TIỂU LUẬN
MƠN: KHOA HỌC CHÍNH SÁCH CƠNG
Đề tài:
NHỮNG BẤT CẬP VỀ CHÍNH SÁCH CƠNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...............................................................................................................2
NỘI DUNG CHÍNH............................................................................................4
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ QUY TRÌNH CHÍNH SÁCH CƠNG..........4
1.1. Khái niệm quy trình chính sách..................................................................4
1.2. Các giai đoạn trong quy trình chính sách..................................................4
1.3. Các chủ thể chính trong quy trình chính sách...........................................5
CHƯƠNG 2. NHỮNG BẤT CẬP VỀ CHÍNH SÁCH CƠNG Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY...........................................................................................................8
2.1. Bất cập trong hoạch định chính sách cơng ở Việt Nam............................8
2.2. Bất cập trong thực hiện chính sách cơng ở Việt Nam.............................11
2.3. Bất cập trong đánh giá chính sách cơng ở Việt Nam..............................12
CHƯƠNG 3. GIẢP PHÁP KHẮC PHỤC NHỮNG BẤT CẬP VỀ CHÍNH
SÁCH CƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.......................................................16
3.1. Giải pháp về hoạch định chính sách.........................................................16
3.2. Giải pháp về thực hiện chính sách............................................................17
3.3. Giải pháp về đánh giá chính sách.............................................................17
KẾT LUẬN........................................................................................................19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................20
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chính sách cơng là chính sách của nhà nước, do nhà nước ban hành và thể
hiện vai trò của nhà nước trong quản lý xã hội. Chính sách cơng là một bộ phận
quan trọng trong hệ thống chính sách của mỗi quốc gia nhằm hiện thực hóa
đường lối, chủ chương của chính đảng cầm quyền, đồng thời là công cụ hữu
hiệu để quản lý, điều hành, điều tiết và tạo điều kiện xây dựng, phát triển kinh tế
- xã hội (KT-XH) tại những thời điểm nhất định. Tồn bộ q trình từ khi xây
dựng, hình thành chính đến thực thi, đánh giá chính sách cơng được gọi là chu
trình chính sách cơng. Chu trình CSC bao gồm nhiều khâu, nhiều giai đoạn với
những bước, những hoạt động cụ thể có mối quan hệ tương tác với nhau. Mỗi
khâu thuộc chu trình CSC có vai trò nhất định, tạo thành hệ thống tổng thể quyết
định đến giá trị, hiệu quả của từng CSC trong thực tế đời sống kinh KT-XH. Ở
Việt Nam, CSC do Nhà nước ban hành, tổ chức thực hiện và dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam, phản ánh quan điểm, ý chí, nguyện vọng của giai
cấp cơng nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam. Trong thời gian
qua, CSC ở Việt Nam đã không ngừng được cải tiến và từng bước hoàn thiện.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, CSC vẫn còn bộc lộ khơng ít hạn
chế, cần khắc phục, hồn thiện hơn. Chính vì vậy, nghiên cứu về những bất cập
của CSC là một chủ đề có tính lý luận và thực tiễn quan trọng với Việt Nam
hiện nay.
Chính vì vậy, em chọn đề tài: “Những bất cập về chính sách cơng ở Việt
Nam hiện nay” để nghiên cứu và làm sáng tỏ thêm.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khái qt về quy trình chính sách cơng; đề tài phân tích những
bất cập về chính sách cơng ở Việt Nam hiện nay. Từ đó đề tài đề xuất các giải
pháp nhằm khắc phục những bất cập đó ở Việt Nam hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
2
- Khái qt về quy trình chính sách cơng.
- Phân tích những bất cập về chính sách cơng ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những bất cập đó ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: những bất cập về chính sách cơng.
* Phạm vi nghiên cứu: ở Việt Nam hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như phương pháp đọc
và phân tích tài liệu, tổng hợp tài liệu, thu thập thơng tin,…
5. Kết cấu của đề tài
Ngồi phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu đề tài
gồm 3 chương chính:
Chương 1. Khái qt về quy trình chính sách cơng
Chương 2. Những bất cập về chính sách cơng ở Việt Nam hiện nay
Chương 3. Giải pháp khắc những bất cập về chính sách công ở Việt Nam
hiện nay
3
NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG 1.
KHÁI QT VỀ QUY TRÌNH CHÍNH SÁCH CƠNG
1.1. Khái niệm quy trình chính sách
Theo từ điển Tiếng Việt: chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể
nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình
hình thực tế mà đề ra.
Theo tác giả Vũ Cao Đàm: “chính sách là một tập hợp biện pháp được
thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó
tạo ra sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt
động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược
phát triển của một hệ thống xã hội.”
Chính sách là những quy phạm do nhà nước định ra để giải quyết
những vấn đề công cộng của xã hội, bao gồm một loạt các hoạt động có liên
quan tới nhau. Sự phong phú và phức tạp của đời sống các chính sách đã đặt
ra cho chính sách cơng phải có cách tiếp cận phù hợp. Vì vậy, trong q trình
phát triển của chính sách cơng, các nhà khoa học đã vạch ra một số lý thuyết,
mơ hình để áp dụng phân tích các chính sách quốc gia.
Quy trình chính sách là những bước đi cơ bản, tất yếu, bao qt tồn bộ
đời sống của một chính sách, kể từ khi nảy sinh ý tưởng (vấn đề chính sách) tới
việc định hình, hồn chỉnh, thi hành, kiểm nghiệm, sửa đổi hoặc hủy bỏ nó…
Trong đó, mỗi bước trong quá trình đều có vị trí, ý nghĩa to lớn đối với q trình
thực thi chính sách.
1.2. Các giai đoạn trong quy trình chính sách
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về các giai đoạn trong quy trình chính
sách. Mỗi cách tiếp cận đều có những ưu điểm và hạn chế trong nghiên cứu
chính sách cơng.
Thứ nhất, có thể phân chia quy trình chính sách thành ba giai đoạn, bao
gồm: hoạch định chính sách, thực hiện chính sách và đánh giá chính sách.
4
Thứ hai, có thể phân chia quy trình chính sách thành bốn giai đoạn bao
gồm lựa chọn vấn đề chính sách và xác lập nghị trình; thảo luận và xây dựng và
ban hành chính sách; thực hiện (và phản hồi) chính sách; và đánh giá (điều
chỉnh) chính sách.
Thứ ba, cũng có cách phân chia theo các bước trong q trình làm chính
sách ở châu Âu với 12 bước chính như sau: xác lập ưu tiên; lập kế hoạch chính
sách và lập pháp; chuẩn bị dự thảo chính sách; chuẩn bị dự thảo luật; tham vấn
với các bộ; chuyển cho văn phịng chính phủ; thẩm định bởi văn phịng chính
phủ; quyết định bởi chỉnh phủ; công đoạn ở nghị viện; thực hiện; theo dõi và
đánh giá.
Về cơ bản, việc phân chia quy trình chính sách theo mấy giai đoạn khơng
phải là vấn đề quan trọng bởi lẻ đó đơn giản chỉ là sự mơ tả lại những nội dung,
mục đích và nhiệm vụ cần phải thực hiện trong cả một vòng đời của một chính
sách, nó khơng làm thay đổi bản chất hay chất lượng, hiệu quả của quy trình
chính sách. Đồng thời sự phân chia đó cũng chỉ là bước trừu tượng hóa trong tư
duy cịn thực tiễn chính sách cho thấy các bước, các giai đoạn ln có sự đan
xen, lồng ghép, bổ xung, hỗ trợ và tiếp nối nhau. Song để đảm bảo sự thống nhất
trong tiếp cận và triển khai nội dung ở các phần tiếp theo, tác giả lựa chọn cách
tiếp cận thứ hai với sự phân chia quy trình chính sách cơng thành bốn giai đoạn
chính.
1.3. Các chủ thể chính trong quy trình chính sách
Sự tham gia đông đảo của những cá nhân, tổ chức và nhóm xã hội khác
nhau trong đời sống chính sách cho thấy tính phức tạp và đa dạng của các chủ
thể chính sách. Theo tiến trình chính sách, có thể chia thành các nhóm chủ thể
cơ bản sau:
1.3.1. Những người làm chính sách
Những người làm chính sách là những tổ chức, nhóm xã hội hoặc cá nhân
mà những hành động cụ thể của họ trong thực tế ảnh hưởng quan trọng đến nội
dung cũng như kết quả cuối cùng của các chính sách. Xây dựng chính sách
khơng chỉ là cơng việc của các nhà lãnh đạo quản lý (các nhà ra quyết định
5
chính sách) và các chun gia (với vai trị tham mưu đề xuất phương án chính
sách) mà cịn được coi là trách nhiệm của những người thực hiện chính sách đó.
Chỉ riêng trong phạm vi ra quyết định chính sách, những người tham gia hình
thành chính sách có thể chia thành ba nhóm:
- Nhóm các nhà phân tích chính sách: là những người tổ chức hay cá nhân
chủ động tiến hành xem xét đánh giá các quy trình chính sách để chỉ ra những
mối quan hệ mang tính quy luật giữa các yếu tố cấu thành trong hoạt động chính
sách.
- Nhóm ảnh hưởng đến các quyết định chính sách, bao gồm các đồn thể,
tổ chức và cá nhân có quyền lợi liên quan (trực tiếp hoặc gián tiếp) đến việc ban
hành hay khơng ban hành chính sách.
- Nhóm các nhà quyết định chính sách, đó là các nhà chính trị (các cơ
quan và cá nhân có thẩm quyền chuẩn y và chịu trách nhiệm về các quyết định
chính sách).
1.3.2. Những người thực hiện chính sách
Những người thực hiện chính sách là những tổ chức, nhóm xã hội hoặc cá
nhân mà những hành động cụ thể của họ có tác dụng đưa các chính sách từ lý
thuyết trở thành hiện thực, từ đó tạo ra những biến đổi trong thực tế đời sống xã
hội. Lực lượng tham gia thực hiện chính sách cũng rất đông đảo, gồm các cơ
quan nhà nước; các tổ chức chính trị - xã hội ngồi nhà nước, nhân dân hoặc các
đối tượng của chính sách… Trong đó, chủ thể triển khai trước hết và quan trọng
nhất bao giờ cũng là các cơ quan hành chính cùng với các cơng chức của chúng,
bởi vì đây là các cơ quan có nhiệm vụ quản lý và tổ chức triển khai những công
việc hàng ngày của nhà nước.
1.3.3. Những người hưởng lợi của chính sách
Đó là những người được tiếp nhận (trực tiếp hoặc gián tiếp) các thành quả
hoặc lợi ích từ các chính sách của nhà nước. Tùy thuộc vào mục tiêu, đối tượng,
phạm vi tác động của chính sách mà có những nhóm hưởng lợi khác nhau.
Thơng thường, các tổ chức và cá nhân sau đây thuộc chủ thể được hưởng thụ lợi
ích từ chính sách:
6
- Những tổ chức và cá nhân nhất trí với nhà nước hoặc cơ bản là ủng hộ
nhà nước.
- Những người đại diện cho phương hướng phát triển của lực lượng sản
xuất của xã hội.
- Đa số thành viên xã hội
Tiếp cận chủ thể chính sách này chỉ là một cách phân loại khái quát và
tương đối phổ biến. Đó không phải là cách phân loại duy nhất và cũng chưa bao
quát hết các chủ thể, bởi trong từng giai đoạn chính sách cụ thể cũng có nhiều
nhóm chủ thể khác nhau.
7
CHƯƠNG 2.
NHỮNG BẤT CẬP VỀ CHÍNH SÁCH CƠNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Bất cập trong hoạch định chính sách cơng ở Việt Nam
CSC có vai trị cơ bản là cơng cụ hữu hiệu chủ yếu để Nhà nước thực
hiện, thể hiện, khẳng định, duy trì, phát triển chức năng, nhiệm vụ của mình
trong việc điều tiết, quản lý KT-XH và phục vụ người dân. CSC được xác định
là một chuỗi các quyết định của Nhà nước, ban hành, thực thi nhằm giải quyết
các vấn đề đang đặt ra trong đời sống KT-XH theo những mục đích, mục tiêu
xác định. CSC định hướng mục tiêu và tạo động lực cho các chủ thể, đối tượng
tham gia hoạt động KT-XH, phát huy mặt tích cực, hạn chế, khắc phục những
mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường, kiểm soát và phân bổ các nguồn lực, tạo
lập mơi trường thích hợp, nhân tố phù hợp và các yếu tố cân đối cho phát triển
KT-XH cũng như đòi hỏi, thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cấp, các
ngành vì mục tiêu chung. CSC có ý nghĩa chính trị, xã hội, pháp lý, khoa học và
thực tiễn quan trọng, to lớn đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, phát
triển KT-XH và hội nhập quốc tế.
Vì vậy, việc xây dựng, hoạch định CSC là khâu quyết định hàng đầu trong
toàn bộ chu trình CSC ở Việt Nam. Hoạch định CSC là khâu khởi đầu của chu
trình chính sách, được xây dựng thành quy trình, bao gồm trình tự các cơng
đoạn để hình thành, tạo nên từng CSC. Hoạch định CSC khoa học, phù hợp, dựa
trên cơ sở lý luận, thực tiễn, phản ánh và đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của xã
hội là tiền đề để chính sách đó đi vào cuộc sống, phát huy giá trị và mang lại
hiệu quả cao. Ngược lại, sẽ gây những tổn hại, thậm chí hậu quả tiêu cực trong
q trình quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống KTXH, không chỉ trước
mắt mà còn lâu dài và ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước đối với niềm tin xã
hội. Trong q trình thực hiện vai trị, chức năng quản lý, điều hành xã hội, Nhà
nước Việt Nam đã xây dựng, hoạch định và ban hành nhiều CSC. Các CSC này
cùng hệ thống chính sách, giải pháp tồn diện, đồng bộ khác đã phát huy giá trị,
8
hiệu quả góp phần vào những thành tựu tăng trưởng, phát triển kinh tế và tiến
bộ, công bằng xã hội của đất nước sau hơn 30 năm Đổi Mới. Công tác hoạch
định CSC đã khơng ngừng được hồn thiện, nâng cao cả về số lượng và chất
lượng. CSC từng bước được hoạch định, thực thi trên các lĩnh vực trọng yếu,
cấp bách, đáp ứng yêu cầu đặt ra về phát triển và hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường định hướng XHCN, an sinh xã hội, tổ chức bộ máy Nhà nước, quốc
phòng, an ninh, ngoại giao... Một số CSC quan trọng đã được hoạch định và ban
hành dựa trên cơ sở luận chứng khoa học, lý luận và thực tiễn vững chắc, thiết
thực hơn. Nhờ đó, Việt Nam đã bước đầu tạo lập được một hệ thống CSC đáp
ứng đòi hỏi ngày càng cao của quản lý Nhà nước, phục vụ chiến lược phát triển
KT-XH, có khả năng ứng phó với những biến động của tình hình trong nước,
quốc tế.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, kết quả đạt được, quy trình hoạch
định CSC ở Việt Nam vẫn cịn bộc lộ một số hạn chế, bất cập:
Một là, cơ sở xuất phát, các kiến nghị hoạch định chính sách và dự thảo
CSC về cơ bản vẫn mang tính chủ quan từ các cơ quan quản lý Nhà nước và quy
trình hoạch định CSC cịn mang tính khép kín, nội bộ. Việc dự thảo CSC thường
do các cơ quan quản lý Nhà nước cấp bộ hoặc tương đương, các cơ quan đặc
biệt của Chính phủ, ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
thực hiện. Có khơng ít CSC chủ yếu được hoạch định dựa trên nhận định, suy
luận, phân tích của cơ quan Nhà nước, trực tiếp là ý chí, mong muốn của từng
cơ quan quản lý Nhà nước, trong khi đó lại hạn chế hoặc rất ít CSC được hoạch
định căn cứ chính dựa vào sự tham gia đề xuất ý tưởng, nhu cầu, thực tế của đối
tượng mà CSC đó chi phối, ảnh hưởng. Đây là một trong những lý do cơ bản
khiến cho một số CSC khi ban hành, thực hiện, tính khả thi thấp, có thể nảy sinh
tình trạng cục bộ, có lợi hoặc chú trọng đến lợi ích của cơ quan quản lý Nhà
nước, lĩnh vực, địa bàn mình quản lý hơn là đến lợi ích tổng thể chung, thiếu sự
phối hợp giữa các cơ quan, bộ, ngành, địa phương, tạo nên tình trạng “khoảng
đậm hoặc khoảng trống” trong quản lý chính sách dẫn đến hiệu quả khơng như
mong muốn. Việc lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động, điều chỉnh trực
9
tiếp của chính sách cịn ít, nặng về hình thức, chưa thực sự rộng rãi, chưa đảm
bảo điều kiện đại diện tồn diện. Kênh thơng tin đối thoại giữa Chính phủ, các
cơ quan quản lý Nhà nước với các tổ chức, cá nhân và xã hội còn thiếu và khai
thác hiệu quả, chưa thể hiện tính chủ động, linh hoạt, thiếu quy định chặt chẽ, cụ
thể nhằm khích lệ, huy động, do đó chưa phát huy tối đa trí tuệ các tầng lớp xã
hội, đặc biệt là các chuyên gia, các nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn tham
gia vào quy trình hoạch định CSC.
Hai là, hoạch định CSC cịn có những khoảng trống, chưa theo kịp tình
hình thực tiễn. Đời sống KT-XH luôn vận động, phát triển, nảy sinh nhiều vấn
đề mới, nhiều vấn đề bức thiết đặt ra cần tác động, giải quyết nhưng CSC chưa
theo kịp hoặc chưa đề cập, can thiệp. Có những CSC đã được ban hành, nhưng
vì những lý do như việc hoạch định mang nặng tính chủ quan của cơ quan quản
lý Nhà nước, hạn chế trong nghiên cứu, cập nhật thực tế, tiếp thu ý kiến, đánh
giá tác động của CSC trước khi hoạch định, ban hành... nên ít hoặc khơng có
hiệu lực, cần phải điểu chỉnh, bổ sung, thay đổi.
Ba là, hạn chế trong tổ chức bộ máy và năng lực của đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức hoạch định CSC. Có thể khẳng định rằng, năng lực thực tế
hoạch định CSC của một bộ phận cán bộ công chức trong tổ chức bộ máy Nhà
nước ở Việt Nam cịn hạn chế, chưa mang tính chun nghiệp. Sự bất cập, hiệu
quả thấp, thậm chí cả những hậu quả tiêu cực của một số CSC trong thời gian
qua là minh chứng rõ nét cho điều đó. Tình trạng thiếu luận chứng khoa học, bỏ
sót vấn đề, tầm nhìn hạn hẹp, phiến diện... dẫn đến khi ban hành, thực thi CSC
bị lạc hậu, nảy sinh bất cập, không theo kịp, phản ánh đúng thực tiễn, nhu cầu,
vấp phải sự phản đối của dư luận xã hội nên phải điều chỉnh, sửa đổi.
Bốn là, ít thực hiện hoặc chưa thực sự chú trọng đến hoạt động phản biện
CSC. Phản biện CSC ngay từ khâu hoạch định chính sách ở những bước đầu
tiên là rất quan trọng. Thực tế trong thời gian qua, nhiều CSC không tổ chức tiến
hành công tác phản biện ở tất cả các khâu. Đây cũng là một lý do làm cho CSC
bị hạn chế, ít đi vào cuộc sống, hiệu quả thấp. Trong bối cảnh xây dựng, phát
triển kinh tế thị trường định hướng XHCN giai đoạn mới, đẩy mạnh CNH, HĐH
10
đất nước, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới thời đại cách mạng công
nghiệp 4.0, đã và đang đặt ra những đòi hỏi về đổi mới, nâng cao hiệu quả của
hoạch định CSC.
2.2. Bất cập trong thực hiện chính sách cơng ở Việt Nam
Thực thi CSC là khâu lớn thứ hai trong chu trình chính sách. Thực thi
CSC là tồn bộ q trình triển khai các hoạt động cụ thể trên cơ sở huy động, bố
trí sắp xếp các nguồn lực thực hiện việc đưa chính sách vào thực tế theo trình tự,
kế hoạch xác định nhằm đạt được mục tiêu đặt ra. Thực thi CSC được thực hiện
thơng qua hệ thống tổ chức, có sự tham gia của các lực lượng và nguồn lực.
Thực thi CSC bao gồm nhiều hoạt động, trong đó truyền thơng chính sách và tổ
chức thực hiện chính sách có ý nghĩa then chốt. Truyền thơng chính sách là hoạt
động quan trọng, xun suốt chu trình chính sách. Tuy nhiên, ở khâu thực thi
chính sách, truyền thơng CSC phải được chú trọng hơn, bởi nó vừa thể hiện vai
trị thơng tin, vừa tiếp nhận phản biện xã hội làm cơ sở điều chỉnh, đánh giá hiệu
quả của CSC. Tổ chức thực hiện CSC là những hoạt động trực tiếp, cụ thể để
đưa chính sách vào thực tế, thực tiễn đời sống KT-XH. Nhìn chung, trong thời
gian qua, việc thực thi các CSC ở Việt Nam phần lớn đã được triển khai khá bài
bản, đúng quy trình, phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu, nhưng
vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định.
Đó là những hạn chế, bất cập chủ yếu về tính kịp thời, đồng bộ, nhất quán
trong tổ chức thực hiện, nhất là ở một số chính sách về kinh tế - xã hội và môi
trường trong thời gian gần đây. Hoạt động tuyên truyền, phổ biến, thuyết phục,
vận động nhằm định hướng dư luận trong quá trình thực hiện chính sách chậm
được đổi mới về hình thức, phương pháp, nội dung; cịn nhiều biểu hiện hình
thức, "làm cho có"… nên kém hiệu quả. Cơng tác hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra
chưa kịp thời, thường xuyên và thiếu thực chất. Việc xử lý khiếu nại, tố cáo các
vi phạm pháp luật trong q trình thực hiện cịn chậm, nhiều trường hợp thiếu
công bằng, nghiêm minh đã ảnh hưởng xấu đến thực hiện CSC. Công tác tổng
kết thực tiễn, rút kinh nghiệm cho hoạch định và thực thi chính sách chưa được
coi trọng, chưa làm thường xuyên, kịp thời. Trong một thời gian dài, hoạt động
11
này chưa thật sự được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quan tâm, coi trọng
do sự bất cập trong tư duy làm chính sách. Điều này khơng chỉ đúng với quy
trình chính sách của chính quyền địa phương mà cịn của Chính phủ, các bộ,
ngành.
Trong những năm gần đây, thực tiễn cho thấy xã hội đã bắt đầu ý thức rõ
hơn về vai trò quan trọng của hoạt động này trong tổng thể quy trình chính sách.
Tuy vậy, xét về tổng thể, hoạt động phân tích, đánh giá CSC cịn ở trong tình
trạng lẻ tẻ, rời rạc, hình thức; khơng có nhiều những sản phẩm nghiên cứu có
tầm cỡ về nội dung, chất lượng và quy mô để có thể tạo ra được những đột phá
về chính sách trong từng lĩnh vực. Vì những lý do rất khác nhau mà những kết
quả nghiên cứu, phân tích, đánh giá CSC được ứng dụng vào thực tế một cách
hữu ích chưa nhiều, gây lãng phí, thiệt thịi cho tồn bộ quy trình CSC hoặc từng
cơng đoạn trong đó. Việc tiếp thu các kết quả phân tích, đánh giá CSC từ phía
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cịn rất dè dặt, cứng nhắc; thậm chí có
những trường hợp tỏ thái độ phân biệt, phê phán, "chụp mũ"… Số lượng các cơ
quan hoặc cá nhân nghiên cứu về CSC chưa đủ để đáp ứng nhu cầu thực tế của
lĩnh vực này, trong đó bản thân họ cũng gặp những khó khăn nhất định về khung
pháp lý và phản ứng của một số cơ quan nhà nước.
2.3. Bất cập trong đánh giá chính sách cơng ở Việt Nam
Mặc dù là một khâu quan trọng trong quy trình chính sách, song ở Việt
Nam, nhiều chính sách khơng được quan tâm đánh giá. Tình trạng đó xuất phát
từ các lý do sau đây:
Thứ nhất, nhận thức về đánh giá chính sách cịn đơn giản.
Điều đó được biểu hiện:
- Đồng nhất chính sách với một văn bản đơn lẻ. Mặc dù chính sách được
thể chế hóa trong văn bản pháp luật, song khơng thể đồng nhất chính sách với
một văn bản đơn lẻ. Thậm chí có những chính sách lớn lại là tập hợp của những
chính sách bộ phận. Chẳng hạn, chính sách xóa đói, giảm nghèo bao gồm chính
sách hỗ trợ người nghèo thơng qua các chương trình mục tiêu quốc gia, chính
sách miễn giảm học phí cho người nghèo, chính sách khám, chữa bệnh miễn phí
12
cho người nghèo... Do đó, việc đánh giá chính sách thường khá phức tạp, địi hỏi
có cách nhìn tổng thể.
- Coi đánh giá chính sách là việc của cơ quan ban hành chính sách, nên
chờ đợi khi cơ quan này có chủ trương hoặc yêu cầu cụ thể mới tổ chức triển
khai đánh giá.
- Tách biệt giữa đánh giá nội dung chính sách (thể hiện qua văn bản) với
đánh giá việc thực thi chính sách. Đơi khi, chúng ta rơi vào các nhận xét phiến
diện: hoặc cho rằng các chính sách ban hành là đúng đắn, thường chỉ sai phạm
trong khâu thực thi; nhưng có lúc lại che lấp các hạn chế trong thực thi chính
sách bằng cách đổ lỗi cho sự không phù hợp của các quy định pháp luật.
Thứ hai, các cơ quan chức năng thường không quan tâm tổ chức đánh giá
chính sách. Trên thực tế, rất ít chính sách được tổ chức đánh giá một cách
nghiêm túc, bài bản. Nhiều cơ quan có thẩm quyền (cơ quan ban hành chính
sách hoặc chủ trì tổ chức thực hiện chính sách) khơng đưa việc đánh giá chính
sách vào chương trình hoạt động của mình. Có thể nêu ra nhiều ngun nhân
của tình trạng này: do khơng có đủ nhân lực, khơng có nguồn lực tài chính để
đánh giá, do chính sách được thực hiện rất “bình lặng” khơng gây ra vấn đề gì,
do bản thân các cơ quan này khơng muốn “tự phán xét” các chính sách do mình
ban hành và thực thi... Đương nhiên, việc đánh giá chính sách khơng chỉ do các
cơ quan nhà nước tiến hành. Các đánh giá chính sách có thể được phản ánh qua
công luận, qua ý kiến của nhân dân, của các tổ chức chính trị - xã hội. Song sự
đánh giá từ bên ngồi nhà nước sẽ chỉ có giá trị thực sự nếu được các cơ quan
nhà nước tiếp nhận, tổng hợp và rút kinh nghiệm. Trong khơng ít trường hợp, sự
đánh giá lẻ tẻ, tự phát của nhân dân bị bỏ qua. Nếu thiếu sự chủ trì của các cơ
quan chức năng, thì việc đánh giá cũng ít có tác động đến các nhà hoạch định và
thực thi chính sách.
Thứ ba, việc xem xét lại chính sách đơi khi chỉ được thực hiện khi xuất
hiện “vấn đề”. Trong một số trường hợp, các chính sách vẫn “bình n” trong
một thời gian dài, chỉ đến khi “vấp váp” trong thực tiễn, người ta mới nhận ra
được những “lỗ hổng” của chính sách.
13
Thứ tư, thiếu các tiêu chí để đánh giá chính sách một cách khoa học. Khi
đánh giá chính sách, người ta thường so sánh các kết quả đạt được với mục tiêu
chính sách ban đầu. Việc đánh giá chính sách sẽ dễ dàng nếu các mục tiêu chính
sách được thể hiện dưới dạng định lượng, chẳng hạn như tốc độ gia tăng dân số,
tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường... Song, trên thực tế đa số các
mục tiêu chính sách được thể hiện dưới dạng định tính, nhiều khi mục tiêu
khơng rõ ràng, trong trường hợp đó việc đánh giá chính sách theo mục tiêu đề ra
có thể khơng phản ánh hết các giá trị của chính sách. Để đánh giá chính sách, về
nguyên tắc, phải có các bộ tiêu chí đánh giá được thiết kế đối với từng loại chính
sách. Việc thiếu các tiêu chí đánh giá khiến cho việc đánh giá khơng tồn diện,
đầy đủ, mang tính phiến diện. Chẳng hạn, đánh giá về chính sách xóa đói, giảm
nghèo ở Việt Nam, có thể thấy kết quả rất khả quan với việc giảm tỷ lệ nghèo từ
22% năm 2005 xuống còn 10,7% năm 2010 theo chuẩn nghèo giai đoạn 2006 2010. Song, nếu đi vào đánh giá tác động của các chính sách cụ thể tới người
nghèo thì thấy cịn rất nhiều hạn chế. Chẳng hạn, Chương trình 135 trong giai
đoạn 2006 - 2010 tuy đã chi hơn 14.000 tỉ đồng, chưa tính đến giá trị cơng sức
đóng góp của dân, nhưng đến năm 2010, mới chỉ có 113 xã, chiếm 6% số xã
được hưởng thụ Chương trình, được “xóa tên” khỏi diện nghèo. Ở một số tỉnh
có số xã cịn tỷ lệ nghèo cao, như Lạng Sơn: 49%, Điện Biên: 50%, Quảng
Bình: 49,34%, Quảng Nam: 48,78%, Quảng Ngãi: 49,94%.
Thứ năm, đánh giá chính sách đơi khi mang tính một chiều, chỉ phản ánh
nhận xét của các cơ quan nhà nước mà không quan tâm đủ mức đến sự phản hồi
từ xã hội, từ những đối tượng mà chính sách hướng vào. Mặc dù đánh giá của
các cơ quan nhà nước về chính sách có thuận lợi do họ nắm rất rõ về chính sách
và q trình thực hiện chính sách, nhưng cách làm này có thể dẫn đến chỗ các
kết quả đánh giá chịu sự chi phối của chính những người làm ra và vận hành
chính sách đó, việc chỉ ra các sai sót của bản thân họ sẽ gặp phải rào cản tâm lý
mạnh mẽ và nhiều khi bị bóp méo theo ý muốn chủ quan. Vì vậy, khi đánh giá
chính sách, ít cơ quan tổ chức các cuộc khảo sát lấy ý kiến phản hồi từ nhân dân
hay các đối tượng hưởng lợi một cách rộng rãi, công khai. Trong một số trường
14
hợp các cơ quan chức năng đã tổ chức thu thập ý kiến phản hồi từ các phương
tiện truyền thông, hay tổ chức các buổi đóng góp ý kiến thơng qua các đồn thể
chính trị - xã hội. Tuy nhiên, không phải lúc nào các ý kiến này cũng phản ánh
đầy đủ và chính xác những vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra liên quan đến chính
sách được đánh giá.
Thứ sáu, thiếu kinh phí dành cho việc đánh giá chính sách. Các cơ quan
thường dành nguồn kinh phí có hạn của mình để triển khai các cơng việc mới
(nhằm tạo ra những kết quả mới) hơn là dùng kinh phí đó để xem xét lại những
gì đã làm.
15
CHƯƠNG 3.
GIẢP PHÁP KHẮC PHỤC NHỮNG BẤT CẬP
VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. Giải pháp về hoạch định chính sách
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả cơng tác hoạch định CSC ở Việt Nam
hiện nay, cần chú trọng vào các giải pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, cần phải thiết lập một quy trình xây dựng, hoạch định CSC với
sự tham gia thực chất, mở rộng và phối hợp tham dự một cách có hiệu quả của
tất cả các bên, bao gồm cơ quan Nhà nước hoạch định chính sách, Chính phủ,
đối tượng chịu tác động của chính sách, các tổ chức chính trị - xã hội, đồn thể
quần chúng, người dân, các nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý và hoạt động
thực tiễn.
Thứ hai, tăng cường và nâng cao hiệu quả các kênh thông tin để cơ quan
hoạch định CSC lắng nghe, tiếp thu ý kiến rộng rãi, đa chiều trong quy trình
hoạch định chính sách. Xuất phát từ thực tế, lấy ý kiến sâu rộng và chọn lọc
thông tin là cơ sở, nền tảng để xây dựng, hoạch định CSC sát với nhu cầu và
thực tiễn sinh động của đời sống KT-XH.
Thứ ba, thành lập các nhóm chuyên gia, các cơ quan nghiên cứu, các
nhóm nghiên cứu độc lập, đồng thời có cơ chế cạnh tranh trong ý tưởng chính
sách, xây dựng, hoạch định CSC. Đội ngũ nịng cốt, chun gia làm cơng tác
hoạch định CSC phải có đủ trình độ, năng lực, có phẩm chất trí tuệ, đạo đức, có
tầm nhìn bao qt và biết cầu thị, lắng nghe trong quá trình lấy ý kiến, phản biện
chính sách. Thực hiện giải pháp này sẽ phá vỡ tính đặc quyền, từ đó đảm bảo
tính khách quan, công bằng, khoa học và dân chủ thực sự trong hoạch định CSC.
Thứ tư, đổi mới quy trình hoạch định CSC, từ chỗ là nhiệm vụ chính, thể
hiện chức năng mang tính chất đóng và khép kín của cơ quan Nhà nước sang
tính chất mở, trở thành mối quan tâm chung và trách nhiệm chung của toàn xã
hội.
16
Thứ năm, chú trọng thực hiện công tác phản biện CSC. Xác định phản
biện CSC ngay từ giai đoạn hoạch định chính sách là rất cần thiết và có ý nghĩa
quan trọng. Phản biện CSC bên cạnh việc chỉ ra, phê phán, phản đối những yếu
tố bất hợp lý hay bất đồng, xung đột lợi ích cần làm rõ, ủng hộ những yếu tố
đúng đắn, phù hợp, đi đến sự thống nhất, đồng thuận để hoạch định CSC. Phản
biện CSC được thực hiện thơng qua các hình thức tham dự, lấy ý kiến, lắng nghe
cơng chúng, tham vấn phi chính thức và phản biện có trọng tâm.
3.2. Giải pháp về thực hiện chính sách
Để khắc phục hạn chế, nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện CSC ở
Việt Nam, trong thời gian tới, cần tập trung vào một số giải pháp sau:
Một là, đẩy mạnh, mở rộng, đổi mới hình thức và nâng cao chất lượng,
hiệu quả công tác tuyên truyền, thông tin, phổ biến CSC đến tất cả các tầng lớp
nhân dân và toàn xã hội.
Hai là, chuẩn bị tối ưu các nguồn lực cho việc thực thi CSC, trong đó đặc
biệt là nguồn lực con người với đầy đủ phẩm chất, năng lực, trình độ chun
mơn, thái độ và kỹ năng tác nghiệp chuyên nghiệp.
Ba là, tổ chức thực thi CSC một cách khoa học, hợp lý, gắn việc phân
công trách nhiệm cụ thể với cơ chế kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm việc thực
hiện chính sách và ở các cấp, các ngành, các tổ chức và cá nhân. Bốn là, cụ thể
hóa CSC bằng những chương trình hành động, kế hoạch thực hiện, ban hành văn
bản hướng dẫn, đồng thời linh hoạt và điều chỉnh việc thực thi CSC trên cơ sở
tiếp thu ý kiến, phản biện xã hội và triển khai thực tiễn ở từng giai đoạn.
3.3. Giải pháp về đánh giá chính sách
Để tăng cường và nâng cao giá trị, hiệu quả của đánh giá CSC ở Việt Nam
hiện nay, qua đó hồn thiện chu trình CSC, cần chú ý một số giải pháp sau đây:
Thứ nhất, phải xác định và thực hiện cơng tác đánh giá chính sách là một
nội dung, u cầu, hoạt động động bắt buộc trong chu trình chính sách đối với
tất cả CSC chứ không chỉ là những chính sách được coi là quan trọng.
Thứ hai, cần có kế hoạch đánh giá chính sách và xây dựng lịch trình, lộ
trình đánh giá cụ thể đối với từng CSC. Trong kế hoạch đánh giá phải xác định
17
rõ, đầy đủ mục tiêu, phạm vi, chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp và tiêu
chí đánh giá.
Thứ ba, xây dựng các tiêu chí đánh giá CSC đảm bảo khoa học, đầy đủ và
phù hợp, bao gồm các tiêu chí về tính hiệu lực của chính sách; tính hiệu quả của
chính sách; tính cơng bằng của chính sách; tác động của chính sách đối với đối
tượng đích; mức độ giải quyết vấn đề của chính sách.
Thứ tư, xây dựng đội ngũ đánh giá chính sách đủ năng lực, đồng thời có
cơ chế kiểm sốt, giám sát và nguồn lực cho hoạt động đánh giá CSC.
Thứ năm, quan tâm đến dư luận xã hội, đóng góp của chuyên gia, ý kiến
phản hồi, nguyện vọng của nhân dân để nhận biết các hạn chế, bất cập trong quá
trình hoạch định, thực thi chính sách nhằm đảm bảo tính khách quan trong đánh
giá CSC. Kết luận Nghiên cứu về chu trình CSC ở Việt Nam cho thấy, bên cạnh
những ưu điểm, kết quả đạt được, trong các khâu, các giai đoạn, các bước của
chu trình vẫn bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định. Để CSC thực sự bám sát,
đáp ứng yêu cầu thực tiễn, khẳng định tính chất và bản chất CSC của Nhà nước
XHCN, của dân, do dân và vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chu trình CSC ở
Việt Nam phải có những đổi mới trong các khâu của chu trình. Trên cơ sở tìm
hiểu, phân tích kết quả, hạn chế ở các khâu cơ bản của chu trình CSC của Việt
Nam, bài viết đã tổng hợp, đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy, nâng cao
hiệu quả của chu trình CSC hiện nay ở Việt Nam.
18
KẾT LUẬN
CSC có tính khoa học hay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực. Tính
khoa học của CSC thể hiện ở tính khách quan, cơng bằng tiến bộ và sát với thực
tiễn. Nếu CSC mang tính chủ quan duy ý chí của nhà nước sẽ trở thành rào cản
kìm hãm sự phát triển của xã hội. Điều này cũng có nghĩa là nếu quy trình chính
sách cơng khi ban hành của nhà nước bất thành, sẽ ảnh hưởng đến uy tín và vai
trị của nhà nước. Vì vậy nghiên cứu những vấn đề bất cập của chính sách cơng
ở Việt Nam sẽ giúp chúng ta có nhận thức đúng về nó, từ đó có những giải pháp
khắc phục được tốt nhất. Nếu CSC nhà nước ban hành đảm bảo các yếu tố khách
quan, công bằng và tiến bộ, phù hợp với lòng dân và xã hội, phù hợp với ý chí,
nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân thì sẽ được người dân và
xã hội ủng hộ, chính sách đó sẽ được thực hiện trong cuộc sống một cách nhanh
chóng, hiệu quả uy tín và vai trò của nhà nước được đề cao tối đa.
19