống lý luận của
nó.
2.1. Phương pháp siêu hình:Là phương pháp nhận thức dựa trên quan điểm siêu hình về thế giới, dựa trên quan niệm về
tính bất biến, tính ổn định của các sự vật, hiện tượng, dựa trên quan điểm tuyệt đối hoá tính ổn định tương đối của các sự
vật hiện tượng.
Nội dung của phương pháp siêu hình:
-Nghiên cứu thế giới trong trạng thái cô lập tách biệt, không liên hệ, không ràng buộc, không phụ thuộc, không tác
động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau.
-Nghiên cứu thế giới trong sự đồng nhất tuyệt đối, không bao gồm, không chứa đựng các yếu tố bộ phận của q trình
có khuynh hướng đối lập nhau.
-Nghiên cứu thế giới trong trạng thái nhất thành bất biến, tĩnh tại ngưng trệ. Thế giới trong sự ổn định khẳng định,
không vận động, không biến đổi, không chuyển hoá.
-Nghiên cứu thế giới trong sự phân hoá, chia cắt riêng biệt, trong những giới hạn cụ thể mô tả phân loại các sự vật,
hiện tượng như những thực thể đơn nhất tạo ra những đường ranh tuyệt đối giữa chúng.
2.2. Phương pháp biện chứng: Là phương pháp nhận thức dựa trên cơ sở lý luận, là các quan điểm biện chứng về thế giới
và trên cơ sở phương pháp luận của phép biện chứng, dựa trên quan điểm của tính biến đổi, chuyển hố của các sự vật,
hiện tượng.
Nội dung của phương pháp biện chứng:
-Nghiên cứu thế giới trong mối liên hệ ràng buộc quy định phụ thuộc lẫn nhau trong sự tác động qua lại và ảnh hưởng
lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng.
-Nghiên cứu thế giới trong sự thống nhất đấu tranh và chuyển hoá của các mặt đối lập tồn tại bên trong sự vật, hiện
tượng, trong cấu trúc khách quan của sự vật, hiện tượng.
-Nghiên cứu thế giới trong trạng thái vận động, biến đổi, chuyển hố khơng ngừng trong sự phát triển tất yếu của nó.
-Nghiên cứu thế giới trong tính đa dạng phong phú, trong sự biểu hiện muôn màu, muôn vẻ, thấy được cái chung, cái
tất yếu của sự vật, hiện tượng.
II. Vai trò của triết học trong đời sống xã hội
1.Chức năng nhận thức của Triết học.
-Chức năng thế giới quan: Triết học là lý luận về thế giới, nhiệm vụ của triết học là nhận thức, nắm bắt khái qt tồn
bộ tổng thể thế giới thơng qua việc cắt nghĩa, giải thích nguồn gốc sự tồn tại bản chất và khuynh hướng vận động của thế
giới bao gồm tự nhiên, xã hội và con người.
-Chức năng phương pháp luận: Triết học là lý luận về phương pháp từ hệ thống tri thức, lý luận tổng quát, những
nguyên tắc, những biện pháp, những con đường được rút ra để áp dụng cho nhận thức, chohoạt động thực tiễn của con
người.
2.Chức năng giáo dục của triết học: Triết học trang bị cho con người sự hiểu biết về bức tranh tồn cục tổng thể của thế
giới thơng qua hệ thống tri thức lý luận của nó, thơng qua các khái niệm, phạm trù, quy luật của nó. Triết học giúp con người
nắm bắt được yếu tính căn bản của vạn vật vạn sự, làm thoả mãn nhu cầu hiểu biết của con người về thế giới, tạo lập lòng
tin vào lý trí, tri thức khoa học với tính cách là khôn ngoan. Từ tri thức trong thế giới quan triết học chỉ đạo thái độ sống, hành
vi hành động của con người dù nhận thức được hay không nhận thức được, dù tự giác vận dụng hay không tự giác vận
dụng người ta luôn luôn bị một thế giới quan về phương pháp luận triết học nhất định chi phối, vấn đề là chúng ta bị chi phối
bởi thế giới quan, phương pháp luận triết học nào và đời sống của chúng ta sẽ thế nào khi bị thế giới quan, phương pháp
luận đó chi phối mà thơi.
3.Chức năng thẩm mỹ: Triết học dẫn đường con người vào thế giới của cái đẹp. Cái đẹp của triết học là cái đẹp về tầm vóc
tri thức về đặc tính của ngơn ngữ, về phương pháp biện luận và phản biện và gợi mở vấn đề, kết thúc vấn đề. Triết học đưa
con người đến chân - thiện - mỹ và giúp con người hướng thượng, giúp con người sống nhân văn, nhân bản hơn.
1
Chương 2: Mối liên hệ giữa triết học và các khoa học
I. Cây phả hệ triết học
1.Vẽ sơ đồ cây phả hệ triết học
2.Tổng quát lý thuyết về cây phả hệ triết học
- Thế kỷ XVII do yêu cầu phát triển sản xuất tri thức khoa học phải được thực nghiệm, thực chứng làm cho các nhánh
nghiên cứu củacái vũ trụ vật chất toàn bộ của nền triết học tự nhiên phải đi sâu hơn nữa vào cái bộ phận riêng lẻ của cái vũ
trụ tồn thể đó.
- Qua thế kỷ XVIII một loạt các khoa học như: cơ học, vật lý học, hoá học, sinh vật học, v.v … đã chính thức xuất hiện
và tuyên bố tách khỏi nền triết học tự nhiên làm hình thành nên cây phả hệ triết học.Trong đó triết học là ơng tổ và các khoa
học khác là các hậu duệ, chi phái.
- Theo “Đề-các” toàn thể triết học giống như một cái cây, cội rễ là xiêu hình học, thân cây là vật lý học và những cành
từ thân cây đó mà ra là tất cả các ngành khoa học khác được quy về 3 ngành chính là y học, cơ học, đạo đức học”.
- Sự xuất hiện của triết học Mác-Lênin vào những năm 40 của thế kỷ XIX đã chấm dứt hồn tồn vai trị của triết học
tự nhiên, chấm dứt cao vọng coi triết học là các khoa học, đứng trên tất cả các khoa học.
II. Quan hệ tương hỗ giữa triết học và các khoa học
1. Vai trò của triết học với các khoa học
-Triết học là cơ sở lý luận, là thế giới quan và phương pháp luận định hướng nghiên cứu cho các khoa học.Thế giới
quan và phương pháp luận triết học quyết định, tác động, ảnh hưởng đến tiến trình nghiên cứu của các khoa học, các khoa
học ln ln triển khai q trình nghiên cứu của mình bằng một căn cứ lý luận triết học nhật định, và thế giới quan, phương
pháp luận của căn cứ lý luận triết học đó quyết định tiến trình nghiên cứu và hiệu quả nghiên cứu của các khoa học.
-Triết học có thể tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy các khoa học phát triển, hoặc có thể cản trở gây khó khăn, làm chậm
bước tiến của các khoa học. Triết học tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy các khoa học phát triển khi thế giới quan và phương
pháp luận triết học của người nghiên cứu phù hợp với đối tượng, với sự vật hiện tượng được nghiên cứu. Triết học kìm hãm
làm chậm bước tiến của các khoa học khi thế giới quan và phương pháp luận triết học và tiền đề triết học của nghiên cứu sai
lầm, không phù hợp với sự vật hiện tượng được nghiên cứu.Sự phát triển nhanh hay chậm của các khoa học như thế nào
luôn luôn phụ thuộc vào thế giới quan và phương pháp luận triết học của người nghiên cứu.
-Triết học đi trước các khoa học mở lối, dẫn đường các khoa học làm bà đỡ giải quyết những bế tắc mà các khoa học
gặp phải, về mặt lý luận bằng tầm vóc khái quát và phương pháp luận phản chiếu khoa học của nó, triết học tiên đốn, dự
báo xu hướng vận động chung của các khoa học, bổ sung, bổ túc tri thức cho các nghiên cứu khoa học của các khoa học và
kết nối các thành tựu nghiên cứu khoa học của các khoa học luôn ln bám sát các khoa học.
2. Vai trị của các khoa học đối với triết học
-Khoa học cung cấp chất liệu cho triết học, sinh hoạt khoa học, những thành tựu nghiên cứu của các khoa học là nguồn
dữ liệu để triết học tổng kết, khái quát nên hệ thống tri thức lý luận của nó. Những nghiên cứu, những kết luận, những chân
lý khoa học và toàn bộ hệ thống tri thức khoa học là nguồn dữ liệu dẫn triết học đến những khái quát, những quan niệm tổng
quát về bức tranh chung của thế giới.
+Tình trạng nghiên cứu của các khoa học, hệ thống tri thức thu lượm được của các khoa khoa học luôn được phản
chiếu trong triết học, luôn luôn để lại những dấu ấn nhất định lên thế giới quan triết học.
-Khoa học đặt ra những vấn đề mới cho triết học, sự phát triển của khoa học luôn luôn làm nảy sinh những vấn đề mới
bắt buộc triết học phải giải quyết. Triết học luôn phải suy tư trên nền tảng là những thành tựu nghiên cứu của các khoa học,
phải bắt đầu từ những nghiên cứu của các khoa học.
+ Triết học phát triển do tổng hợp động lực của thực tiễn của sự phát triển của các khoa học và của logic nội tại của triết
học vì vậy mỗi khi có một phát minh khoa học vạch thời đại triết học phải suy tư, động não về giá trị tri thức thuần tuý và giá
trị thực tiễn của nó đối với đời sống con người.
2
Chương III. Triết học Mác-Lênin
I. Vị trí của triết học Mác-Lênin trong triết học phương tây
1. Thời gian và không gian hình thành
- Triết học Mác-Lênin có hai giai đoạn: giai đoạn hình thành xác lập tạo dựng và giai đoạn kế thừa phát huy phát triển.
+ Giai đoạn hình thành xác lập tạo dựng: diễn ra vào những năm 40 của thế kỷ XIX ở nước Đức, và 2 triết gia đặt nền
móng là Các Mác (1818-1883) và Ph.Ăng-ghen 1820-1895.
+ Giai đoạn kế thừa, phát huy, phát triển: diễn ra vào những năm cuối thế kỷ XIX và những năm đầu thế kỷ XX ở nước
Nga do Lê-nin (1870-1924) thực hiện
2. Về trình độ, chất lượng: Triết học Mác-Lênin là sự kế tục dòng chảy triết học của người phương tây kể từ nền triết học
đầu tiên là nền triết học Hy Lạp, nó là sự tiếp nối tinh hoa tư tưởng triết học của các nước phương tây và đỉnh cao trí tuệ xét
về mặt thế giới quan duy vật và phép biện chứng tại thời kỳ đó.
3. Vai trị ảnh hưởng: Triết học Mác-Lênin đóng vai trị như là “lăng kính” nhận thức và khái quát thế giới trong bối cảnh
nước Đức vào những năm 40 của thế kỷ XIX và những năm đầu thế kỷ XX. Ngay thời gian đó, triết học Mác-Lênin đã ảnh
hưởng ra bên ngoài khỏi nước Đức và nước Nga sang các châu lục khác và đóng góp vào sự phát triển của triết học
phương Tây nói riêng và triết học nhân loại nói chung.
II. Cấu trúc lý luận của triết học Mác-Lênin
1. Cấu trúc tổng quát:
Triết học Mác-Lênin = ∑ (phép biện chứng duy vật, lý luận về nhận thức, logic học)
2. Cấu trúc bộ phận:
- Phép biện chứng duy vật = ∑ biện chứng khách quan
+ Biện chứng khách quan = ∑ (biện chứng của tự nhiên, biện chứng của xã hội)
* Biện chứng của tự nhiên = ∑ (2 nguyên lý PBCDV, 3 quy luật PBCDV, 6 cặp phạm trù của PBCDV)
* Biện chứng của xã hội = ∑ (những nguyên lý xuất phát, những quy luật của xã hội)
- Lý luận về nhận thức = ∑ biện chứng chủ quan
+ Biện chứng chủ quan = ∑ (lý luận về nhận thức, lý luận về thực tiễn, lý luận về chân lý)
- Logic học = ∑ (logic hình thức, logic biện chứng)
+ Logic hình thức = ∑ (luật đồng nhất, luật cấm mâu thuẫn, luật loại trừ cái thứ 3, luật lý do đầy đủ)
+ Logic biện chứng = ∑ (nguyên tắc phản ánh, nguyên tắc liên hệ, nguyên tắc nhân quả, nguyên tắc phát triển).
III. Vai trò của Triết học Mác-Lênin đối với các khoa học
1.Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với các khoa học:
- Thế giới quan duy vật biện chứng là cơ sở lý luận triết học của các khoa học và q trình nghiên cứu của các khoa
học, nó là căn cứ lý luận triết học khoa học, định hướng đúng cho quá trình nghiên cứu và phát triển của các khoa học, tác
động và ảnh hưởng tích cực đến q trình nghiên cứu của các khoa học, nó tạo lập, duy trì và củng cố niềm tin khoa học của
các nhà khoa học vào khả năng nhận thức, khả năng khám phá, phát hiện và hiểu biết đúng bản chất của thế giới.
- Thế giới quan duy vật biện chứng mở đường cho các khoa học phát triển, nó dự báo xu hướng chung cho các khoa
học, gợi mở những vấn đề nghiên cứu cho các khoa học, bổ sung tri thức cho các khoa học, tiên đoán sự phát triển có tính
xác xuất của các lý thuyếtkhoa học chuyên ngành. Nó thống nhất được các tri thức khoa học chuyên ngành và xây dựng hệ
thống tri thức tổng quát, khái quát và bao quát toàn bộ thế giới, làm cho các khoa học thấy rõ mối liên hệ mật thiết và vai trò
tác dụng của tri thức tổng quát và tri thức chuyên ngành.
2. Vai trò của phép biện chứng duy vật đối với các khoa học
- Phép biện chứng duy vật là công cụ nhận thức đúng đắn giúp các khoa học và các nhà khoa học định hướng quá
trình nghiên cứu của các khoa học và các nhà khoa học. Nó giúp các khoa học xác định được về đại thể con đường nghiên
cứu, phương hướng đặt vấn đề, cách giải quyết vấn đề tránh được những lầm lạc hay mò mẫm trong nghiên cứu của chúng.
- Phép biện chứng duy vật là cơ sở lý luận triết học khoa học cho việc xây dựng các lý thuyết khoa học và giải thích
thành tựu nghiên cứu của các khoa học, nó là cơ sở lý luận đúng đắn cho các khoa học, kiến thiết xây dựng lý thuyết khoa
học của chúng, nó giúp các khoa học phương pháp luận đúng đắn để phân tích các tài liệu, dữ liệu khoa học một cách khách
quan khoa học.
- Phép biện chứng duy vật là cơ sở lý luận triết học khoa học giúp các khoa học giải quyết những vấn đề triết học nảy
sinh trong quá trình nghiên cứu khoa học của chính các khoa học,nó cung cấp phương pháp luận đúng đắn để các khoa học
tìm ra lời giải đáp và các giải pháp phù hợp để giải quyết các vấn đề chuyên ngành.
- Phép biện chứng duy vật là công cụ lý luận triết học khoa học giúp các khoa học vận dụng tư duy lý luận thích hợp
trong nghiên cứu chun ngành của mình, nó giúp các khoa học cách thức, phương pháp vận dụng khái niệm để đi sâu vào
đối tượng nghiên cứu và khái quát các tầng bậc, cấp độ, bản chất của sự vật một cách khoa học thích hợp.
3
CHƯƠNG IV. TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG
PHẦN I. TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
I. Những đặc điểm cơ bản của triết học Trung Quốc cổ đại.
1. Thời gian và nguồn gốc hình thành
1.1. Thời gian hình thành
- Triết học trung quốc cổ đại được hình thành vào thời kỳ chế độ xã hội chiếm hữu nô lệ tan rã để chuyển sang chế độ
phong kiến, thời tiên Tần (trước thời nhà Tần)và phát triển nở rộ vào thời xuân thu(771-476 TCN), thời chiến quốc (476-221
TCN). Sự hình thành của triết học Trung Quốc cổ đại tương đương với sự hình thành, xuất hiện của triết học Hy Lạp ở
Phương Tây. Các triết gia và học thuyết triết học của Trung quốc đều xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI - TK IV TCN, tương
đương với sự hình thành xuất hiện của các triết gia, các học thuyết triết học Hi lạp cổ đại.
1.2. Nguồn gốc hình thành
- Chu dịch (hay kinh dịch) là cội nguồn tư tưởng lý luận của các học thuyết, các trường phái triết học TQ cổ đại, chu
dịch là trụ cột tinh thần tư tưởng làm khởi phát và hình thành nên các học phái triết học về sau của TQ. Chu dịch là ông tổ tư
tưởng, và các học phái triết học về sau chỉ là hậu duệ của nó.
- Các tư tưởng nguyên gốc của vũ trụ, về quy luật biến hóa của vũ trụ và các định hướng ứng xử của con người, của
sách Chu dịch là nền tảng là cơ sở lý luận xuất phát của các học phái triết học TQ, chúng là nền tảng, trên đó dựng lên các
lâu đài, các tòa nhà triết học khác. Trong chu dịch, biểu đồ mô tả vũ trụ được đưa ra và hệ thống các quẻ vạch mô tả quy luật
của vũ trụ và đường hướng ứng xử của con người, các học phái triết học về sau chỉ là sự triển khai, mở rộng và làm phong
phú thêm những tư tưởng cơ bản của chu dịch.
2. Về tầm vóc tư tưởng
- Triết học TQ là nền triết học đồ sộ, uyên bác và độc đáo, phong phú đa dạng về học phái, phân phái và các chủ đề
bản luận, các học phái triết học của TQ vừa độc lập, vừa đan xen lẫn nhau, vừa kế thừa vừa phê phán lẫn nhau.Các chủ đề
triết học được đưa ra bàn luận rất phong phú từ bản thể luận, nhận thức luận, logic học đến chính trị - xã hội, phương cách
cai trị thiên hạ đến đạo đức, luân lý làm người.
- Triết học TQ đã khái quát, xây dựng 1 hệ thống các cặp phạm trù đặc sắc, điển hình phản ánh sự vận động biến hóa
của thái cực với tư cách là đạo của vũ trụ làm nên sự độc đáo của nó, tự tạo tiến hóa thành ra thiên đạo và nhân đạo.
+ Thiên đạo với các cặp phạm trù như: âm - dương, thường - biến, động - tĩnh, biến - hóa, thể - dung, vơ - hữu, tán tụ, hình - thần, nhất - nhị, lý- khí.
+ Nhân đạo có các cặp phạm trù như: tâm - tính, tính - tình, nhân - nghĩa, danh - thực, nghĩa - lợi, công - tư, thiện - ác,
tri - hành, năng - sở, lý - thế.
+ Nho học với các phạm trù như: nhân - nghĩa - lễ - trí - tín là một đóng góp độc đáo của triết học TQ vào việc kiến
thiết đời sống nhân tính của nhân loại.
3. Về khuynh hướng chủ đạo
- Triết học TQ là triết học chính trị-đạo đức, các học thuyết triết học cổ truyềnvà các học thuyết triết học về sau (tân
phái) luôn ln tập trung bàn nhiều về chính trị - đạo đức, bàn về cách thức quản trị xã hội, cách thức duy trì ổn định trật tự
xã hội, làm cho thiên hạ thái bình.
- Triết học TQ là triết học nhập thế, triết học trực diện, hiện sinh cùng thời đại thời cuộc, chăn trở thao thức với thời
đại, thời cuộc, với những vấn đề thời sự của thời đại, thời cuộc.
- Triết học TQ luôn luôn chăn trở với các câu hỏi con đường nào, giải pháp nào làm cho thiên hạ thái bình, nhà nhà
yên vui, hạnh phúc. Triết học TQ luôn luôn “ưu thời mẫn thế” (lo lắng việc đời, thương đời) gắn chặt với thời đại, thời cuộc và
chăn trở tìm kiếm các con đường, các giải pháp để ổn định xã hội nhưng mỗi học phái đưa ra một con đường khác nhau và
kêu gọi thiên hạ đi theo con đường của mình.
+Nho gia, mặc gia chủ trương đức trị (cai trị bằng đạo đức),
+ Đạo gia chủ trương về vi thuận theo tự nhiên không cần luật pháp.
+Pháp gia chủ trương pháp luật thưởng phạt nghiêm minh.
Các học phái triết học như trăm hoa đua nở khoe sắc khoe màu và các triết gia ln ln tin tưởng vào học thuyết của
mình và thuyết phục thiên hạ đi theo học thuyết của mình để thiên hạ thái bình.
4. Phong cách tư duy – lập luận
-Thấm nhuần chu dịch các học phái triết học và các triết gia của triết học TQ cổ đại thường dùng lời, tượng, truyện để
mô tả đối tượng, để gợi mở tư tưởng để diễn đạt phổ truyền tư tưởng.
- Các hệ thống triết học của TQ cổ đại xét đến cùng đều là những hệ thống nhất nguyên, họ siêu việt lên sự đối lập,
đối đãi nhị nguyên để nắm bắt chân lý tồn cục tổng thể chứ khơng đứng về một bên để tuyên ngôn chân lý.
- Các học phái triết học không lý luận theo phong cách nhị nguyên duy vật, duy tâm, phải trái, trắng đen rạch rịi, đã
khẳng định thì khơng phủ định mà họ vượt lên mọi đối lập nhị nguyên để tư duy khuynh hướng của họ là đi tìm cái đồng
nhất, cái bao trùm,nên tư duy của người TQ thường lập lờ, nước đôi vừa mâu thuẫn vừa bao trùm vừa hư hư thực thực.
- Triết học TQ thường dùng hình tượng để khêu gợi, dẫn dụ người khác mà khơng nói thẳng vào vấn đề, thường dùng
chân ngơn, ngụ ngơn có tính chất hình tượng để diễn đạt tư tưởng tạo nên sự thâm trầm, sâu xa, vơ biên đó là cách diễn đạt
4
“Đạt ý quên lời”,“ý ở ngoài lời” mở ra sự suy ngẫm, do đó để hiểu sâu triết học TQ phải “ăn mía bỏ bã”, “vắt chanh bỏ vỏ”
mới phát hiện ra triết lý hàm tàng (chứa ẩn) ẩn chứa bên trong các hệ thống triết học của triết học TQ cổ đại.
II. Học thuyết âm - dương.
1. Nguồn gốc của thế giới
- Thái cực là khởi nguồn của thế giới. Thái cực là một nguyên khí, một thứ khí tinh ngun, tinh dịng, một thứ khí “linh
căn, bất diệt” vơ cùng huyền diệu, là một thứ khí “tiên thiên” có trước trời đất vạn vật, là nguyên thuỷ và đầu mối của toàn bộ
vũ trụ, vạn vật, vạn sự là khởi đầu của mọi sự “sinh sinh hoá hoá” của vũ trụ vạn vật, vạn sự. Thái cực được biểu trưng bằng
một hình trịn trống khơng.
- Sự vận động của thái cực: Thái cực tự vận động tạo ra lưỡng nghi là 2 thế lực âm và dương, lưỡng nghi vận động
tạo ra tứ tượng là thiếu dương, thái dương, thiếu âm và thái âm. Tứ tượng vận động tạo ra bát quái gồm: kiền (càn), đoài, ly,
chấn, tốn, khảm, cấn và khôn.
- Âm dương tương diện, tương phản nhưng khơng tương khắc và ơm ngồm lẫn nhau, khơng tách rời nhau, âm là
điều kiện của dương và dương là điều kiện của âm. Âm dương tuy 2 mà 1, tuy 1 mà 2, là một lẽ bất nhị vì cùng được bao
chứa trong thái cực và vì trong âm có dương, trong dương có âm.
+ Thiếu dương là giai đoạn khí dương đi ra từ khí âm, là giai đoạn hình thành, thái dương là giai đoạn phát triển cực
độ, thịnh vượng. Thiếu âm là giai đoạn khí âm đi ra từ khí dương, là giai đoạn suy giảm, suy yếu, Thái âm là giai đoạn khí âm
huỷ diệt, sụp đổ.
+ Bát quái hay tám quẻ biểu đạt các phương diện khác nhau của vũ trụ, vạn vật, vạn sự.
* Kiệt (Càn): trời, vật hình trịn, vật cứng, cây ăn quả, gương soi màu đỏ hung, cha, ông già, quý quan, châu báu và
hướng tây bắc.
* Đoài: đầm, ao, hồ, đồ vật bị sứt mẻ, có miệng, cái chổi, con dê, thiếu nữ, vợ lẽ, cái lưỡi, người ở, phù thuỷ và hướng
chính tây.
* Ly: lửa, mặt trời, ráng trời, cây khơ, màu đỏ hồng, tía, con trai (sò), con rùa, trung nữ, con cua, con mắt, hướng chính
nam.
* Chấn: sấm, cỏ cây, cây lớn, củi, xanh biếc, rồng, rắn, lồi sâu bọ, ngựa hí, móng chân thú, ngón chân cái, cái trán,
trưởng nam, hướng chính đơng.
* Tốn: gió, vật thẳng, bách thảo, cối đá, mùi thơm, mùi thối, cành lá, cái quạt, trưởng nữ, tăng ni, hướng đông nam.
* Khảm: nước, mưa đá, mặt trăng, bụi gai, nóc nhà, con chồn, con cáo, muối, rượu, màu đen, kẻ trộm, cái tai, huyết,
trung nam, hướng chính bắc.
* Cấn: núi, đất, đường đi tắt, vật làm bằng gỗ, trái cây, chuột, hổ, thiếu nam, ngón chân, sống mũi, hướng đông bắc.
* Khôn: đất, đồ gốm, đồ sành sứ, vật hình vng, sắc vàng, sắc đen, gạo, trâu bị, mẹ, bà già, văn chương, sách vở,
hướng tây nam.
2. Các luật tắc của âm dương và luật tắc của vạn vật, vạn sự
a. Các luật tắc của âm dương
- Luật tương diện - tương phản: âm dương cùng hiện hữu đồng đẳng với nhau, đối diện nhau, tương phản nhau
nhưng không tách rời nhau. Âm dương liên kết gắn liền với nhau là điều kiện của nhau. Âm có thì dương có, dương có thì
âm có, tất cả cùng có.
- Luật tương cầu- tương ứng: âm dương đối nhau, tìm nhau, hỏi đáp nhau, đồng vọng nhau, trông mong nhau.
- Luật tương giao - tương thành: âm dương gặp nhau, hướng vào nhau, cuốn hút nhau, say mê nhau, xô đẩy nhau.
- Luật tướng xứng - tương ma: âm dương đối xứng nhau, cọ xát nhau, thay thế nhau, bổ túc nhau, giúp nhau cùng
hoàn thành, âm dương dưỡng sinh nhau.
- Luật tiêu - trưởng: dương trưởng âm tiêu, âm trưởng dương tiêu, dương thịnh âm suy, dương tụ âm tán, âm tụ
dương tán, dương không vĩnh viễn dương, âm không vĩnh viễn âm, dương đến âm đi, âm đến dương đi, âm dương luôn nối
tiếp nhau, đắp đổi nhau miên viễn.
b. Các luật tắc của vạn vật, vạn sự
-Luật tích tiệm: vạn vật, vạn sự theo luật tắc của âm dương biến đổi dần dần, từ từ, lần lần, biến đổi có trình tự, có trật
tự, có lớp lam, từng bước, rồi biến mạnh và đột biến.
-Luật phản phục: vạn vật, vạn sự biến đổi thuận nghịch, biến đổi đến cùng cực rồi quay trở lại cái khởi đầu, cái xuất
phát ban đầu, rồi lại tiếp tục biến đổi đến cùng cực, lại phản phục cái ban đầu niên viễn, trường cửu, vô tận.
5
-Luật qn bình: vạn vật, vạn sử biến hố trong trạng thái cân bằng không thái quá không bất cập, cái thái quá sẽ trở
lại đúng mức, cái bất cập sẽ trở nên đủ đầy, cái thiếu sẽ được bù, cái thừa sẽ bị bớt, cái đầy quá sẽ vơi đi, cái khuyết hãm
sẽ được bù đắp.
3. Kết cấu của thế giới
Cấu trúc âm dương của vũ trụ ngoại giới:
Lưỡng nghi
1.Các vật biểu
Âm
Trái đất, mặt trăng, bóng tối, ban đêm,
màu đen, mềm, nặng, đi xuống, chua,
mặn, đắng
2. Các mùa, lịch
Mùa thu, mùa đông
pháp
Cácthiên can: ất, đinh, kỷ, tân, quý.
Các địa chi; tý, dần, thìn, ngọ, thân, tuất
3. Các can số
Các số chẵn: 2, 4, 6, 8, 10 thuộc số
ngẫu, số đất
Cấu trúc âm dương của con người:
Âm
1. Phái tính
2. Hình thể
3. Tính cách
Gái, nữ, đàn bà
Từ bụng trở xuống, mặt sau cơ thể, cằm,
lòng bàn tay, lòng bàn chân, mặu sau
cẳng chân, chân trái, mắt trái, tai trái
Tiểu nhân, nhỏ mọn, vụn vặt, chi ly, thu
mình, nhỏ nhẹ, kín đáo
4. Nội tạng
Ngũ tạng: gan, phổi, tim, thận, tì (lá lách)
5. Đời người
Từ sau 30 tuổi, bần tiện, khổ đau
Dương
Trời, mặt trời, ánh sáng, ban ngày, màu
trắng, nóng, nhẹ, cứng, đi lên, cay, ngọt,
nhạt.
Mùa xuân, mùa hạ
Các thiên can: giáp, bính, mậu, canh, nhâm
Các địa chi: sửu, mão, tỵ, mùi, dậu, hợi
Các số lẻ: 1, 3, 5, 7, 9 thuộc số cơ, số trời
Dương
Trai, nam, đàn ông
Từ ngực trở lên, mặt trước cơ thể, trán,
mu bàn tay, mu bàn chân, mặt trước
cẳng chân, chân phải, mắt phải, tai phải
Quân tử, hào phóng, rộng lượng,
khống đạt, cởi mở, lớn tiếng, ồn ào,
phơ bày
Lục phủ: dạ dày, mật, ruột non, ruột già,
bàng quang, tam tiêu
Từ sơ sinh đến 30 tuổi, phú quý, hạnh
phúc
4. Bản dạng của thế giới
- Âm dương là biến, là động và cũng là bất biến, bất động, âm dương biến trong cái bất biến, bất động và bất biến bất
động trong cái biến cái động. Bản dạng của âm dương vì vậy là biến mà chẳng biến, chẳng biến mà biến, động mà chẳng
động, chẳng động mà động, là trạng thái thường hằng, liên biến, lương cữu, hằng cửu (lâu dài hoài).
- Do biến mà chẳng biến, chẳng biến mà biến mà vạn vật, vạn sự đang luôn luôn là và luôn luôn là bản dạng của vạn
vật vạn sự, đang luôn luôn chưa xong, đang luôn luôn chưa thành, đang luôn luôn trở nên, đang luôn luôn trở thành, vạn vật
vạn sự đang đi tới, miền viễn, cái gì đang chưa xong chưa thành, đang dang dở mới là cái đang sống đang tràn trề sinh khí.
III. Dịch học và thuật ứng xử của con người.
1. Dịch học
1.1. Lược khảo về sự hình thành của kinh dịch
- Kinh dịch là một quyển sách “uyên áo”, huyền diệu đứng đầu về mặt vị trí trong hệ thống ngũ kinh của TQ cổ đại, là
bộ sách triết học “uyên áo” làm cơ sở cho các học phái triết học khác về sau.
+ Vua Phục Hy (4477-4463 TCN) là ông tổ đầu tiên của kinh dịch. Vua Phục Hy lập ra Hà Đồ và tiên thiên bát quái
+ Đời nhà Hạ (2205-1766 TCN) vua Đại Vũ lập ra Lạc thư, cửu trù. 1000 năm sau Chu Văn Vương đời nhà Chu lập ra
hậu thiên bát quái và thoán từ.
+ Khổng Tử (551-479 TCN) san định (tập hợp ghi chép lại) và viết thập dực bằng giọng ý nghĩa của kinh dịch.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của dịch học
- Hà đồ: là bức đồ sông Hà do vua Phục Hy thiết lập
6
- Tiên thiên bát quái là tám quẻ có trước trời đất được biểu đạt bằng các vạch liền (-) và các vạch đứt (- -), đó là: càn,
khơn, ly, khảm, cấn, đoài, chấn, tốn.
- Hậu thiên bát quái là tám quẻ do Chu Văn Vương lập ra
- Lạc thư là bức đồ sông Lạc do vua Đại Vũ đặt ra
- Thoán: là tổng quát nghĩa của một quẻ, quẻ đơn hoặc quẻ kép, là lời ở ngay dưới quẻ.
- Tượng: là hình tượng, tượng trưng của một quẻ
- Thái cực: là trạng thái ban đầu của đại tự nhiên khi trời đất, âm dương hỗn độn chưa phân, Thái cực được tượng
trưng bằng 1 hình trịn trống rỗng.
- Lưỡng nghi: là 2 thế lực âm và dương đối lập nhau tồn tại bên trong thái cực, nảy sinh khi thái cức vận động, là 2 thế
lực lớn được tượng trưng bằng hai phần đen và trắng và bằng vạch đứt (- -) vạch liền (-)
- Tứ tượng: là bốn thế lực lớn thiếu dương, thái dương, thiếu âm, thái âm, biểu đạt bốn trạng thái chưa đủ đầy và đủ
đầy và biểu trưng bằng các vạch
- Bát quái: là 8 quẻ đơn ban đầu (hình minh hoạ)
- Đơn quái: là các quẻ đơn ban đầu gồm 3 vạch liền hoặc 3 vạch đứt
7
- Trùng quái: là các quẻ kép do các quẻ đơn chồng lên nhau gồm 6 vạch hoặc liền hoặc đứt.
- Nội quái (quẻ trong, quẻ dưới): là các đơn quái ở phía dưới của một quẻ đơn khác khi các đơn quái chồng lên nhau
thành trùng quái
- Ngoại quái (quẻ ngồi, quẻ trên): là quẻ ở phía trên của quẻ đơn khác khi quẻ đơn chồng lên nhau thành trùng quái
- Ý nghĩa của các Hào: Hào là các các vạch liền (-) hay vạch đứt (- -) trong một đơn quái hay một trùng quái. Hào có
bản thể (âm hay dương), tính cách và vị trí của nó có thời vị trung chính của nó.
- Hào từ: là lời của từng hào của 64 quẻ.
- Cát hung, hối lậu, vô cửu: cát là tốt lành; hung là xấu, tồi tệ hại; hối là lỗi, ăn năn; lậu là lỗi nhỏ; vơ cửu là khơng có lỗi
hay lỗi khơng thuộc về ai cả.
- Tứ đức: là bốn đức căn bản: nguyên, hanh, lợi, trinh. Nguyên là đứng đầu 1 điều tốt; hanh là hội tụ của điều hay; Lợi
là hoà với nghĩa; Trinh là thạo với việc
2. Dịch học đối với con người
2.1. Dịch học đối với dự đoán học
-Dự đoán học là khoa học dự báo từ dịch học hình thành nên các phân khoa của dự báo học như kỳ mơn độn giáp, lục
nhâm thần tốn, thiết bảng thần số, bát tự hà lạc, tử vi.
2.2. Dịch học với phong thủy, xây dựng kiến trúc
- Từ dịch học ngành phong thủy học với việc xây dựng kiến trúc hình thành phát triển, ngành học này được áp dụng
vào đời sống thành dương trạch, âm trạch với tầm long điểm huyệt, lập hướng
3.3. Dịch học với thuật ứng xử của con người
- Thời, vị, trung, chính:
+ Thời là thời gian, thời vận, là diễn biến là trình tự của sự vật gồm thời thành, thời thịnh, thời suy, thời hủy, thời bên
trong và thời bên ngoài
* Thời thành là sự vật manh nha, khởi phát, ló dạng, phát lộ và khẳng định dần
* Thời thịnh là thời vững chắc, kiến cố, ổn định, mạnh mẽ
* Thời suy là thời yếu dần, tàn tạ, hư hao, khơng cịn liên kết chặt chẽ.
* Thời hủy là thời tiêu biến, tiêu hủy, bị phá vỡ và chấm dứt
* Thời bên trong là thời của cấu trúc bên trong của mỗi vật.
* Thời bên ngoài là thời cấu trúc và diễn biến của các sự vật ở bên ngoài mỗi vật.
+ Vị là khơng gian, nơi trốn, hồn cảnh, vị trí, vị thế của vạn vật, vạn sự. Vạn vật vạn sự có khơng gian nơi chốn hồn
cảnh vị trí vị thế của nó, có dương vị và âm vị …
+ Trung là ở giữa, trung tâm, trung ương là nơi từ đó đi ra, tỏa ra và hội tụ về, là cái trọng tâm trọng lực làm cho âm
dương không rời nhau và cần đến nhau
+ Chính là cân bằng, khơng nghiêng lệch, không thiên lệch, không nghiêng ngả, là mực thước giữa 2 chiều thuận
nghịch của sự biến đổi thăng giáng, xô đẩy, lấn áp, lấn lướt.
- Ứng xử của thánh nhân, người quân tử, bậc thức giả
+ Phải nắm được thời vị trung chính của sự vật, phải theo thời, tùy thời mà hành động, theo thời, tùy thời mà bng,
mà chống. Thời nên làm thì làm, thời nên nghỉ thì nghỉ, chưa đến lúc phải làm mà làm là thái quá, đã đến lúc phải làm mà
không làm hoặc làm chậm trễ là bất cập, làm phải hợp thời, đúng thời.
+ Thánh nhân, người quân tử, bậc thức giả phải biết giữ thế cân bằng giữa hai chiều thuận nghịch, không thái quá,
không bất cập, phải tùy cơ ứng biến cho thích hợp với hồn cảnh, biết tiến thối, tồn vong, nhanh chậm, cương nhu, khơn
dại đúng lúc, biết hành động một cách nhanh chóng, mau lẹ thích hợp với hoàn cảnh bất thường.
8
Phần II. TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ
I. Những đặc điểm cơ bản của triết học Ấn Độ cổ đại
1. Thời gian và nguồn gốc hình thành
1.1. Thời gian hình thành
- Triết học Ấn độ cổ đại hình thành, xuất hiện vào thời tối cổ xa xăm của nền văn minh nhân loại trước cả nền triết học
thành văn của phương Tây, châu Âu hàng nghìn năm, là nền triết học xuất hiện sớm nhất và là nền triết học đầu tiên của triết
học nhân loại.
- Theo Osho hơn 10.000 năm trước đã có hàng vạn người đạt đến đỉnh cao trí tuệ, sự thông thái của họ, tinh ba của
họ đã hun đúc cho Ấn Độ có được một nền tảng triết học, thiên văn học, đạo lý rất thâm sâu.
1.2. Nguồn gốc hình thành
- Veda và Upanishad là cơ sở lý luận, là cội nguồn tư tưởng của mọi hệ thống triết học, mọi học phái triết học Ấn độ, là
“quyền lực tinh thần tối cao”, tạo thành diễn biến tinh thần của triết học ấn độ. Các nguyên lý tư tưởng trong các bộ kinh này
vừa có tính cách tơn giáo, vừa có tính cách triết học. Tơn giáo vừa là triết học, triết học vừa là tôn giáo. Tôn giáo đồng nhất
với triết học và triết học đồng nhất với tôn giáo, cả hai cùng song hành cùng triển khai. Veda và Upanishad là ngôi đền tổ của
các ngôi đền tri thức triết học - tôn giáo của Ấn độ.
2. Khuynh hướng nhận thức nghiên cứu
-Triết học hướng nội, triết học tâm linh: Triết học Ấn độ chủ trương đào sâu nội giới con người, tìm tịi, vén mở nội
tâm con người, chủ trương tìm kiếm cái bản ngã chân thật nơi nội tâm con người bị che lấp trong tận cùng của ý thức của
con người, chủ trương thể nhập tận cùng nội tâm con người để chứng đắc cái thực tại tuyệt đối ẩn khuất, chìm sâu trong bản
thân mỗi người.
-Triết học suy tưởng, triết học phân tử: triết học Ấn độ chủ trương khám phá cái thực tại bên trong con người để
ngộ chứng chân lý, nó đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để phân tích mổ xẻ để nhận diện nội giới con người và đạt
đến sự hiểu biết sâu sắc về cái tâm, cái thức, về cái tinh thần của con người. Triết học là cuộc hành trình khám phá nội giới
con người bởi chính con người, là q trình thể nhập của con người vào chính mình. Triết học là sự phản tư của con người
đối với chính mình.
3. Tầm vóc tri thức của triết học Ấn độ
-Tháp ngà tri thức: triết học ấn độ là tháp ngà tri thức đồ sộ vững chắcvề nền móng tạo dựng, chặt chẽ về khung
sườn kết cấu và lung linh huyền ảo về linh hồn tư tưởng.
-Tháp ngà trí tuệ: Tồn bộ tri thức trong tháp ngà của triết học ấn độ biểu đạt ở tầm cao trí tuệ con người, trí tuệ đó
gồm rất nhiều lĩnh vực: vật lý học, siêu hình học, tâm lý học, đạo đức, thi ca, sử thi.
4. Giá trị tri thức của triết học ấn độ
4.1. Triết học bảo tồn, triết học phát huy
- Triết học Ấn độ có ý thức mãnh liệt về việc bảo vệ giữ gìn các giá trị triết học truyền thống, các giá trị đã hình thành
xuất hiện trong lịch sử, nó luôn luôn chủ trương đào sâu và triển khai ý nghĩa của những chân lý triết học cổ truyền, tài bồi
xây đắp cho lâu đài triết học đã có từ ngàn xưa, bảo vệ giữ gìn những di sản tư tưởng triết học, những chân lý triết học trong
quá khứ, nó ln ln chủ trương nối dài và mở rộng các chân lý triết học mà các cổ nhân đã tạo dựng, làm sáng tỏ hơn
những chân lý đã được tổng kết.
- Các học thuyết triết học luôn luôn được giữ gìn bảo tồn phát huy, chúng được duy trì như một nền móng kiên cố cho
tịa nhà triết học tổng quát của Ấn Độ và được đặt ngang hàng nhau về mặt giá trị tri thức, chúng luôn luôn được nâng niu
trân trọng.
4.2 Triết học nhân văn, nhân bản
- Triết học Ấn Độ ln ln tìm kiếm các đường hướng và các phương tiện để diệt khổ và giải phóng con người, ln
ln lấy việc giải phóng con người làm mục đích tối cao để hướng tới, nó ln ln đề đề cập tới một kế hoạch sống tồn
diện, vạch ra một cứu cánh (mục đích) cho con người, coi giải phóng con người là mục đích tối hâu. Triết học là đạo sống,
nghệ thuật sống hơn là triết lý, lý luận.
- Triết học Ấn độ đặt lên hàng đầu những nguyên tắc, luân lý và kêu gọi con người tự ý thức, tự khép mình vào các
nguyên tắc đạo đức, ngõ hầu (với mục đích) thực hiện được việc diệt khổ và giải phóng con người. Triết học Ấn Độ là triết
học đạo đức thực nghiệm.
II. Bản thể luận hay học thuyết về bản thể của triết học phật giáo.
1. Nguồn gốc của thế giới:
- Vạn vật vạn sự trên thế gian là duyên khởi là nhân duyên và quả, là kết nối hội hợp của và do nhân-duyên-quả.
+ Nhân: là cái từ đó tạo tác ra, phát tác ra, cái từ đó gây ra, từ đó đưa đường và từ đó đưa đến, cái làm bệ đỡ cho các
tiến trình khởi lên và diễn biến. (Có 6 nhân)
+ Duyên: là tập hợp các điều kiện trợ lực giúp sức cho nhân phát huy, phát tác làm cho nhân hành động là các căn cứ
đóng vai trị là các điểm tựa để nhân tựa vào và phát khởi là cái tựa khởi, là quan hệ tựa khởi của nhân. Theo phật giáo có
24 duyên trong đó có những duyên cơ bản như: nhân duyên, tăng thượng duyên, đẳng vơ gián dun…
+ Quả: là hình thái biểu hiện của nhân và duyên, là cái trổ ra bằng hình dạng, tướng trạng, màu sắc tiến trình, độ lâu
bền chóng vánh, có 3 loại quả: quả hiện tại, quả sau hiện tại và quả vô hạn. Quả hiện tại là quả trổ sinh ngay hiện tại; quả
9
sau hiện tại là quả trổ sinh ngay sau hiện tại, có thể trong 1 tiến trình thời gian xác định; quả vô hạn là quả trổ sinh không
nhất định lúc nào.
-Vạn vật vạn sự trên thế gian đều tương duyên với nhau, đều nương tựa vào nhau mà sinh thành, khởi phát, khơng có
sự vật hiện tượng nào tự mình sinh ra mình, tự mình tồn tại độc lập, tách biệt với các sự vật hiện tượng khác, tất cả đều
tương duyên, tương thuộc với nhau do tương duyên tương thuộc mà cái này có nên cái kia có, cái kia có nên cái này có, cái
này hiện hữu nên cái kia hiện hữu, do tương duyên tương thuộc mà cái này là cái này, cái kia là cái kia, cái kia là cái kia do
cái này là cái này. Tất cả đều ràng buộc nhau, quy định nhau, liên hệ mật thiết với nhau.
- Vạn vật vạn sự tương duyên với nhau mà hình thành, khởi phát, biểu lộ nên vạn vật vừa là nhân vừa là quả trong
tương quan nhân dun, mỗi vật vừa đóng vai trị là nhân vừa đóng vai trị là quả, là nhân trong quan hệ này nhưng là quả
trong quan hệ kia, là quả trong quan hệ này nhưng là nhân trong quan hệ kia, vũ trụ là tổ hợp của nguyên nhân và kết quả, là
một màn lưới đan bện liên hệ mật thiết với nhau của những nguyên nhân và kết quả, khơng có ngun nhân đầu tiên và
khơng có kết quả cuối cùng. Thế giới là vô cùng tận.
2. Kết cấu của thế giới
- Thế giới là tổng thể của các loại tồn tại của những bộ phận hợp thành, có hình dạng tướng trạng, có vị trí phân bố
khác nhau, có tương liên với nhau nhưng khơng có biên giới, khơng có tận cùng. Thế giới khơng có lúc bắt đầu, khơng có lúc
kết thúc. Về tổng thể thế giới bao gồm các tiểu thiên, trung thiên và đại thiên. Một tiểu thiên thế giới bằng 1.000 thế giới, một
trung thiên thế giới bằng 1.000 tiểu thiên thế giới, 1 đại thiên thế giới bằng 1.000 trung thiên thế giới. Các tiểu thiên, trung
thiên và đại thiên thế giới cũng là tập hợp trong mình chúng các sinh vật hiện tượng, các hình dạng tướng trạng khác nhau.
- Các cõi sống của thế giới:
+ Cõi dục giới: Là cõi giới của các chúng sinh được tạo lập từ các vật chất thơ hoặc siêu vi có đời sống thân xác luôn
luôn bị chi phối bởi nhu cầu thân xác, sống và hành động vì thân xác. Cõi giới này gồm các tầng bậc sau đây:
* Địa ngục: là cõi giới của các chúng sinh đã làm nhiều việc ác độc bất lương trong nhiều đời, nhiều kiếp trong quá
khứ như sát sinh, giết người, giết cha mẹ, giết tăng sỹ, tham lam và mưu hại người.
* Ngạ quỷ: Là cõi giới của các lồi quỷ đói khát có hình dạng xấu xí, bụng to miệng bé, mình đầy lông, do nghiệp quả
của sự keo kiệt, ganh tự, gen gét, tức tối tích chữ cho mình và hại người.
* Súc sinh: Là cõi giới của các loài thú vật do nghiệp quả của các hành vi xấu, của các đời sống trước đó, do khơng
chịu tu sửa, khơng chịu học tập, không chịu thay đổi, không tự cải tạo và do bảo thủ, huân tập, kết tập.
* A tu la: Là cõi giới của các hung thần có tính cách kiêu ngạo, tự tôn, hay gây gỗ và đánh nhau, có lịng tham khơng
đáy, ln ln hận thù, dối trá và thích hãm hại, nam hung thần có thân hình xấu xí, nữ hung thần có thân hình rất đẹp.
* Người: Là cõi giới của lồi người, có cảm giác, có ý thức. Gồm các lưu vực: Đơng thắng thân châu, Tây ngưu hóa,
Nam thiện bội châu và bắc câu lơ châu.
* Trời: Bao gồm các cõi đó là tha hóa, tự tại, là cõi giới của chúng sinh có đạo đức tuyết đối, có tuổi thọ 16 nghìn năm
cõi trời.
# Hóa lạc thiên: Là cõi giới hạnh phúc viên mãn tuyệt đối các chúng sinh ở đây có năng lực tạo tác, có thể dùng ý nghĩ
để tạo ra các tiện nghi sinh hoạt theo ý muốn, có tuổi thọ 8.000 năm coi trời.
# Đâu suất thiên: Là cõi giới hạnh phúc tràn trề ít lo nghĩ của các bồ tát, họ sống tận thiện tu tập, có thể thành phật
nhưng vẫn có ý nghĩ tái sinh để giúp các chúng sinh khác thấp hơn mình, có tuổi thọ 4.000 năm coi trời.
# Dạ ma thiên: Là cõi giới khơng có thiên tai địch họa, tai nạn, khơng còn những đau khổ lớn nhưng vẫn còn những
đau khổtinh tế, tuổi thọ 2.000 năm cõi trời.
# Đạo lợi thiên: Là cõi giới của các chúng sinh có tâm thuần thiện đã làm nhiều việc thiện trong các cuộc đời trước,
tuổi thọ 1.000 năm cõi trời.
+ Sắc giới là cõi giới của các loài trời, gồm các chúng sinh đã thốt khỏi mọi lịng dục nhưng vẫn cịn sắc thân, nhưng
sắc thân của loài trời ở đây rất đẹp và có tuổi thọ cao, các cõi trời của sắc giới được phân chia tương ứng với 4 cấp thiền
của sắc giới: Sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền.
+ Vơ sắc giới là cõi giới khơng có màu sắc và hình sắc vật chất, chỉ cịn tinh thần thuần túy và những chúng sinh
khơng cịn lịng dục, chúng sinh là những thực thể tinh thần thuần túy.
+ Không vô biên sứ là cõi giới mà trong đó mọi hiện hữu vật chất đều khơng cịn, hành giả trong trạng thái tự nhiên vô
hạn, tuyệt đối không vướng vào sắc chất của dục giới và sắc giới khơng cịn những ý tưởng hiện hữu, thọ 20.000 đại kiếp.
+ Thức vô biên sứ là cõi giới trong đó khơng cịn hiện hữu mọi biên giới nào nữa, hành giả vượt thoát khỏi mọi tri thức
hay sở tri chướng, cõi này thọ 40.000 đại kiếp.
+ Vô sở hữu sứ là cõi giới hành giả khơng cịn bị dính mắc vào mọi đối tượng, tâm ý, cõi giới này có tuổi thọ 60.000
đại kiếp.
+ Phi tưởng phi phi tưởng xứ là cõi giới trong đó vượt thốt các điều kiện hay tình trạng của suy nghĩ và không suy
nghĩ của ý thức, chủ động hay không ý thức và chứng đắc được mọi cõi giới, có tuổi thọ 80.000 đại kiếp.
3. Bản dạng của thế giới
- Thế giới có tận cùng và gồm nhiều cõi giới khác nhau nhưng toàn bộ thế giới đó là một thực thể thống nhất của hai
thế giới là: Thế giới hiện tượng và thế giới bản thể (thế giới chân như), hai thế giới này tương duyên, tương thuộc, tương liên
với nhau. Thế giới này có thì thế giới kia có, thế giới kia có thì thế giới này có, cả hai cùng tồn tại biểu hiện.
10
- Thế giới hiện tượng là thế giới biểu hiện của những vật có hình dạng tướng trạng màu sắc có sinh, trụ, dị, diệt, có
thành, trụ, hoại, khơng, thế giới này vơ ngã, vơ thường có mà khơng thật, có hiện hữu mà khơng thật hiện hữu, tồn tại mà
không thật tồn tại chỉ là giả tồn. Tất cả chỉ là chốc lát, chỉ là thời vụ, chỉ là giai đoạn, là quá độ, đến rồi đi, tất cả đều không
vững bền, không chắc chắn, không vĩnh cửu.
- Thế giới chân như là thế giới không sinh không diệt, không đến không đi, không thường không đoạn, không tương lai
khơng q khứ, khơng thêm khơng bớt, khơng ít khơng nhiều, khơng lớn khơng bé, khơng trong khơng ngồi, khơng trên
khơng dưới, khơng có cũng khơng khơng, thế giới này là thế giới nguyên bản.
- Thế giới hiện tượng là thế giới tương đối, thế giới có sinh có diệt, có trường có đoạn, thế giới bản thể là thế giới tuyệt
đối, cả hai tương duyên với nhau, tuy là hai nhưng mà là một, vì chúng tương duyên với nhau và hiện hữu trong nhau, do
tương duyên mà thế giới này có thế giới kia có, thế giới kia có thì thế giới này có, cùng một lúc cái này là cái kia và cái kia là
cái này.
III. Nhân sinh luận hay học thuyết về nhân sinh của triết học phật giáo.
1. Nguồn gốc bản thể của con người.
- Con người không phải là vật thụ tạo, không phải là ân điển hay ân sủng của một đấng sáng tạo tối cao, tồn trí tồn
năng nào, khơng phải là sản phẩm của một ý đồ, một kế hoạch của một đấng tạo dựng nhiệm màu nào, không phải là một
lập trình của một bản thiết kế đến từ một đấng siêu nhiên tồn tại bên ngoài thế giới và chỉ huy thế giới, không phải là sản
phẩm để vâng lệnh và phục tùng đấng sáng tạo và chỉ huy đó.
- Con người là hợp thể của năm thành tố gọi là ngủ uẩn vật chất và tinh thần gồm: Sắc, thọ, tưởng, thành, thức. Sắc
uẩn là các yếu tố vật chất gồm: địa (chất rắn), thủy (chất lỏng), hỏa (nhiệt), phong (chất khí), hợp thể của các vật chất này
tạo lên phần thân xác hình tướng gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, cơ thể, thọ, tưởng, thành, thức là các uẩn tinh thần, hợp thể của
chúng tạo nên dòng cảm giác tri giác tâm lý và ý thức của con người khi đủ duyên, khi các duyên hội hợp với nhau các uẩn
kết hợp lại tạo thành con người và sự có mặt của con người, khi khơng đủ dun, khi duyên không kết hợp với nhau các uẩn
tan rã và con người khơng có mặt, con người tàn hoại.
- Con người là tổ hợp, là hợp phần của các uẩn nên con người khơng có tự ngã, tự tính, khơng phải tự có tự tồn, con
người vơ ngã về mặt cấu tạo và vô thường về mặt tồn tại, về mặt cấu tạo con người chỉ là liên kết của các uẩn, về mặt tồn tại
con người không vững bền, khơng chắc chắn vì phụ thuộc vào các uẩn cho nên con người có nhưng khơng thật có, sự có
mặt của nó chỉ là tạm thời chốc lát và rất mong manh. Phụ thuộc vào các uẩn và là hợp phần của các uẩn nên khơng có cái
tơi như một thực thể trường tồn, bất biến, khơng có con người bất biến, bất khả, hư hoại.
- Con người nếu hiện hữu, nếu có mặt thì chỉ là một hình thái biểu hiện của một thực thể sống trong nhiều hình thái
sống khác trong vũ trụ, nó có thể có nó có thể khơng, có thể hiện diện có thể vắng mặt, nó có thể chuyển đổi hình thái có mặt
trong dòng luân lưu của các dòng sống, của các thực thể sống khác, nó là một hình thái của một giai đoạn nào đó trong các
cõi giới sống của ln hồi lục đạo, nó khơng sinh ra một lần rồi chết đi “tuyệt hậu tái tô”, không sinh ra nữa, khơng trở lại nữa,
khơng có mặt nữa, cái chết chỉ tạm thời làm cho con người vắng mặt tạm thời khơng hiện diện. Con người nếu khơng là nó
nữa, khơng có mặt nữa thì sẽ hiện diện dưới một dạng thức sống khác ở một cõi giới khác của luân hồi lục đạo.
2. Tứ diệu đế
- Khổ đế: Là chân lý về sự khổ, vạn vật vạn sự đều vơ ngã vơ thường, đều khơng có bản tính độc lập trường tồn mà
đều là cấu hợp giả tạm của các thực thể giả tạm, tất cả đều là giả tồn, giả tạm, đều mong manh tạm bợ, đều không bền
vững, không chắc chắn, con người là cấu hợp giả tạm của các uẩn giả tạm nên sự thực tồn của con người chỉ ngắn ngủi,
chớp nhống, vì vậy làm người là khổ, đời sống con người là khổ, sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, sở cầu
bất đắc khổ, oán tăng hội khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ.
- Tập đế: Là nguyên nhân của khổ, nguyên nhân gây ra sự khổ là do nhận thức sai lầm và vọng tưởng của con người
về “bản lai diện mục” của vạn vật neo đậu chấp thư vào nhận thức đó dẫn đến dục vọng và đến lượt nó dục vọng chói buộc
chúng sinh khơng ra khỏi nó. Tham, sân, si, mạn, nghi, tà, kiến.
- Diệt đế: Là nhận thức để diệt khổ, là lần theo thập nhị nhân duyên để nhận thức, để hiểu rõ tiến trình nhân quả đã
tạo lên luân hồi kiếp sống khổ đau như thế nào, là nhận thức vai trò tạo tác đưa đường của vô minh ái dục, của sinh tử để
chấm dứt chúng và chuyển hướng nhận thức minh triết, nhận chất được bản lai diện mục của vạn vật vạn sự của chính con
người.
- Đạo đế: Là con đường chấm dứt khổ, đó là con đường diệt trừ nhận thức sai lầm vô minh, diệt trừ dục vọng chấm
dứt sự khổ luân hồi, con đường đó là bát chính đạo (8 con đường chân chính).
3. Thập nhị nhân duyên
- Vô minh: Là trạng thái hiểu biết mù mờ, không sáng rõ, không tỏ tường, không chắc chắn, không biết đích xác chân
tướng thật của vạn vật vạn sự và bám víu vào, chắp chặt vào, neo đậu vào, ẩn trú kiên cố vào trạng thái hiểu biết mù mờ
khơng sáng rõ, khơng tỏ tường, khơng chắc chắn đó.
- Hành: Là vận trình tạo dựng nghiệp lực và nhận lãnh nghiệp quả của chúng sinh, được thực hiện qua vận hành của
những suy nghĩ, quan niệm, qua miệng lưỡi, lời nói, qua thân thể hành động. Vận trình nhận lãnh nghiệp quả là vận trình trổ
quả và thọ nhận thụ hưởng các kết quả đã trổ đó.
- Thức: Là toàn bộ nhận thức, toàn bộ hiểu biết, toàn bộ tri thức phân biệt của chúng sinh bao gồm: Nhãn thức (cái
biết của con mắt); Nhĩ thức (cái biết của tai); Tỷ thức (cái biết của mũi); Thiệt thức (cái biết của lưỡi); Thân thức (cái biết của
cơ thể); Ý thức (cái biết của tâm).
11
- Danh - Sắc: Là tổ hợp của phần tâm lý, phần tinh thần, phần vơ hình, phần sinh lý, phần thể xác cùng hiện hữu tạo
thành cơ thể chúng sinh, danh thuộc về phần tâm lý, sắc thuộc về phần sinh lý cùng khởi phát trong cõi dục giới và sắc giới.
Danh - sắc cùng khởi phát trong một kiếp sống.
- Lục sứ: Là 6 giác quan và 6 đối tượng của chúng, mắt có đối tượng là sắc, tai có đối tượng là âm thanh, mũi có đối
tượng là mùi hay hương, lưỡi có đối tượng là vị, thân có đối tượng là súc, ý có đối tượng là phát.
- Xúc: Là quá trình tiếp xúc của các giác quan với các đối tượng của chúng làm phát khởi nhận biết, làm phát khởi cái
biết của chúng.
- Thọ: Là những cảm nhận, cảm giác của chủ thể khi lục căn tiếp súc với lục trần, là cảm giác của các giác quan về
các đối tượng khi các đối tượng xúc trạm với chúng.
- Ái: Là những tình cảm nảy sinh do những cảm thọ đưa lại và cần mang được thảo mãn nhưng tình cảm đó.
- Thủ: Là ý thức chiếm giữ, nắm giữ không dời ra, không buông bỏ, giữ chặt để chiếm đoạt và sở hữu bằng được
những gì ham muốn khao khát, cầu mong.
- Hữu: Là đang tồn tại hiện diện, đang có mặt, đang diễn ra, đang trở thành, đang trong tiến trình đi vào một đời sống
mới, là một trạng thái của nghiệp được thiết lập trong tâm thức.
- Sinh: Là hình thái xuất hiện, ra đời một hình thức hiện hữu mới với chất liệu và môi trường là hữu, là sự xuất hiện
của một đời sống mới, sự tiếp tục của dịng sống liên tục. Có 4 hình thức sinh đó là:
+ Thai sinh: Sinh ra từ bào thai
+ Noãn sinh: Sinh ra từ trứng
+ Thấp sinh: Sinh ra từ môi trường ẩm ướt
+ Hóa sinh: Sinh ra theo cách biến hóa
- Lão tử: Là vận trình suy thối tan rã, tàn tạ của ngủ uẩn dẫn đến chấm dứt sự hiện hữu, hiện diện của chúng sinh,
chấm dứt một đời sống, một sinh mệnh, một giai đoạn có mặt của chúng sinh.
Hết
12