Tải bản đầy đủ (.pdf) (19 trang)

Tiểu luận chính sách công một số chính sách tiêu biểu trong lịch sử phong kiến việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (782.89 KB, 19 trang )

2

MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC

2

MỞ ĐẦU

3

CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH
CƠNG Ở VIỆT NAM THỜI KỲ PHONG KIẾN

5

1.1. Khái qt về chính sách cơng

5

1.2. Chủ thể của hoạch định chính sách trong lịch sử

7

CHƯƠNG 2. KHÁI QUÁT MỘT SỐ CHÍNH SÁCH TIÊU BIỂU
TRONG LỊCH SỬ PHONG KIẾN VIỆT NAM

10

2.1. Chính sách trọng nơng



10

2.2. Chính sách dân tộc

11

2.3. Chính sách ngoại giao hòa hiếu

14

CHƯƠNG 3. BÀI HỌC ĐƯỢC RÚT RA TỪ CÁC CHÍNH
SÁCH THỜI PHONG KIẾN VIỆT NAM

17

3.1. Giữ vững chủ nghĩa yêu nước, tinh thần độc lập tự chủ và lấy dân
làm gốc

17

3.2. Bình đẳng đối với mọi dân tộc

17

3.3. Luôn mở rộng các quan hệ ngoại giao để phát triển đất nước

18

KẾT LUẬN


19

TÀI LIỆU THAM KHẢO

20


3

MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn vấn đề nghiên cứu
Trải qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, sự hưng thịnh
và suy vong của các triều đại phong kiến và các chính sách của triều đại đó đã để
lại dấu ấn sâu đậm trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, được thể hiện thông
qua hột số tác phẩm tiêu biểu như: Đại Việt sử ký tồn thư, Lịch triều Hiến chương
loại chí, Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục, Luật Hồng Đức, Hồng
Việt luật lệ... Thơng qua các nguồn tư liệu. có thể nhận định rằng, các chính sách
nhà nước không phải do một bộ hay cơ quan chuyên trách nào của triều đình có
nhiệm vụ khởi xưởng và xây dựng, mà sự ra đời của chúng là để giải quyết những
vấn đề cụ thể. Trong những bối cảnh khác nhau, chính sách về một lĩnh vực, vấn
đề nào đó có thể khởi nguồn từ sự tấu trình của các quan trong triều, các quan lại
địa phương hay đề xuất của chính nhà vua. Khi một quyết định được ban hành,
mọi thần dân đều phải tuân phục một cách tuyệt đối.
Trong suốt chiều dài lịch sử đó, có một số chính sách đặc biệt quan trọng,
có ảnh hưởng đến sự an nguy quốc gia, luôn được chú trọng và kế thừa giữa các
triều đại. Những chính sách đó đã được những người có chun mơn học hỏi và
rút ra những kinh nghiệm để áp dụng vào cuộc sống hiện đại ngày nay. Từ những
chính sách đó, con người đã rút ra được rất bài học quý giá cho việc phát huy
những giá trị của chính sách cơng sau này. Vì vậy, tơi đã lựa chọn đề tài “Một số

chính sách tiêu biểu trong lịch sử phong kiến Việt Nam” cho bài tiểu luận này.
2. Những cơng trình nghiên cứu có liên quan
Chính sách dân tộc của các Vương triều phong kiến Việt Nam, chính sách
nơng nghiệp của Nhà nước phong kiến Đại Việt từ đầu thế kỷ XI đến đầu thế kỷ
XVI...


4

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: hiểu được các vấn đề chung của chính sách cơng Việt
Nam thời kỳ phong kiến và một số chính sách tiêu biểu trong lịch sử phong kiến
Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu: tìm hiểu về một số vấn đề chung về chính sách cơng
ở Việt Nam thời kỳ phong kiến, khái quát được một số chính sách tiêu biểu trong
lịch sử phong kiến Việt Nam, rút ra được những bài học từ các chính sách thời kỳ
phong kiến Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: một số chính sách tiêu biểu
Phạm vi nghiên cứu: Việt Nam, thời kỳ phong kiến
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề chính sách
thời kỳ phong kiến, các chính sách của Nhà nước thời kỳ phong kiến.
Phương pháp nghiên cứu: đề tài sử dụng phương pháp luận biện chứng duy
vật với các phương pháp cụ thể như: thống nhất logic và lịch sử, phân tích, tổng
hợp, khái qt hóa và hệ thống hóa.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương
8 Tiết.



5

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG Ở
VIỆT NAM THỜI KỲ PHONG KIẾN
1.1. Khái quát về chính sách cơng
1.1.1. Khái niệm chính sách cơng
Chính sách cơng và khoa học về chính sách cơng là một trong những vấn
đề hệ trọng của chính trị và khoa học chính trị, tuy nhiên cho đến nay trên thế giới
cũng như ở nước ta nhận thức về vấn đề này vẫn chưa thống nhất. tham chỉ của cú
những quan niệm trái ngược nhau.
Ở nước ta, chính sách cơng thường được hiểu là chính sách. Song, thuật ngữ
chính sách cũng được hiểu theo nghĩa hẹp - là những chủ trương cụ thể của Nhà
nước trong một lĩnh vực nào đó. Một số cơng trình đã cố gắng đưa ra quan mệm
về chính sách. "Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối,
nhiệm vụ; chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những
lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất nội dung và phương hướng của chính sách tùy
thuộc tính chất của dường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội...”[10,
tr.475]. Các nhà nghiên cứu đã có cách tiếp cận cụ thể hơn: "Chính sách cơng là
chương trình hành động hướng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực cơng
cộng... Đó là chương trình hoạt động được suy tính một cách khoa học, liên quan
với nhau một cách hữu cơ và nhằm những mục đích tương đối cụ thế chủ thể hoạch
định chính sách cơng nắm quyền lực nhà nước chính sách cơng bao gồm những gì
được thực sự thi hành chứ không phải chỉ những lời tuyên bổ”; hoặc “Chính sách
cơng là những hành động ứng xử của nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời
sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã
hội phát triển”. Về cơ bản, các định nghĩa về chính sách cơng tập trung vào chính



6

sách quốc gia - những chương trình hành động của chính phủ nhằm đạt được cá
mục tiêu nhất định.
Từ những đặc điểm nêu trên có thể định nghĩa: chính sách công là quyết
định của các chủ thế quyền lực nhà nước, nhằm quy định mục đích, cách thức và
chế định hành động của những đối tượng liên quan, để giải quyết những vấn đề
nhất định mà xã hội đặt ra. Đó là tổng thể các chuẩn mực, biện pháp mà nhà nước
sử dụng để quản lý xã hội. (3, tr.16)
1.1.2. Vai trị chung của chính sách cơng
Vai trị định hướng: Trên thực tế chính sách của các quốc gia là chủ trương
tương đối dài hạn của nhà nước nhằm hướng dẫn, khai thông con đường phát triển
của đất nước. Là những quy phạm hành vi, chính sách góp phần định hướng hoạt
động của các chủ thể trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội theo những mục tiêu,
phương hướng, kế hoạch xác định của nhà nước. Đồng thời, nó cũng hướng dẫn
việc sử dụng và tận dụng các nguồn nhân tài, vật lực để giải quyết những vấn đề
mà nhà nước quan tâm.
Vai trị kích thích phát triển: chính sách công được ban hành hướng vào giải
quyết một vấn đề bức xúc đang đặt ra trong đời sống xã hội, làm cho sự vật phát
triển lên một bước. Phần lớn chính sách cơng có vai trị kích thích, tạo ra động lực
mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế - xã hội (dây là điểm khác biệt của chính sách
cơng với các cơng cụ quản lý khác).
Vai trị điều tiết: các chính sách là cơng cụ để nhà nước điều tiết các quan
hệ lợi ích (nhất là các quan hệ lợi ích vật chất). Trong xã hội có nhiều chủ thể cùng
theo đuổi những lợi ích với nhau, sự khác biệt (thậm chí xung đột) về lợi ích là
điều khó tránh khỏi. Các chính sách có vai trị điều tiết sự mất cân bằng hoặc
những hành vì khơng phù hợp nhằm bảo đảm sự ổn định, phát triển của xã hội và


7


bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Chẳng hạn, nhà nước có thể sử dụng các chính
sách để điều tiết nền kinh tế thị trưởng như chính sách thuế chính sách giá cả,
chính sách cho vay vốn đối với các hộ nơng dân nghèo, chính sách đầu từ chính
sách xuất nhập khẩu...(4, tr.23-24)
1.2. Chủ thể của hoạch định chính sách trong lịch sử
Về cơ bản, chủ thể hoạch định chính sách của các triều đại phong kiến là
nhà vua có quyền quyết định và phê chuẩn chính sách duy nhất, bên cạnh đó có
lục bộ: Bộ Lại (nhân sự), Bộ Hộ (tài chính), Bộ Lễ (nghi thức), Bộ Binh (qn sự),
Bộ Hình (luật pháp), Bộ Cơng (xây dựng). Sáu bộ giữ vai trị là các trụ cột chính
của tồn bộ bộ máy hành chính của nhà nước phong kiến trung ương tập quyền.
Các chính sách được ban hành dưới hình thức sắc lệnh, chiếu thư, chỉ dụ, luật... ở
các lĩnh vực khác nhau được xây dựng và triển khai thông qua sáu bộ này. Các cơ
quan chức năng khác của triều đình như Hàn lâm viện, Quốc tử giám, Đơ sát ty...
cũng có vai trị trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào việc hoạch định chính sách.
Tuy nhiên, về nguyên tắc mọi chính sách, trực tiếp hay gián tiếp, đều phải do nhà
vua đích thân quyết định. Đặc điểm này quy định rằng, mọi tấu trình dù xuất phát
từ đầu và nội dung thế nào chỉ có thể trở thành một chính sách thực sự sau khi đã
được nhà vua phê chuẩn, nếu khơng nó sẽ vĩnh viễn không được áp dụng trên thực
tế. Nét đặc trưng của các chính sách thời phong kiến Việt Nam là ở những mức độ
khác nhau. chủ yếu dựa trên cơ sở “lấy dân làm gốc", hướng tới xây dựng đất nước
giàu mạnh, xã hội ổn định.
Chức năng cụ thể của từng bộ: Bộ Lại (nhân sự): Đây là một bộ rất quan
trọng vì nó có chức năng giúp vua quản lý toàn bộ đội ngũ quan lại trong cả nước,
là xương sống của nền quân chủ. Chịu trách nhiệm tuyển bổ, thăng giáng và bãi
miễn các chức quan từ tam phẩm trở xuống. Về thể lệ tuyển bổ, thời gian tuyển bổ


8


quan lại hằng năm đều có một lần bổ quan về các chức khuyết, sáu năm có một
lần thuyên chuyển và tuyển bổ lớn. Thủ tục sát hạch thăng giáng: các quan lại ở
bộ lại kết hợp với các quan ở ngự sử đài cùng xem xét, giám sát việc sát hạch và
thăng giáng.
Bộ Hộ (tài chính): Quản lý quốc khố và các kho tàng dự trữ của triều đình;
phát hành tiền và quản lí việc lưu thơng tiền giấy, tiền đúc; thu các khoản tô thuế
hàng năm; phát lương bổng, cấp ruộng đất cho quan lại, binh lính và cấp tiền cho
việc chi tiêu của triều đình; quản lí các đồ cống nạp và đồ nhận cống nạp; trông
coi việc cân đối thu chi, của triều đình và tổng kết hàng năm dâng tấu lên vua.
Quản lí hộ tịch và nhân khẩu.
Bộ Lễ (nghi thức): Lo việc lễ nghi, tế tự, bộ Lễ tổ chức các tế lễ theo đúng
các thủ tục lễ nghi như: lễ đăng quang, lễ tang vua chúa, lễ mừng thọ, tiếp đón sứ
thần nước ngoài, tế lễ hàng năm, tổ chức yến tiệc,...Lo việc ngoại giao với Trung
Hoa và các nước lân bang. Giám sát việc giáo dục và thi cử trong toàn quốc, chọn
người tài ra giúp triều đình.
Bộ Binh (quân sự): Tuyển quân, huấn luyện quân; tổ chức diễn tập hàng
năm; tuyển chọn tướng sối, võ quan; chuẩn bị khí giới, xe pháo, voi ngựa, thuyền,
nhà trạm cho quân đội, tổ chức biên chế quân đội ở các địa phương, giám sát thực
hiện quân lệnh, tổ chức canh phòng biên giới; đối phó với tình huống qn sự khẩn
cấp.
Bộ Hình (luật pháp): Xét xử các vụ án nghiêm trọng, thi hành pháp luật và
giám sát thi hành pháp luật, thực hiện truy nã, quản lí ngục tù, góp ý với nhà vua
về sửa các điều luật và hình phạt cho phù hợp.
Bộ Công (xây dựng): Trông coi việc xây dựng thành lũy, đắp đê, xây dựng
cầu cống đường sá, việc thổ mộc, tu sửa các cơng trình khi cần thiết, xây dựng


9

lăng tẩm cho các vua chúa. Quản đốc thợ thuyền và công việc trong các công

xưởng của nhà nước, xưởng làm vũ khí, xưởng đúc tiền, chế tạo đồ dùng của vua
và quan lại. Đóng tàu thuyền cho thủy binh.(9)
Các cơ quan chức năng khác của triều đình:
Hàn lâm viện: soạn thảo văn kiện triều đình như chiếu, chỉ, sắc, dụ, chế.
Đô sát ty: giám sát thi hành luật pháp và các quy tắc triều đình ban hành từ
trung ương đến địa phương.
Quốc tử giám: tham mưu các chính sách về giáo dục.
Hình thức ban hành: sắc lệnh, chiếu thư, chỉ dụ, luật…
Mục tiêu: Xây dựng đất nước văn hiến, cường thịnh, thống nhất và độc lập
tự chủ. Tuyên truyền giáo dục ý thức, chủ nghĩa yêu nước, kết hợp các biện pháp
kinh tế, hạn chế dùng biện pháp cưỡng chế.(2)
Do điều kiện lịch sử đặc thù của xã hội Việt Nam - là một quốc gia nhỏ bé
luôn phải đấu tranh chống lại thiên tai, lũ lụt và giặc ngoại xâm để tồn tại và phát
triển, đã tạo nên một sự cố kết dân tộc mạnh mẽ và chủ nghĩa yêu nước nồng nàn
- cho nên các nhà nước phong kiến thường sử dụng các phương pháp tuyên truyền
giáo dục ý thức hệ phong kiến, chủ nghĩa yêu nước truyền thống làm động lực trên
cơ sở kết hợp với các biện pháp kinh tế để thực hiện các chính sách. Ít khi dùng
các biện pháp cưỡng chế. Khi chính quyền phải áp dụng các biện pháp có tính
cưỡng chế để thực hiện chính sách của mình thi đó là dấu hiệu suy thoái của một
triều đại. Điều này đã minh chứng rõ nét trong thực tiễn chính trị, điển hình là các
chính sách thời nhà Hồ ở nước ta. (5, tr.272-273)


10

CHƯƠNG 2. KHÁI QUÁT MỘT SỐ CHÍNH SÁCH TIÊU BIỂU TRONG
LỊCH SỬ PHONG KIẾN VIỆT NAM
2.1. Chính sách trọng nơng
2.1.1. Điều kiện ra chính sách và định nghĩa
Điều kiện ra chính sách: Vì đại đa số dân cư nước ta là nông dân, nông

nghiệp là nguồn sống chủ yếu, là vấn đề sinh tồn của dân tộc nên các triều đại ln
thi hành chính sách trọng nơng.
Định nghĩa: Chính sách trọng nơng nghĩa là chú trọng và khuyến khích phát
triển nông nghiệp.
2.1.2. Đặc điểm
Nhà nước thường xuyên tổ chức và huy động lực lượng khai khẩn đất hoang,
họ đê, đào mương, lấn biển, giúp đỡ nơng dân lúc khó khăn, giảm thuế khi mất
mùa... Từ thời Lý, chính sách “ngụ binh ư nơng” được áp dụng phổ biến. Trong
thời bình thì nhà nước sử dụng binh lính vào các cơng việc đồng áng, thuỷ lợi để
tăng cường lực lượng cho sản xuất nông nghiệp. Đây là sáng kiến nảy sinh từ thực
tiền của một quốc gia đất không rộng, người khơng đơng phải thường xun đối
phó với sự uy hiếp của các thế lực ngoại bang.
2.1.3. Ưu điểm và nhược điểm
Ưu điểm: Tăng cường lực lượng cho sản xuất nông nghiệp, phù hợp nhất
định với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất là nhân tố quan trọng trong thúc
đẩy nơng nghiệp phát triển.
Tuy nhiên, bản thân chính sách trọng nơng cũng có những mặt tiêu cực: nó
xuất phát từ quyền lợi của địa chủ phong kiến nhằm bóc lột nông dân. Trong thứ
bậc xã hội, nghề nông chỉ ở sau nghề sĩ (trí thức), trọng nơng khinh thương đề cao
nông nghiệp như "nghề gốc", coi thường, kiềm chế các nghề khác được xem là


11

“nghề ngọn" (cơng, thương). Chính sách trọng nơng đã tập trung tất cả nhân lực
vào nơng nghiệp, trói buộc người nơng dân vào ruộng đất để bóc lột và do vậy đã
hạn chế sự phát triển của công nghiệp, thương nghiệp, đặc biệt là ngoại thương.
Do đặc điểm dất nước có hàng chục dân tộc sinh sống, hầu hết các dân tộc
thiểu số cư trú ở các vùng biên giới, nơi “phên giậu” của Tổ quốc, vì vậy các triều
đại phong kiến thường rất quan tâm đến chính sách dân tộc. Nhà nước ưu tiên

trong thu thuế, ra chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc
bám đất, bám rừng. Để “lấy lòng" các tù trưởng, thủ lĩnh các dân tộc thiểu số, các
nhà vua thường ban phát bổng lộc, trao chức tước danh dự, thậm chí gả con gái
cho họ để họ gắn kết, trung thành với triều đình. Nhà nước tơn trọng phong tục tập
qn của các dân tộc (trong Luật Hồng Đức có quy định các dân tộc thiểu sẽ được
xét xử tội phạm theo phong tục, tập qn của mình). Chính vì vậy, trong các cuộc
kháng chiến chống ngoại xâm cũng như trong thời bình, các dân tộc thiểu số là lực
lượng quan trọng, góp phần to lớn trong bảo vệ biên giới, chủ quyền quốc gia. (6,
tr.274-275)
2.2. Chính sách dân tộc
2.2.1. Điều kiện ra chính sách và định nghĩa
Là một quốc gia đa dân tộc, từ rất sớm, các dân tộc ở nước ta đã góp phần
xứng đáng trong tiến trình dựng nước và giữ nước của cộng đồng dân tộc Việt
Nam, làm nên bức tranh phong phú, đa dạng về lịch sử - kinh tế - văn hóa - xã
Nam ở nước ta. Để vượt qua bão táp của lịnh sử, chống lại các cuộc chiến tranh
xâm lược tàn khốc, giữ vững chủ quyền dân tộc, bảo tồn và phát huy bản sắc văn
hố dân tộc, xây dựng khối đại đồn kết, đảm bảo cho sự vững bền của sức mạnh
quốc gia, ông cha ta đã sớm nhận thức vấn đề dân tộc và từng bước xây dựng chính
sách tương ứng với các điều kiện lịch sử và yêu cầu của đất nước đặt ra.


12

Từ buổi đầu dựng nước và sau đó là thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc,
vấn đề dân tộc mới chỉ xuất hiện dưới dạng sơ khai, trong đó chủ yếu là gương
cao ngọn cờ độc lập tự chủ để tập hợp mọi lực lượng dưới ngọn cờ đại nghĩa. Từ
lời thề sông Hát, Hai Bà Trưng “hô một tiếng mà cả 65 thành vùng dậy” như lời
ghi trong sử cũ chính là thể hiện sự tập hợp ấy. Chính sách dân tộc chỉ có thể ra
đời một cách thực sự khi ông cha ta bắt tay xây dựng Nhà nước phong kiến trung
ương tập quyền từ thế kỷ XI.

2.2.2. Đặc điểm
Khuyến khích bám đất, bám rừng; ban phát bổng lộc, trao chức tước cho
các tù trưởng, thủ lĩnh; tôn trọng phong tục tập quán riêng.
Ràng buộc, thu phục các tù trưởng dân tộc thiểu số, phủ dụ dân chúng. Đây
là chính sách được thực hiện một cách nhất quán của tất cả các vương triều mặc
dù các biện pháp thực hiện có khác nhau. Dưới thời Lý, chính sách này được thực
hiện trước hết thông qua sự ràng buộc về hơn nhân, nhiều tù trưởng trở thành phị
mã, gắn bó và chịu sự thần phục của triều đình. Từ thời Trần trở đi, chính sách này
bị bãi bỏ, thay vào đó là chính sách an dân, vỗ về thu phục. Nhà Trần thường cử
những quý tộc có khả năng, những quan lại danh tiếng, am hiểu phong tục tập
quán lên trấn trị biên cương như Trần Nhật Duật, Trần Quốc Tảng, Trương Hán
Siêu,... Chính sách này tiếp tục được thực hiện trong các triều đại tiếp theo... Bên
cạnh đó, các tù trưởng dân tộc thiểu số vẫn được sử dụng trong việc cai trị ở các
địa phương, được ban chức tước và trao quyền hành lớn. Chính sách “mềm dẻo
phương xa” hay “nhu viễn” của các vương triều đã trở thành tư tưởng nhất quán
nhằm củng cố khối đại đồn kết dân tộc, khai thác vị trí, tầm quan trọng của các
dân tộc trong việc bảo vệ đất nước... Và đã được thực hiện một cách có hiệu quả.


13

Sử dụng sức mạnh của Nhà nước trung ương, chống xu hướng ly khai cát
cứ, để thống nhất quốc gia. Bắt đầu từ thời Lý, ông cha ta bắt tay vào xây dựng
Nhà nước phong kiến trung ương tập quyền độc lập tự chủ. Để thực hiện mục đích
đó, vấn đề đặt ra là củng cố sự thống nhất quốc gia, đập tan các mầm mống ly
khai. Bất cứ một vương triều nào cũng sử dụng các biện pháp cứng rắn nhằm thu
phục các tù trưởng dân tộc thiểu số và vỗ yên dân chúng. Trên phương diện này,
các vương triều Lý, Trần, Lê Sơ không chỉ thực hiện đơn thuần biện pháp trấn áp
mà quan trọng hơn là lôi kéo, ràng buộc, khoan dung đưa họ hoà nhập vào cộng
đồng quốc gia. Nhà Lý sau khi đánh bại cuộc nổi dậy của họ Nùng lại tiến hành

ban tước, trao cho quyền tự trị, cai quản.
Giải quyết vấn đề dân tộc gắn liền với điều kiện lịch sử. Đây là một trong
những đặc điểm và thành công của ông cha ta khi giải quyết vấn đề dân tộc. Nếu
như trong bước đầu bắt tay xây dựng Nhà nước trung ương tập quyền, chính sách
“mềm dẻo phương xa” được sử dụng một cách triệt để, khi mà chính quyền trung
ương chưa đủ sức với tay cai trị một cách trực tiếp các vùng dân tộc thiểu số, thì
càng về sau các nhà nước thời Lê - Nguyễn đã từng bước xác lập vị trí, quyền lực
của mình ở khu vực này, tiến hành cải tổ bộ máy hành chính, pháp luật hố chính
sách đối với các dân tộc thiểu số. Có thể thấy rõ điều này qua Luật Hồng Đức và
Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ.
2.2.3. Ưu điểm và nhược điểm
Ưu điểm: Làm tăng cường sức mạnh dân tộc, chống lại sự thù địch bên
ngoài, phát triển quốc gia một cách vững chắc.
Nhược điểm: Sự bất bình đẳng về dân tộc là hạn chế rất căn bản trong chính
sách dân tộc của các vương triều phong kiến. Nếu như trước yêu cầu bảo vệ độc
lập dân tộc, ngọn cờ đoàn kết dân tộc đã mang lại hiệu quả như trong các cuộc


14

kháng chiến phá Tống, bình Nguyên, diệt Minh; thì trong thời bình, các dân tộc
thiểu số lại ít được chú ý về đời sống, thậm chí cịn bị phân biệt đối xử như “cấm
vào Kinh đô”, “cấm được kết bạn với người Kinh”. Đồng hoá là một trong những
chủ trương không đúng về vấn đề dân tộc, đặc biệt là “đồng hố cưỡng bức”. Chính
sự đồng hố này đã làm hao mịn các giá trị văn hố dân tộc, vừa mang tính kỳ thị,
vừa mang tính áp đặt. (1)
2.3. Chính sách ngoại giao hịa hiếu
2.2.1. Điều kiện ra chính sách và định nghĩa
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, do đặc điểm là quốc
gia nhỏ, ở cạnh một số nước lớn, luôn ngự trị tư tưởng “bành trướng, thơn tính,

mở mang bờ cõi”, “tranh bá, đồ vương”, “bình thiên hạ”, tự cho mình có quyền
cất binh đi “điếu phạt”, buộc các quốc gia xung quanh phải trở thành “chư hầu” lệ
thuộc,… nên Việt Nam liên tục phải đấu tranh, đương đầu với các đế chế hùng
mạnh, lăm le xâm chiếm, quy phục và thực hiện chính sách cai trị, nơ dịch, v.v.
Trải qua những thăng trầm đó, hầu hết các triều đại phong kiến Việt Nam vẫn kiên
cường, bất khuất giữ vững nền độc lập, thái bình, thịnh trị. Tuy nhiên, một số triều
đại có tư tưởng nhu nhược, để đất nước bị lệ thuộc, khơng có nền độc lập, tự chủ,
nhân dân chịu cảnh lầm than. Trong những hồn cảnh khó khăn đó, nhân dân ta
dưới sự lãnh đạo của những thủ lĩnh, anh hùng các triều đại lại đứng lên giương
cao ngọn cờ độc lập dân tộc, cố kết cộng đồng đánh đuổi xâm lăng, bảo vệ bờ cõi,
giữ vững sự bình yên để gây dựng giang sơn, cơ đồ nước Việt.
Chính sách ngoại giao hoà hiếu là truyền thống đối ngoại tiêu biểu của dân
tộc, là kế sách quan trọng hàng đầu để giữ nước và mở rộng sự bang giao với các
nước láng giềng.


15

2.2.2. Đặc điểm
Ngay từ rất sớm, ông cha ta đã biết sử dụng các biện pháp ngoại giao thân
thiện, hữu nghị để xây dựng một liên minh quân sự với các nước láng giềng cùng
chiến đấu chống các thế lực ngoại xâm, hay ứng xử mềm dẻo, khéo léo ngăn chặn
âm mưu tái chiếm nước ta của phong kiến phương Bắc (trường hợp của Khúc
Thừa Dụ. Dương Đình Nghệ), hoặc để kéo dài thời gian hồ hỗn nhằm xây dụng
củng cố lực lượng chuẩn bị cho kháng chiến (như thời Trần). Đặc biệt dưới thời
Lý - Trần, với chính sách vừa đánh vừa đàm, đánh trước đàm sau, ông cha ta đã
chống Tống bình Ngun thắng lợi.
Bên cạnh đó ơng cha ta còn thực hiện linh hoạt, sáng tạo các chính sách,
biện pháp ngoại giao; chú trọng chính sách ngoại giao kiên trì, mềm dẻo, biết
người, biết mình, giữ hịa hiếu, thân thiện, nhưng kiên quyết, cứng rắn. Kết hợp

chính sách đối nội với đối ngoại, tạo và phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ đất
nước khỏi họa xâm lăng.
Kiên quyết, kiên trì, vừa đánh vừa đàm, biết thắng từng bước để đạt thắng
lợi cuối cùng là một trong những bản sắc truyền thống nổi bật của chính sách này.
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, do đặc điểm là quốc gia nhỏ,
Việt Nam liên tục phải đấu tranh, đương đầu với các đế chế hùng mạnh gấp nhiều
lần, luôn lăm le xâm chiếm..., do đó, cần biết thắng từng bước để đạt thắng lợi
cuối cùng.
2.2.3. Ưu điểm và nhược điểm
Đường lối ngoại giao truyền thống Việt Nam đã được phát huy cao nhất
dưới thời Lê Lợi - Nguyễn Trãi. Trong cuộc kháng chiến chống ách đơ hộ của nhà
Minh, Nguyễn Trãi đã góp phần rất quan trọng trong sự nghiệp đánh đuổi quân
xâm lược, giành lại độc lập tự chủ cho đất nước khi sử dụng nghệ thuật đánh-đàm,


16

kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao. Những dữ liệu đó
cho thấy trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, ông cha ta đã sử dụng các biện
pháp đấu tranh ngoại giao một cách linh hoạt, sắc bén, đúng thời cơ, sát với từng
tình huống, với tương quan lực lượng giữa ta và địch. Cùng với đấu tranh quân sự,
ông cha ta đã vận dụng hết sức linh hoạt, hiệu quả các chính sách ngoại giao mềm
dẻo, khôn khéo; nhưng kiên quyết, khẳng định tư duy, trí tuệ, khí phách của một
dân tộc khơng chịu khuất phục, không chịu làm chư hầu, lệ thuộc, để giữ yên bờ
cõi.(7, tr.275-276 )


17

CHƯƠNG 3. BÀI HỌC ĐƯỢC RÚT RA TỪ CÁC CHÍNH SÁCH THỜI

PHONG KIẾN VIỆT NAM
3.1. Giữ vững chủ nghĩa yêu nước, tinh thần độc lập tự chủ và lấy dân
làm gốc
Ln giữ vững và phát huy tấm lịng u nước vô bờ bến, quan tâm chỉ đạo
công tác đối ngoại, đoàn kết quốc tế nhằm phát huy sức mạnh của dân tộc, đồng
thời tranh thủ sự ủng hộ của các nước và nhân dân thế giới trong cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Giữa vững tinh thần độc lập tự chủ, ra
sức phát triển kinh tế – xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng – an ninh, tạo sức
mạnh tổng hợp của quốc gia – dân tộc. Mọi việc đều bắt nguồn từ dân, lấy dân làm
gốc,… là bài học lớn được đúc kết suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năm dựng
nước và giữ nước của dân tộc được Đảng ta vận dụng thành công trong hơn 90
năm qua và đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng; bài học này đến nay vẫn cịn
ngun giá trị và mang tính thời sự.
3.2. Bình đẳng đối với mọi dân tộc
Vấn đề dân tộc và đồn kết các dân tộc ln ln có vị trí chiến lược trong
sự nghiệp cách mạng, tất cả mọi người nên đấu tranh chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc;
chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng
tự ti, mặc cảm dân tộc. Không phân biệt tầng lớp, giai cấp trong xã hội, khơng kì
thị người dân tộc thiểu số và ln ln đối xử bình đẳng với tất cả mọi người.
Những bài học rút ra từ lịch sử vẫn còn nguyên giá trị trong việc thực hiện
chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, góp phần thực hiện thắng lợi sự
nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.


18

3.3. Luôn mở rộng các quan hệ ngoại giao để phát triển đất nước
Ngoại giao Việt Nam ln vì sự phát triển phồn vinh của dân tộc. Trong
lịch sử dân tộc Việt Nam, các hoạt động ngoại giao không chỉ phục vụ mục đích
chính trị, quân sự, đấu tranh giữ vững độc lập, tự chủ của dân tộc, bảo vệ chủ

quyền, lãnh thổ đất nước, bảo toàn thể diện quốc gia, kiến tạo hịa bình cho dân
tộc, mà cịn góp phần mở rộng các mối quan hệ giao lưu thương mại, tiếp nhận
những giá trị tinh hoa văn hóa của nhân loại.
Các sứ thần Đại Việt đều là những người trí thức danh tiếng, các bậc hiền
tài, được vua tuyển chọn cẩn thận và tin dùng. Tiêu biểu là Mạc Đĩnh Chi, Lương
Thế Vinh, Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Đôn, Ngơ Thì Nhậm, Phan Huy Ích,… có
sứ mệnh ghi chép lại những kinh nghiệm hay, cách làm tốt của nước bạn và cả
những kiến thức về quản trị quốc gia, quản lý nhà nước, những giá trị văn hóa tiến
bộ của các quốc gia, để tham khảo trong quá trình xây dựng nước Đại Việt.
Bên cạnh đó, cần phải ln kiên trì thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại
độc lập, tự chủ, hịa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương
hóa quan hệ đối ngoại; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động
và tích cực hội nhập quốc tế tồn diện, sâu rộng. Đó là sự kết hợp, kế thừa và phát
huy những triết lý truyền thống ngoại giao của ơng cha ta về độc lập, tự chủ, hịa
hiếu, chính nghĩa, vì lợi ích quốc gia - dân tộc… dưới ánh sáng mang tầm thời đại
của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. (8)


19

KẾT LUẬN
Như vậy, nhìn vào lịch sử các chế độ phong kiến Việt Nam, từ thời dựng
nước ông cha ta làm chính trị đã có phương pháp, trí tuệ và sách lược khơn khéo.
Những giá trị đó đã để lại những dấu ấn rõ nét trong các chính sách kinh tế - xã
hội, quân sự - ngoại giao. Mặc dù việc xây dựng, thực thi chính sách trong các
triều đại phong kiến chưa thực sự có một hệ thống lý luận soi sáng mà phần lớn
chỉ dựa trên sự mẫn cảm chính trị, những kinh nghiệm được chắt lọc từ thực tiễn
và các bài học lịch sử. Song nhìn chung có thể thấy rằng, những chính sách đó đều
được đặt trên một nền tảng tư tưởng nhất quán, đó là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần
độc lập tự chủ và lấy dân làm gốc. Các chính sách ln thể hiện rõ sự gần dân,

thân dân và hướng đến phát triển kinh tế, ổn định chính trị, đất nước phú cường.
Và nhằm mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam văn hiến, cường thịnh, thống
nhất và độc lập tự chủ. Đó cũng là dịng chính, chủ đạo của con dường. truyền
thống văn hố chính trị Việt Nam mà ngày nay chúng ta cần tiếp tục kế thừa và
phát huy.
Qua những chính sách trên, chúng ta đã đúc kết được những kinh nghiệm
quý giá như: giữ vững chủ nghĩa yêu nước, tinh thần độc lập tự chủ và lấy dân làm
gốc; bình đẳng đối với mọi dân tộc; luôn mở rộng các quan hệ ngoại giao... Từ đó,
mọi người sẽ học hỏi được những điều tốt đẹp và ngăn chặn những điều khơng
nên lấn sâu vào xã hội. Bên cạnh đó, mỗi người dân cần phải ln giữ vững tấm
lịng u nước, đối xử bình đẳng đối với tất cả mọi người và cố gắng phát huy thật
tốt khả năng của bản thân để góp phần phát triển đất nước Việt Nam luôn luôn
tươi đẹp, hùng mạnh.


20

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. GS.TS Phan Hữu Dật - PGS.TS Lâm Bá Nam
2. ThS. Hoàng Liên Hương
3, 4, 5, 6, 7. GS TS. Dương Xuân Ngọc, ThS. Đỗ Đức Minh, TS. Lưu Văn
An(2008), Khoa học chính sách cơng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
8. Trần Chí Trung
9. Lê Minh Trường
10. Từ điển bách khoa Việt Nam(1995), Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa
Việt Nam, Hà Nội.




×