TIỂU LUẬN
MƠN: KHOA HỌC CHÍNH SÁCH CƠNG
Đề tài:
Phân tích các tiêu chí đánh giá chính sách cơng ? Lựa chọn
một chính sách cơng mà anh ( chị ) quan tâm và đánh
giá chính sách đó thơng qua các tiêu chí đã phân tích
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ......................................................................................2
I. Chính sách cơng............................................................................................2
II . Tiêu chí đánh giá chính sách cơng...............................................................3
1. Tiêu chí về tính hiệu lực của chính sách.....................................................4
2. Tiêu chí về tính hiệu lực của chính sách ....................................................5
3. Tinh cơng bằng..............................................................................................6
4. Tình khả thi...................................................................................................7
III . Đánh giá chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động
bị ảnh hưởng bởi dịch Covid 19 ........................................................................8
1. Tiêu chí về tính hiệu lực của chính sách.....................................................9
2. Tiêu chí về tính hiệu quả chính sách ........................................................11
3. Tính cơng bằng..............................................................................................13
3. Tình khả thi.................................................................................................15
KẾT LUẬN........................................................................................................19
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................21
MỞ ĐẦU
Chính sách cơng là cơng cụ hữu hiệu chủ yếu để nhà nước thực hiện chức
năng , nhiệm vụ của mình phải duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước ,
phát triển kinh tế xã hội và phục vụ người dân . Chính sách cơng đã giúp phát
triển phù hợp những nhu cầu cơ bản của đời sống xã hội , phát triển kinh tế xã
hội nói chung , phát huy mặt tích cực đồng thời khắc phục những hạn chế của
nền kinh tế thị trường . Chính sách cơng con đảm bảo sự phát triển cân đối giữa
các vùng miền của đất nước trong khi tạo nên một sự ổn định bền vững trong
nền kinh tế của quốc gia nói chung . Thơng qua chính sách cơng nhà nước cũng
kiểm sốt và phát triển được tải nguyên , phân bố hợp lý các nguồn lực trong xã
hội để đảm bảo sự phát triển bền vững và lâu dài . Ngồi ra , chính phủ đã sử
dụng chính sách cơng để tạo mơi trường thích hợp cho các hoạt động kinh tế xã
hội ví dụ như chính sách phát triển thị trường lao động , thị trường vốn thị
trường khoa học và công nghệ . Thông qua q trình chính sách cũng sẽ thúc
đẩy được sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan nhà nước , các tổ chức chính
trị xã hội , các tầng lớp nhân dân góp phần tạo nên sự nhịp nhàng đồng bộ trong
hoạt động thực thi chính sách cơng . Vì thế , chính sách cơng có ý nghĩa quan
trọng đối với quốc gia vị chính sách cơng có ý nghĩa chính trị , xã hội , pháp lý ,
khoa học và thực tiễn ở chỗ nó là chính sách của nhà nước , phản ảnh ý chí ,
quan điểm , thái độ , cách xử sự của nhà nước để phục vụ cho mục đích và lợi
ích của nhà nước . Trong bài tiểu luận này , em sẽ trình bảy về tiêu chí đánh giá
chính sách cơng . Trước khi ban hành chính sách thì người lãnh đạo sẽ phải tiến
hành một q trình là đánh giá chính sách cơng để kiểm tra và đánh giá xem
chính sách đó có phù hợp để ban hành hay khơng . Quá trình này được thực hiện
nghiêm túc và được đánh giá thơng qua các tiêu chí cụ thể mà em sẽ để cập dưới
đây .
Trong bài tiểu luận này , em cũng sẽ đưa ra nghị quyết 116 của chính phủ
để phân tích rõ hơn về các tiêu chí đánh giá chính sách đó .
1
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.
Chính sách cơng
Chính sách cơng là chính sách của nhà nước đối với khu vực công cộng .
phản ảnh bản chất , tính chất của nhà nước và chế độ chính trị trong đó nhà nước
tồn tử ; đồng thời phản ánh ý chỉ , quan điểm , thi đó , cách xử sự của đồng
chính trị phục vụ cho mục đích của đồng , lợi ích và nhu cầu của nhân dân ,
Chính sách cơng thể hiện ý chí chính trị của đảng cầm quyền , được thể hiện cụ
thể là các quyết sách , quyết định chính trị của nhà nước . Các quyết ở nhằm duy
trì tỉnh trạng xã hội hoặc giải quyết các vấn đề xã hội , đáp ứng nhu cầu của
người dân .
Chính sách cơng là một cơng cụ hữu hiệu để Nhà nước dùng để quản lý
xã hội . Do đó , chính sách cơng cũng được các quan có thẩm quyền của Nhà
nước xây dựng và ban hành . Các cơ quan ban hành chính sách cơng bao gồm :
Quốc hội , Chính Phủ , các Bộ , Cơ quan ngang Bộ , Chính quyền địa phương
các cấp , … Các chính sách được nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện trên
thực tế nhằm phát triển kinh tế , duy trì sự ổn định của xã hội .
- Chính sách cơng có nhiều quyết định liên quan lẫn nhau .
Chính sách cơng là một chuỗi các quyết định nhằm mục đích cuối cùng là
giải quyết một vấn đề chính sách , do một hay nhiều cấp khác nhau trong bộ
máy nhà nước ban hành trong một thời gian dài . Một chính sách cơng được ban
hành có thể chế hóa thành nhiều văn bản pháp luật nhằm tổ chức thực hiện chính
sách cơng trên thực tế ,
- Chính sách cơng tập trung giải quyết một vấn đề trong xã hội.
Chính sách cơng thường là các kế hoạch , dự định , chiến lược tổng quát về
chương trình hành động bao gồm một hoặc nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội , chính
sách cơng sẽ tập trung giải quyết một hoặc một số vấn đề đang đặt ra .
2
-
Chính sách cơng có mục đích là nhằm phục vụ lợi ích chung của cộng
đồng hoặc của quốc gia
Chính sách công là một công cụ quản lý xã hội , do nhà nước ban hành và
dâm bảo thực hiện . Chính sách cơng có mục đích để điều tiết xã hội vì mục đích
chung là sự phát triển của cộng đồng .
II . Tiêu chí đánh giá chính sách cơng
Chính sách cơng có nhiều quyết định liên quan lẫn nhau , nghĩa là một
chính sách cơng khơng thể tồn tại độc lập mà còn phải đặt trong mối quan hệ với
các chính sách cơng khác . Bên cạnh đó các chính sách cơng tập trung giải quyết
các vấn đề trong xã hội , chúng thường là các kế hoạch , dự định , chiến lược
tổng quát về chương trình hành động bao gồm một hoặc nhiều lĩnh vực kinh tế
xã hội . Chính sách cơng cũng có mục đích là phục vụ cho lợi ích cộng đồng nói
chung , chính sách công được ban hành là dựa vào mục địch của cộng đồng .
Chính vì thế , từ khi có kế hoạch xây dựng một chính sách cơng đến khi chính
sách cơng đó được ban hành thì đó là một q trình gọi là chu trình chính sách
cơng . Theo đó , một chu trình chính sách thường có 4 giai đoạn , đó là khởi sự
chính sách , hoạch định chính sách , thực thi chính sách , đánh giá chính sách .
Mỗi giai đoạn đều có vai trở riêng , ảnh hưởng đến chất lượng của một chính
sách , trong đó đánh giá chính sách là giai đoạn rất quan trọng nhằm rút ra
những bài học kinh nghiệm để hoàn thiện hoặc thực hiện tốt hơn ở những chính
sách sau .
Đánh giá tác động của chính sách là đánh giá sự ảnh hưởng của chính
sách đối với các đối tượng khác nhau trong xã hội và đối với sự phát triển chung
của xã hội , cụ thể là đánh giá sự ảnh hưởng của chính sách đối với kinh tế , xã
hội , giới tính , thủ tục hành chính , hệ thống pháp luật ,
Đánh giá tác động của chính sách được thực hiện trước khi quyết định
chính sách và có thể đánh giá hiệu quả của chính sách sau khi được thực hiện .
3
Mỗi chính sách khi đánh giá tác động cần đưa ra 3 phương án để phân
tích , đánh giá về tác động đối với kinh tế , xã hội , giới tính , thủ tục hành
chính , hệ thống pháp luật , trên cơ sở kết quả đánh giá cơ quan có thẩm quyền
lựa chọn phương án tối ưu nhất để ban hành chính sách .
Theo đó , trước khi quyết định ban hành một chính sách cơng thì phải
đánh giá chính sách đó theo các tiêu chí cụ thể , Tiêu chỉ là thước đo , hệ giả trị
được sử dụng làm cơ sở cho quá trình đánh giá chính sách sau khi được triển
khai vào đời sống Các tiêu chỉ bao gồm cả tiêu chỉ định tính và tiểu chỉ định
lượng .
Mỗi chính sách , tùy theo đối tượng tác động và nội dung hướng dẫn có
những tiêu chỉ phù hợp .
1. Tiêu chí về tính hiệu lực của chính sách
Tiêu chí này được thể hiện qua mức độ tác động của chính sách lên các
đối tượng trên thực tế . Hiệu lực của chính sách cơng là khái niệm phản ảnh tác
dụng địch thực của một chính sách . Cụ thể thì tính hiệu lực của một chính sách
được đánh giá bằng mức độ hiệu quả hoạt động của chính sách đó trong thực tế
khi áp dụng lên các đối tượng .
Các yếu tố phản ánh tiêu chí hiệu lực của chính sách là mức độ đáp ứng
các nguồn lực , kỹ thuật , phương tiện để triển khai được chính sách và nhận
được sự đồng thuận , chấp hành của đối tượng thực hiện chính sách , Trước khi
ban hành một chính sách thì chúng ta phải đánh giá tiêu chí tỉnh hiệu quả của
chính sách đó bằng cách đánh giá xem các nguồn lực như nhân lực , thi ngun ,
chi phí v có thể đáp ứng được khi thực hiện chính sách này hay khơng , lợi ích
mà chính sách này mang lại là gì , hoặc chúng ta có đủ phương tiện và kĩ thuật
để triển khai có hiệu quả chính sách mới đó hay khơng , bên cạnh đó cũng phải
đánh giá tính hiệu lực của chính sách thơng qua sự đồng thuận và chấp hành của
đối trọng sẽ được áp dụng chính sách đó . Trong tiêu chí này , cần chú ý các tiểu
chỉ như lợi ích của các bên liên quan , các đối tượng , sự tương thích của nội
4
dung chính sách xem chính sách đó có phù hợp với hồn cảnh hay khơng , đảm
bảo tính răn đe , buộc đối tượng tuân thu , chấp hành và mức độ đạt được mục
tiêu của chính sách . Kết quả đánh giá tính hiệu lực của chính sách cho biết
chính sách có thể được thực hiện trên thực tế hay khơng . Tóm lại , để đánh giá
tính hiệu lực của một chính sách thì người đánh giá cần phải chú ý đến các yếu
tố căn đánh giá là :
- Mức độ đảm bảo các nguồn lực tài chính , nhân sự .
- Mức độ đáp ứng về phương tiện kỹ thuật , công nghệ cần thiết cho việc
thực hiện chính sách .
- Tinh tốn về chi phí và lợi ích , khẳng định lợi ích có thể vượt qua các chi
phí .
2. Tiêu chí về tính hiệu lực của chính sách .
Tiêu chí này được dựa trên cơ sở so sánh kết quả đạt được với chi phí bỏ
ra để thực hiện chính sách . Trong các chính sách của Nhà nước , phần lớn chính
sách đều sử dụng ngân sách , chỉ tiêu bằng tiến công , chính vì vậy , xem xét
tính hiệu quả của chính sách là xem xét điều mà khách hàng ( Nhà nước ) có
được khi bọ bỏ tiền ra ( mùi , đầu tư , trợ cấp ) là cần thiết. Tính hiệu quả của
chính sách cơng là đã lớn của kết quả thu được từ việc sử dụng nguồn lực cố
định .
Khi định của tỉnh hiệu quả của một chính sách có nghĩa là sẽ đánh giá
hiệu quả mà chính sách đó mang lại . Điều đó có nghĩa là người đánh giá phải
đánh giá và nằm được kết quả mà chính sách này mang lại có đáp ứng được kỳ
vọng khi chính sách này được thiết lập hay khơng dựa trên thực tế số liệu đánh
giá đã thu được trong quá trình đánh giá để so sánh và đưa ra kết luận về tính
hiệu quả của chính sách đó . Nếu chính sách đó sau khi kiểm tra tính hiệu quả có
thể chứng minh được là có thể mang lại được mục tiêu đề ra thì sẽ được ban
hành , cịn ngược lại nếu chính sách đó được đánh giá là khơng cá tính hiệu quả
thì chính sách đó sẽ được sửa đổi để kiểm tra lại hoặc không thể được ban hành .
5
Tiêu chí hiệu quả của chính sách được biểu hiện bằng khả năng đạt được
các mục tiêu và mục đích chính sách , Các yếu tố cần đo lường để đánh giá tính
hiệu quả bao gồm :
-
Số lượng các nguồn lực đầu vào ( lượng đầu vào ) .
-
Độ dài thời gian cần hồn thành.
-
Số lượng cơng việc cần phải làm .
-
Tính cần thiết của các cơng việc này thạn chế tối đa động tác thừa ) .
-
Những chi phí cho các hoạt động phải làm .
-
Lương hiệu qua : Số lượng cơng việc được hồn thành trong thời gian và
chi phí nào ;
-
Tính năng suất : Hiệu suất làm việc ( mức độ tập trung đạt được chất
lượng công việc )
-
Xác định các mục tiêu của chính sách và so sánh .
3. Tinh cơng bằng
Tiểu chỉ tính cơng bằng trong đánh giá chính sách được đánh giá trong
phân phối chi phí , lợi ích và rủi ro của chính sách đối với mỗi nhóm dân . Như
ở trên đã nói , chính sách cơng thực hiện nghĩa vụ chung của cộng đồng . Vì
thế , nhiệm vụ của chính sách cơng phải thể hiện được tính trách nhiệm chung
đối với cộng đồng xã hội , Ngồi tính hiệu lực , hiệu quả , kinh tế , chính sách
cơng được lựa chọn phải thừa mãn lợi ích của đa số người dân thuộc các tầng
lớp , giải cấp khác nhau trong xã hội .
Chính sách của nhà nước nếu có thể đảm bảo được lại khi chung của đa số
người dân thuộc các tầng lớp , giai cấp khác nhau trong xã hội thì khi đó chính
sách đó sẽ được sự ủng hộ , đồng thuận cao của hầu hết những người dân vị
chính sách đó đảm bảo được sự công bằng cho tất cả mọi đối tượng và đảm bảo
được quyền lại cho tất cả người dân thuộc các tầng lớp khác nhau . Và nhờ đó ,
chính sách đó có thể được thực hiện và tồn tại một cách lâu dài và có ý nghĩa .
Bởi vậy , tính cơng bằng là một trong những tiêu chí quan trọng và bắt buộc khi
đánh giá chính sách , Hình thức biểu hiện của tính cơng bằng là tạo ra những tác
6
động không thiên vị cho các đối tượng trong xã hội cả về quyền lợi và nghĩa vụ .
Một chính sách được đánh giá và thông qua tiêu chỉ công bằng thi chính sách đó
phải được xem xét trong thực tế và thu được kết quả công bằng về quyền lợi , lợi
ích đối với tất cả các tầng lớp , giai cấp trong xã hội .
4. Tình khả thi
Tính khả thi là mức độ khả thi , nó thể hiện sự thành công hay thất bại của
một
dự án , kế hoạch . Đánh giá tính khả thi của một chính sách là đánh giá mức độ
hay khả năng ban hành của chính sách đó .
Tính khả thi phải được đánh giá “ Dựa trên nhiều yếu tố , ví yếu tố hành chính .
dụ nhu yếu tố chính trị , yếu tố kinh tế , yếu tố xã hội và Vì yếu tố chính trị , khi
đánh giá một chính sách thì phải đánh giá được mức độ ủng hộ của những nhà ra
quyết định . Nếu như các thành viên thuộc tổ chức mà có quyền ban hành luật
ủng hộ và thơng qua chính sách mới thì chính sách đó có thể được ban hành ,
cịn ngược lại nếu các thành viên đó khơng có sự ủng hộ , nhất trí cao thì chính
sách đó khơng được thơng qua tính khả thi về chính trị . Về tính khả thi về kinh
tế thì các nhà đánh giá phải đánh giá được chính sách đó dựa trên cơ sở phân
tích , chi phí dự kiến và lợi ích thu được khi thực hiện chính sách đó . Nếu một
quốc gia khơng có đủ tiềm lực về kinh tế để thực hiện chính sách đó thì chính
sách đó chắc chắn không thể được ban hành . Ngược lại , khi một quốc gia có đủ
tìm lực về kinh tế để có thể đáp ứng được chi phí dụ kiến cùng với đó có thể
đánh giá được lợi ích thu được theo mục tiêu đã được đề ra thì chính sách đó sẽ
được thơng qua tính khả thi về kinh tế . Về mặt xã hội , đánh giá chính sách là
phải đánh giá được mức độ phù hợp của chính sách đó đối với tình hình xã hội
hiện tại , đảm bảo được các yếu tố xã hội , văn hóa và con người . Cuối cùng là
yếu tố về hành chính . Để một chính sách thơng qua được đánh giả về tính khả
thi hành chính thi chính sách đó phải đáp ứng được yêu cầu của hệ thống hành
chính đưa ra ví dụ như đơn giản , nhanh chóng , dễ áp dụng
7
III . Đánh giá chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động
bị ảnh hưởng bởi dịch Covid 19 .
Trong đại dịch Covid 19 đã và đang có ảnh hưởng rất nghiêm trọng đối
với Việt Nam nói riêng và tồn thế giới nói chung . Hiện tại dịch Covid 19 vẫn
đang gây ra nhiều hậu quả lớn . Đặc biệt , trong thời gian dịch Covid diễn ra thì
rất nhiều người lao động đã bị mất việc làm vì số lượng các doanh nghiệp phải
rút khỏi thị trường rất lớn , bên cạnh đó ở những nơi dịch Covid hồnh hành thì
các doanh nghiệp , hoạt động bán buôn , bán lẻ không thể hoạt động . Ở Việt
Nam , theo Cục Việc làm , tỷ lệ lao động phi chính thức bị mất việc hiện nay
được ghi nhận là cao nhất trong vòng ba năm trở lại đây . Với tình hình như thế ,
chính phủ đã ban hành nghị quyết về chính sách hỗ trợ người lao động và người
sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid 19 từ quỹ bảo hiểm thất
nghiệp . “ Cụ thể , có 2 chính sách nhằm hỗ trợ người lao động và người sử
dụng lao động :
Thứ nhất là , chính sách hỗ trợ người lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch
COVID – 19 Sử dụng khoảng 30.000 tỷ đồng từ kết du Quỹ bảo hiểm thất
nghiệp đến hết năm 2020 để hỗ trợ người lao động thuộc các đối tượng sau :
- Đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm ngày 30/9/2021
( không bao gồm người lao động đang làm việc tại cơ quan nhà nước , tổ chức
chính trị , tổ chức chính trị - xã hội , đơn vị vũ trang nhân dân và đơn vị sự
nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chỉ thường xuyên ) .
- Đã dừng tham gia bảo hiểm thất nghiệp do chấm dứt hợp đồng lao động
hoặc hợp đồng làm việc trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2020 đến ngày
30/9/2021 có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu theo quy định
của pháp luật về việc làm , không bao gồm người hưởng lương hưu hàng tháng .
Thời gian thực hiện việc hỗ trợ người lao động từ ngày 01/10/2021 và hoàn
thành chậm nhất vào ngày 31/12/2021 .
8
Thứ hai là chính sách hỗ trợ người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại
dich COVID – 19 Người sử dụng lao động quy định tại Điều 43 Luật Việc làm
( không bao gồm cơ quan nhà nước , tổ chức chính trị , tổ chức chính trị - xã
hội , đơn vị vũ trung nhân dân và đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà
nước bảo đảm “ Nghị quyết số 032021 / UBTVQH15 19 Chỉ thường xuyên )
đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp trước ngày 01/10/2021 được giảm mức
đóng từ 1 % xuống bằng 0 % quỹ tiền lương tháng của những người lao động
thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian 12 tháng , từ ngày
01/10/2021 đến hết ngày 30/9/2022 . Đây là một chính sách rất quan trọng trong
tình hình hiện giờ . Bởi vì , như đã nói ở trên , trong vịng ba năm trở lại đây ,
đây là lần nhiều người lao động tự do bị mất việc nhất . Trong một thời gian khá
dài hầu hết các hoạt động kinh doanh , buôn bán đều bị ngưng do dịch bệnh
Covid trở nên nghiêm trọng , rất nhiều người lao động đã bị mất việc . Ngoài ra ,
các chủ kinh doanh hoặc chủ các hoạt động buôn bán cũng bị ảnh hưởng rất
nghiêm trọng bởi vì các hoạt động kinh doanh , bn bán không được tiến hành .
Việc hỗ trợ cho những lao động mất việc và những người sử dụng lao động bị
ảnh hưởng nặng nề trong dịch Covid lần này là một việc cần thiết và quan trọng
để có thể giúp mọi người vượt qua được những ngày vất vả , đồng thời có thể
bắt đầu lại cơng việc của mình . Trong bài tiểu luận này , em sẽ phân tích các
tiêu chí đánh giá chính sách thơng qua nghị quyết hỗ trợ người lao động và
người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid từ quỹ bảo hiểm thất
nghiệp .
1. Tiêu chí về tính hiệu lực của chính sách
Các yếu tố phản ánh tiêu chí hiệu lực của chính sách là mức độ đáp ứng
các nguồn lực , kỹ thuật , phương tiện để triển khai được chính sách và nhận
được sự đồng thuận , chấp hành của đối tượng thực hiện chính sách . Trong tiêu
chí nảy , cần chú ý các tiêu chí như lợi ích của các bên liên quan , các đối
tượng , sự tương thích của nội dung chính sách xem chính sách đó có phù hợp
với hồn cảnh hay khơng , đảm bảo tính răn đe , buộc đối tượng tuân thủ , chấp
9
hành và mức độ đạt được mục tiêu của chính sách . Để đánh giá tiêu chí hiệu lực
của chính sách thì em sẽ dựa trên ba yếu tố sau :
- Mức độ đảm bảo các nguồn lực tài chính , nhân sự .
- Mức độ đáp ứng về phương tiện kỹ thuật , công nghệ cần thiết cho việc
thực hiện chính sách
- Tính tốn về chi phí và lợi ích , khẳng định lợi ích có thể vượt qua các chỉ
phi .
Về mức độ đảm bảo nguồn lực tài chính và nhân sự , trong nghị quyết đã
chỉ rất rõ đó là sẽ sử dụng khoảng 30.000 tỷ đồng từ kết dủ Quỹ bảo hiểm thất
nghiệp đến năm 2020 để hỗ trợ cho người lao động thuộc các đối tượng đã được
đề cập đến trong nghị quyết . Số tiền này được trích ra từ quỹ bảo hiểm thất
nghiệp mả đã kết dư đến năm 2020. Điều đó có nghĩa là số tiền này hoàn toàn
phù hợp sử dụng để hỗ trợ những người lao động bị mất việc và những người sử
dụng lao động bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid bởi vì nó được trích ra từ quỹ
bảo hiểm thất nghiệp . Đây cũng là một số tiền tương đối lớn vi thể có thể đảm
bảo được mức độ nhất định hỗ trợ cho người dân bị ảnh hưởng bởi dịch Covid .
Về nguồn nhân lực , trong nghị quyết đã ghi rất rõ là :
“ Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội :
a ) Chủ trì , phối hợp với các cơ quan liên quan trinh Thủ tướng Chính
phủ ban hành Quyết định để triển khai thực hiện các nội dung quy định tại Mục
II Nghị quyết này theo trình tự , thủ tục rút gọn .
b ) Chỉ đạo , hướng dẫn , kiểm tra , đôn đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam ,
các địa phương triển khai Nghị quyết của Chính phủ và Quyết định của Thủ
tướng Chính phủ . Để xuất Chính phủ , Thủ tướng Chính phủ các giải pháp để
tháo gỡ khó khăn , vưởng mắc phát sinh .
Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét , điều chỉnh dự tốn
thu , chỉ và chi phí quản lý bảo hiểm thất nghiệp theo quy định .
Bảo hiểm xã hội Việt Nam :
10
a ) Phối hợp với Bộ Lao động Thương binh và Xã hội xây dựng , trình
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định triển khai thực hiện Nghị quyết
b) Tổ chức thực hiện các chính sách theo quy định tại Nghị quyết này .
c ) Kịp thời báo của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội các khó khăn
vướng mắc để trình cấp có thẩm quyền xem xét , giải quyết .
Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì , phối hợp với Ban Tuyên giáo
Trung trong , các bộ , cơ quan trung ương và địa phương , các cơ quan thơng tấn
, báo chí tổ chức phổ biến , tuyên truyền rộng rãi Nghị quyết này
Đề nghị Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam , Tổng Liên đoàn
Lao động Việt Nam , tổ chức đại diện người sử dụng lao động , các tổ chức
chính trị - xã hội tham gia tuyên truyền , vận động và giám sát việc thực hiện
Nghị quyết.
Bộ trưởng , Thủ trưởng cơ quan ngang bộ , Thủ trưởng cơ quan thuộc
Chính phủ , Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh , thành phố trực thuộc trung
ương chịu trách nhiệm trực tiếp trước Chính phủ , Thủ tướng Chính phủ về việc
triển khai và kết quả thực hiện Nghị quyết này . Trong nghị quyết đã ghi rất rõ
nhiệm vụ của các Bộ là phối hợp với nhau để cùng thực hiện hỗ trợ cho người
dân . Vì thế , chúng ta có thể thấy rằng , nguồn nhân lực của Việt Nam đủ để
thực hiện nghị quyết này , nghĩa là ủy ban thường vụ Quốc hội đã đảm bảo được
nguồn nhân lực để hỗ trợ cho người lao động bị mất việc và người sử dụng lao
động bị ảnh hưởng bởi dịch Covid .
2. Tiêu chí về tính hiệu quả chính sách .
Tiêu chí này được dựa trên cơ sở so sánh kết quả đạt được với chi phí bỏ
ra để thực hiện chính sách . Tính hiệu quả của chính sách cơng là độ lớn của kết
quả thu được từ việc sử dụng nguồn lực cố định . Khi đánh giá tính hiệu quả của
một chính sách có nghĩa là sẽ đánh giá hiệu quả mà chính sách đó mang lại . Có
thể thấy , từ đầu năm 2021 chúng ta liên tục phải đối mặt với sự bùng nổ của
dịch bệnh Covid – 19 tại nhiều địa phương trong đó có TP Hồ Chí Minh , Bình
Dương , Long An , Hà Nội … Tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp tác động
11
nặng nề lên nhiều mặt của đời sống xã hội , đặc biệt là kinh tế . Thu nhập giảm ,
tình trạng thất nghiệp và giải thể của nhiều doanh nghiệp cũng tăng cao .
Mục đích của Nghị quyết là :
- Thể hiện được sự quan tâm , chia sẻ của Đảng , Nhà nước đối với người
lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID –
19 .
- Góp phần hỗ trợ người lao động khắc phục khó khăn , ổn định cuộc sống ,
chống đứt gãy chuỗi cung ứng lao động và thiếu hụt lao động .
- Hỗ trợ người sử dụng lao động giảm chi phí , nỗ lực thích ứng với trạng
thái bình thưởng mới , duy trì sản xuất , kinh doanh , tạo việc làm cho
người lao động .
- Phát huy vai trị của chính sách bảo hiểm thất nghiệp là chỗ dựa cho người
lao động và người sử dụng lao động .
Bên cạnh đó , Nghị Quyết cịn cho thấy sự quan tâm , chia sẻ của Đảng ,
Nhà nước đối với người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi
đại dich Covid – 19 . Và mức hỗ trợ cho người dân sẽ được dựa trên cơ sở thời
gian đóng bảo hiểm thất nghiệp chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao
động , cụ thể như sau :
- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp dưới 12 tháng : hỗ trợ 1.800.000
đồng / người .
- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng đến dưới 60 tháng :
hỗ trợ 2.100.000 đồng / người .
- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 60 tháng đến dưới 84 tháng hỗ
trợ 2.400.000 đồng / người .
- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 84 tháng đến dưới 108 tháng
hỗ trợ 2.650.000 đồng / người .
- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 108 tháng đến dưới 132
tháng : hỗ trợ 2.900.000 đồng / người .
12
- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 132 tháng trở lên : hỗ trợ
3.300.000 đồng / người .
Với mức hỗ trợ này thì chính phủ đã giúp cho người dẫn dù các đối tượng
khác nhau có một khoản tiền để trang trải cuộc sống , gia đình . Tại một số tỉnh ,
thành phố cho thấy , người lao động , người sử dụng lao động trên cả nước đều
vui mừng và đánh giá cao gói hỗ trợ đầy tinh nhân văn , chia sẻ , kịp thời lần
này của Quốc hội và Chính phủ . “ Đã có 3.570 người lao động được chi trả tiền
hỗ trợ với tổng số tiền hơn 10.3 tỷ - Đã có 137.826 người sử dụng lao động được
giảm mức đóng từ 1 % xuống 0 % vào quỹ Bảo hiểm Thất nghiệp trong thời
gian 12 tháng ( từ 1-10 2021 đến 30-9-2022 ) cho khoảng 4.435.184 người lao
động với tổng số tiền gần 3.470 tỷ đồng . ”
Vì thế ta có thể thấy được tính hiệu quả của nghị quyết 116 của chính
phủ . Nghị quyết đã giúp cho người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp
khắc phục được khó khăn và ổn định được cuộc sống , giúp cho người sử dụng
lượ động có thêm chi phí duy trì hoạt động sản xuất và kinh doanh .
3. Tính cơng bằng.
Tiêu chí tính cơng bằng trong đánh giá chính sách được đánh giá trong
phân phối chi phí , lợi ích và rủi ro của chính sách đối với mỗi nhóm dân . Vì thế
, nhiệm vụ của chính sách cơng phải thể hiện được tính trách nhiệm chung đối
với cộng đồng xã hội và phải thỏa mãn lợi ích của đa số người dân thuộc các
tầng lớp , giai cấp khác nhau trong xã hội .
Về đối tượng áp dụng cho Nghị quyết này thì là : Người lao động đang
tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2021 ( không
bao gồm người lao động đang làm việc tại cơ quan nhà nước , tổ chức chính trị ,
tổ chức chính trị - xã hội , đơn vị vũ trang nhân dân và đơn vị sự nghiệp công
lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chỉ thường xuyên ) .
- Người lao động đã dừng tham gia bảo hiểm thất nghiệp do chấm dứt hợp
đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng
13
01 năm 2020 đến hết ngày 30 tháng 9 năm 2021 có thời gian đóng bảo hiểm thất
nghiệp được bảo lưu theo quy định của pháp luật về việc làm , không bao gồm
người hưởng lương hưu hàng tháng .
- Người sử dụng lao động quy định tại Điều 43 của Luật Việc làm ( không
bao gồm các cơ quan nhà nước , tổ chức chính trị , tổ chức chính trị - xã hội ,
đơn vị vũ trang nhân dân và đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước
bao đảm chỉ thường xuyên ) đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp trước ngày 01
tháng 10 năm 2021 .
Và về mức hỗ trợ như đã nói ở trên :
mức hỗ trợ cho người dân sẽ được dựa trên cơ sở thời gian đóng bảo hiểm
thất nghiệp chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động , cụ thể như sau :
- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp dưới 12 tháng : hỗ trợ 1.800.000
đồng / người .
- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng đến dưới 60 tháng :
hỗ trợ 2.100.000 đồng / người .
- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 60 tháng đến dưới 84 tháng hỗ
trợ 2.400.000 đồng / người .
- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 84 tháng đến dưới 108 tháng :
hỗ trợ 2.650.000 đồng / người .
- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 108 tháng đến dưới 132
tháng : hỗ trợ 2.900.000 đồng / người .
- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 132 tháng trở lên : hỗ trợ
3.300.000 đồng / người .
Theo như văn bản nghị quyết đã được ban hành thi chính phủ khơng bỏ
sót một đối tượng nào mà tất cả những đối tượng đáp ứng dù các yêu cầu của
nghị quyết đó là đóng bảo hiểm thất nghiệp thì có thể được hỗ trợ . Chính vì
thế , căn cử rất rõ ràng nên các đối tượng được hỗ trợ đều liệu được tính cơng
bằng của nghị quyết . Nghị quyết không thiên vị một đối tượng cụ thể nào mà sẽ
14
dựa theo thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp và dựa theo đối tượng đó là người
lao động đã bị mất việc hay người sử dụng lao động theo luật việc làm để áp
dụng những điều khoản và mức hỗ trợ riêng . Theo em , đây là một trong những
nghị quyết thể hiện rất rõ tính cơng bằng đối với các đối tượng được áp dụng .
Người dân được hỗ trợ theo nghị quyết 116 cũng thể hiện được sự hài lòng và
tin tưởng ở đảng và nhà nước . Tỉnh khả thi
3. Tình khả thi
Đánh giá tính khả thi của một chính sách là đánh giá mức độ hay khả
năng ban hành của chính sách đó . Tính khả thi phải được đánh giá dựa trên
nhiều yếu tố , ví dụ như yếu tố chính trị , yếu tố kinh tế , yếu tố xã hội và yếu tố
hành chính . Vì yếu tố chính trị , khi đánh giá một chính sách thi phải đánh giá
được mức độ ủng hộ của những nhà ra quyết định .
Đối với Nghị quyết 116 , Chính phủ đã Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ
ngày 14 tháng 6 năm 2015 ; Căn cứ Nghị quyết số 30 / 2021 / QH15 về Kỳ họp
thứ Nhất , Quốc hội khóa XV : Căn cứ Nghị định số 138 / 2016 / NĐ – CP ngày
01 tháng 10 năm 2016 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ
; Căn cứ thơng báo ý kiến của Bộ Chính trị tại văn bản số 1789 CV / VPTW
ngày 11 tháng 9 năm 2021 và văn bản số 1911 – CV / VPTW ngày 23 tháng 9
năm 2021 của Văn phòng Trung ương Đảng ; Căn cứ Nghị quyết số 03 / 2021 /
UBTVQH15 ngày 24 tháng 9 năm 2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về ban
hành chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng
bởi đại dịch COVID – 19 từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp ;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tại Tơ
trình số 76 / TTr – LĐTBXH ngày 24 tháng 9 năm 2021. Chính phủ đã dựa trên
nhiều Nghị định khác và ý kiến của các Bộ để cân nhắc về Nghị quyết 116.
Trong điều kiện dịch bệnh dang diễn biến phức tạp và tác động nặng nề lên
nhiều mặt của đời sống xã hội , ảnh hưởng lớn đến việc làm , đời sống , thu nhập
của người lao động và hoạt động sản xuất , kinh doanh của người sử dụng lao
động , Chính phủ quyết nghị thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động và
15
người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID 19 từ Quỹ bảo hiểm
thất nghiệp . Điều này đã được đồng thuận bởi Quốc hội và Chính phủ nên tính
khả thi của Nghị quyết về mặt chính trị rất cao .
Về tỉnh khi thi về kinh tế thì các nhà đánh giá phải đánh giá được chính
cách đó dựa trên cơ sở phân tích , chi phí dự kiến và lợi ích thu được khi thực
hiện chính sách đó . Nguồn kinh phí để thực hiện nghị quyết 116 là khoảng
10.000 tỷ đồng từ kết dư Quỹ bảo hiểm thất nghiệp đến hết năm 2020. Đây là
một số tiền khá lớn , và đã được cân đổi để hỗ trợ người dân . Theo ơng Lê Đình
Quảng , Phó trưởng Ban Chính sách – Pháp luật Tổng liên đồn lao động Việt
Nam thì ở Việt Nam hiện nay có khoảng gần 15 triệu người đang tham gia bảo
hiểm tự nguyện , Tuy nhiên , trừ đi khoảng gần 2 triệu người lao động thuộc các
đối tượng không được nhận chính sách hỗ trợ ( các đơn vị thuộc cơ quan nhà
nước , lực lượng vũ trang , tổ chức chính trị , tổ chức chính trị - xã hội và các
đơn vị sự nghiệp công lập được ngân sách nhà nước bảo đảm chỉ thường xuyên )
, thi sẽ có 12,78 triệu người lao động được thụ hưởng các chính sách hỗ trợ này .
Với số tiền hỗ trợ là 30 nghìn tỷ đồng từ quỹ bao hiểm thất nghiệp thì chính phủ
đã cân đối đảm bảo được số tiền sẽ được hỗ trợ đến tất cả 12,78 triệu người lao
động theo nghị quyết này . Vì thế , có thể nói , Việt Nam đủ tiềm lực kinh tế để
thực hiện nghị quyết và nhu thể thì tính khả thi về kinh tế của nghị quyết 116 đã
được thông qua .
Về mặt xã hội , đánh giá chính sách là phải đánh giá được mức độ phù
hợp của chính sách đó đối với tình hình xã hội hiện tại , đảm bảo được các yếu
tố xã hội , văn hóa và con người . Nguồn kinh phí để thực hiện nghị quyết 116 là
khoảng 30.000 tỷ đồng từ kết dư Quỹ bảo hiểm thất nghiệp đến hết năm 2020
nên có thể coi đây là nguồn hỗ trợ hoàn toàn phù hợp để hỗ trợ người lao động
đã đóng bảo hiểm tự nguyện và đang bị mất việc hoặc các chủ sử dụng lao động
đang bị ảnh hưởng nặng nề từ dịch bệnh vì nguồn hỗ trợ này được lấy từ quỹ
bảo hiểm thất nghiệp . Ngoài ra , về phía người dân , những người lao động đã
nhận được số tiền hỗ trợ đều thể hiện sự hài lòng và tin tưởng vào đường lối của
16
đảng , chính phủ . Họ đã có tiền để phần nào vực dậy được kinh tế sau dịch bệnh
và có nên tùng để bắt đầu cuộc sống sau dịch bệnh . Với sự đồng thuận cao của
chinh phụ và sự hài lịng của người lao động thì tính khả thi về mật xã hội của
nghỉ quyết 116 cũng đã được thơng qua.
Cuối cùng là yếu tố về hành chính . Để một chính sách thơng qua được
đánh giá về tính khả thi hành chính thì chính sách đó phải đáp ứng được yêu cầu
của hệ thống hành chính đưa ra ví dụ như đơn giản , nhanh chóng , dễ áp dụng
Theo bảo hiểm xã hội Việt Nam những ngày qua cơ quan bảo hiểm xã hội đã
thực hiện chuyển khoản tiền hỗ trợ cho các đối tượng thụ hưởng qua tài khoản
cá nhân . Để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người lao động và người sử dụng
lao động , ngành bảo hiểm xã hội Việt Nam chủ trương thực hiện đa dạng , linh
hoạt các hình thức giao dịch hồ sơ để triển khai các chính sách hỗ trợ theo sự lựa
chọn của người thụ hưởng , giúp người lao động và người sử dụng lao động có
thể tiếp cận chính sách thuận lợi nhất và trong thời gian sớm nhất . Những người
lao động thuộc doanh nghiệp quản lý thì doanh nghiệp sẽ có trách nhiệm trong
việc xác định đối tượng nhận hỗ trợ sau đó gửi đến cơ quan bảo hiểm xã hội địa
phương để làm cơ sở giải quyết . Trường hợp người lao động bị bỏ sót thì cả
nhân người đó sẽ gửi xác nhận thời gian đóng bảo hiểm tự nguyện để có quan
bảo hiểm xã hội chi trả theo quy định . Khi triển khai gói hỗ trợ , bảo hiểm xã
hội Việt Nam đã phối hợp với các đơn vị liên quan , chính quyền địa phương .
xây dựng một quy trình , thủ tục đơn giản , dễ hiểu , dễ nhớ , thuận tiện với
người thụ hướng nhờ nền tảng cơ sở dữ liệu và ứng dụng công nghệ thông tin .
Điều này là yếu tố quan trọng giúp chính sách hỗ trợ tiếp cận nhanh chóng đến
người lao động và người sử dụng lao động , phát huy hiệu quả tốt hơn . Có thể
nói quy trình , thủ tục hỗ trợ đơn giản , nhanh chóng đã thể hiện được tính khả
thi về yếu tố hành chính của nghị quyết 116 .
Trên đây em đã phân tích được các tiêu chí đánh giá chính sách qua nghị
quyết 116 của chính phủ . Nghị quyết 116 của chính phủ đã có đủ điều kiện và
căn cứ để thơng qua các tiêu chí đánh giá chính sách là tiêu chí về tính hiệu lực
17
của chính sách , tiêu chí về tính hiệu quả của chính sách , tiêu chí về tinh cơng
bằng , tiêu chí về tính khả thi , bao gồm khả thi về mặt kinh tế , chính trị , xã hội
và hành chính .
18