1
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Trong những năm qua, việc triển khai chính sách tinh giản biên chế theo Nghị
định 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 dần đi vào quỹ đạo ổn định và hồn
thiện hơn. Cơng đầu phải dành cho những người lãnh đạo, những người xây
dựng và ban hành chính sách. Tiếp đó, là đội ngũ cán bộ, cơng chức, viên chức
trong các cơ quan hành chính nhà nước đã và đang góp phần đáng kể vào tiến
trình cải cách hành chính theo mục tiêu xây dựng nền hành chính hiện đại, có
tính chun nghiệp cao mà Đảng và nhà nước đã đề ra. Trong đó, một nền hành
chính hiện đại, trước hết phải có đội ngũ cơng chức chuyên nghiệp, thành thạo
và trách nhiệm trong một guồng máy hợp lý, khoa học. Chuyên nghiệp của
công chức trong bộ máy hành chính phải kết hợp các yếu tố: năng lực chuyên
môn liên quan đến công vụ, sự thành thạo nghiệp vụ trong thực thi công việc
được giao. Thành thạo là sử dụng nhuần nhuyễn các kiến thức, kỹ năng, xử lý
các mối quan hệ xã hội phát sinh trong nhà nước. Trách nhiệm là nhấn mạnh
yếu tố nhân cách của người cơng chức. Tinh giản biên chế góp phần làm trong
sạch bộ máy nhà nước, chấm dứt tình trạng nể nang, bao cấp, hay những trường
hợp “sáng cắp ô đi, tối cắp ô về”, tạo dựng lên một đội ngũ cán bộ, cơng chức,
viên chức có chất lượng cao, hết lịng phục vụ nhân dân, làm giàu chính đáng
cho đất nước.
Tuy nhiên, trên thực tế công tác xây dựng đội ngũ cơng chức cịn nhiều bất cập,
chất lượng đội ngũ còn nhiều hạn chế. Theo chia sẻ của TS.Nguyễn Viết Chức,
nguyên Đại biểu Quốc hội cho rằng, tinh giản biên chế khi nào cũng là một việc
khó vơ cùng. “Nói tới việc tinh giản biên chế đã rất ngại chứ chưa nói đến làm,
bởi điều này ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi từng cá nhân, từng cơ quan”. Do
vậy, việc ban hành chính sách về tinh giản biên chế là cần thiết và hết sức quan
trọng.
2
Để nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này, em lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Đánh
giá chính sách tinh giảm biên chế qua các tiêu chí đánh giá chính sách cơng"
2. Những cơng trình nghiên cứu có liên quan
Về một số cơng trình nghiên cứu có lên quan đến đề tài:
TS. Nguyễn Văn Tùng “Về tinh giản biên chế của các cơ quan trung ương hiện
nay”, Danh mục Nghiên cứu trao đổi của Bộ Nội Vụ
Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam “Tinh giản biên chế- Việc không thể
không làm”, đăng ngày 30/9/2017
Ngô Thị Vân Thúy (2019) với đề tài nghiên cứu “Thực hiện chính sách tinh
giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dân huyện Cao Lộc,
tỉnh Lạng Sơn”, Luận văn Thạc sĩ Chính sách cơng tại Học viện Khoa học xã
hội.
Tác giả PGS.TS. Nguyễn Hữu Hải (2019) trên Tạp chí khoa học Nội Vụ đăng
ngày 15/01/2019 với bài viết: “Những vấn dề đặt ra đối với tinh giản biên chế
trong các cơ quan nhà nước”.
Phan Chí Tiến (2020) với đề tài “Tinh giản biên chế tại các cơ quan hành chính
nhà nước tỉnh Quảng Bình”, Luận văn Thạc sĩ Quản lý cơng tại Học viện Hành
chính quốc gia.
Nguyễn Thị Bích Phương (2020) với đề tài “Tinh giản biên chế ở các cơ quan
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì- Thành phố Hà Nội”, Luận
văn Thạc sĩ Quản lý cơng tại Học viện Hành chính quốc gia.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở phân tích và làm rõ lý luận về các tiêu chí đánh giá chính sách cơng
để nhận xét, đánh giá chính sách tinh giản biên chế ở nước ta hiện nay.
3.2 Nhiệm vụ
Với mục đích nêu trên, tiểu luận có những nhiệm vụ sau:
3
Làm rõ các vấn đề lý luận về các tiêu chí đánh giá chính sách cơng.
Nêu lên thực trạng đánh giá chính sách cơng ở Việt Nam
Áp dụng lý luận đó vào đánh giá chính sách tinh giản biên chế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Tập trung vào nghiên cứu, phân tích các tiêu chí đánh giá chính sách cơng và
áp dụng vào đánh giá chính sách tinh giản biên chế ở nước ta hiện nay.
4.2 Phạm vi
Trên quy mô cả nước và giới hạn từ năm 2015-2021 theo hiệu lực thi hành của
Nghị định 108/2014/NĐ-CP
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Cụ thể là một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau: phương pháp phân
tích tài liệu, phương pháp thống nhất logic và lịch sử, phương pháp phân tích,
tổng hợp, khái qt hóa và hệ thống hóa, phương pháp thống kê số liệu.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài mở đầu, kêt luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương
5 tiết.
NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG LÝ LUẬN VỀ CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH
CƠNG
Tiêu chí là chuẩn mực, thước đo được đặt ra với mục đích để đánh giá hoặc
kiểm định giá trị, chất lượng hay mức độ đạt được của một sự vật, hiện tượng
nào đó.
Đánh giá chính sách cơng là việc xem xét, nhận định về giá trị các kết quả thu
được khi thực hiện một chính sách cơng [4; tr.157]
4
Các chính sách ra đời có tầm ảnh hưởng nhất định đến các vấn đề chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội. Do đó, việc đưa ra các tiêu chí phù hợp với các nguyên
tắc (bao gồm 5 tính: khoa học, khách quan, so sánh, phương hướng, chuẩn xác)
là không thể thiếu, để q trình đánh giá chính sách được hoàn thiện và nhất
quán. Tuy nhiên, để thống nhất ra một số các tiêu chí đánh giá khơng phải là
một việc dễ dàng, bởi mỗi người có một cách nhìn và cách nghĩ khác nhau, nên
vấn đề này thường được đặt trên bàn cân so sánh. Khái quát lại, ta có 6 tiêu chí
đánh giá chính sách được thể hiện như sau:
1.1 Tính hiệu lực của chính sách
Phản ánh mức độ tác động, ảnh hưởng của chính sách đó trên thực tế dựa trên
mong muốn của Chính phủ. Có thể hiểu là sự tác động của chủ thể chính sách
lên đối tượng chịu sự tác động của chính sách, được ghi nhớ bằng mốc thời
gian kể từ ngày chính sách phát huy tác dụng kể cả lợi lẫn hại.
Tính hiệu lực của chính sách gồm hai loại: Hiệu lực lý thuyết và Hiệu lực thực
tế.
Trong đó, một chính sách khi được ban hành sẽ có hiệu lực lý thuyết, được nhà
nước công nhận và đưa vào thực hiện. Hiệu lực thực tế là hiệu lực có dược khi
chính sách tác động đến thực tế, làm biến đổi thực tế theo mong muốn, ý chí
của chính phủ. Trong thực tế, thường hiệu lực lý thuyết của chính sách khơng
trùng với hiệu lực thực tế của nó. Chính sách chỉ đạt được hiệu lực thực tế khi
nó được áp dụng và đem lại những kết quả nhất định. Hiệu lực của một chính
sách là cao hay thấp chủ yếu lệ thuộc vào hiệu lực thực tế của chính sách là tốt
hay là xấu bởi vì đối với nhân dân, kết quả thực tế của chính sách là quan trọng
hơn ý định ban đầu của chính sách đó. Ngược lại, cần phải có lý thuyết đúng
đắn thì việc thực hiện chính sách mới đem lại hiệu quả thực tế khả thi. Chính
sách được coi là đúng đắn về lý thuyết khi nó đem lại thành cơng cho chính
sách đó.
5
Tóm lại, hiệu lực của một chính sách phản ánh tính đúng đắn cả về lý thuyết
cũng như hoạt động thực tế, và là kết quả tác động tổng hợp của cả hiệu lực lý
thuyết và hiệu lực thực tế.[5; tr.166]
1.2 Tính hiệu quả của chính sách
Hiệu quả của chính sách được xem xét dựa trên mức độ đạt tới mục tiêu và
thành cơng của chính sách. Câu hỏi đặt ra khi đánh giá hiệu quả chính sách:
Cần bao nhiêu nỗ lực để đạt được các kết quả có giá trị?
Tính hiệu quả của chính sách phản ánh tương quan so sánh giữa kết quả do
chính sách mang lại với chi phí đã bỏ ra. Cơng việc này được tiến hành ngay
trước khi triển khai, trong cả quá trình xây dựng chính sách và có ảnh hưởng
sống cịn đối với chính sách. Tập trung vào cách triển khai một chính sách, các
tác động trực tiếp, các chi phí và lợi nhuận trực tiếp của chính sách. Xem xét
các chính sách đã được triển khai đúng ý định chưa, có đạt hiệu quả đặt ra
không, đặc biệt các nguồn lực phân bổ cho chính sách có đủ để phát huy hiệu
quả của chính sách đó hay khơng?
Nhận thức đầy đủ những ưu điểm và hạn chế của phương pháp so sánh chi phí
– lợi ích – cơ sở để một chính sách đảm bảo tính tối ưu. Nó được xem là kênh
phản hồi chính sách chủ đạo. Khuynh hướng đánh giá này đang được chú trọng,
nhiều nước lập ra các ủy ban độc lập để đánh giá các chính sách. Ngày càng
nhiều các cơ quan chính phủ cũng thành lập các bộ phận chun đánh giá tồn
diện. pháp phân tích chi phí - lợi ích thường được sử dụng để xác định hiệu quả
của chính sách. Nếu khơng quan tâm tính tốn hiệu quả sẽ dẫn đến lãng phí,
thất thốt tiền của và kinh phí từ ngân sách nhà nước. [6; tr.168]
1.3 Tính hữu dụng của chính sách
Phản ánh mức độ vấn đề chính sách đã được giải quyết đến đâu. Đánh giá tính
hữu dụng của chính sách trả lời cho câu hỏi: Việc đạt được các kết quả đã giải
quyết được vấn đề ở mức độ nào?
6
Mỗi chính sách được xây dựng khởi nguồn từ việc xác định vấn đề chính sách
- đó là nhu cầu xã hội hay mâu thuẫn trong xã hội đòi hỏi Nhà nước phải sử
dụng quyền lực công để giải quyết nhằm đạt tới mục tiêu hiệu quả, ổn định và
công bằng xã hội. Nhu cầu giải quyết vấn đề của chính sách thường thể hiện ở
các mục tiêu của chính sách. Tuy nhiên, đôi khi mục tiêu được đề ra q rộng,
chung chung, khơng rõ ràng, khi đó dù các chính sách có được thực thi trên
thực tế theo mục tiêu đề ra, thì cũng rất khó xác định vấn đề chính sách đã được
giải quyết đến đâu. Hơn nữa, vấn đề chính sách thường có ảnh hưởng đến nhiều
khía cạnh kinh tế, xã hội khác nhau. Do đó, mức độ giải quyết vấn đề chính
sách có thể đo lường được bằng một loạt tiêu chí liên quan đến các khía cạnh
kinh tế - xã hội này. Chẳng hạn, để đánh giá mức độ giải quyết vấn đề đói,
nghèo, sẽ không thể chỉ đưa ra chỉ tiêu nghèo đã giảm xuống bao nhiêu phần
trăm, mà còn phải xem xét các khía cạnh khác, như người nghèo được tiếp cận
như thế nào đến các dịch vụ công thiết yếu, như y tế, giáo dục, nước sạch; việc
tạo điều kiện cho người nghèo trong thực hiện các quyền lợi của công dân...
Hay các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, cá nhân nhận nhiệm vụ đó có hồn
thành đúng mục tiêu đề ra hay khơng. [7; tr.172]
1.4 Tính cơng bằng của chính sách
Tính cơng bằng của chính sách là sự trà lời cho câu hỏi: các chi phí và lợi ích
có được phân phối cơng bằng giữa các cả nhân và các nhóm người khác nhau
hay không?
Công bằng bao gồm công bằng theo chiều dọc và công bằng theo chiều ngang.
Công bảng theo chiều dọc là sự đổi xử khác nhau đối với những người khác
nhau, đối xử với người giàu khác với người nghèo. Công bằng theo chiều ngang
là sự đối xử như nhau đối với những người như nhau. Có nghĩa là những nguời
có kết quả hoạt động như nhau, khơng phân biệt giới tính, dân tộc, tơn giáo,
màu da... đều được đối xử như nhau. [8; tr.173]
7
Tính cơng bằng của chính sách thể hiện ở chỗ thơng qua chính sách, Nhà nước
thực hiện phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời trợ giúp
cho các đối tượng dễ bị tổn thương, như người nghèo, người già, trẻ em và
người tàn tật để khắc phục tình trạng bất bình đẳng về thu nhập giữa các nhóm
xã hội. Tính cơng bằng của chính sách còn thể hiện ở sự phân bổ hợp lý các chi
phí và lợi ích, các quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia hoạch định,
thực thi chính sách và các nhóm đối tượng liên quan đến chính sách. Việc nhà
nước thực hiện sự công bằng đến đâu là tùy thuộc vào sự đúng đần và hợp lý
của các chính sách đề ra. Tuy nhiên, dù nhà nước có tác động tích cực như thế
nào trong mơi trường cạnh tranh của nến kinh tế thị trường thì cũng khơng thể
đạt được sự bình đẳng tuyệt đối. Do vậy, nhà nước cần phải tìm ra cách để cải
tiến tình trạng này.
1.5 Tính đáp ứng yêu cầu của chính sách
Là sự trả lời cho câu hỏi: việc thực hiện chính sách để ra có đáp ứng được mong
muốn, nguyện vọng của các nhóm đối tượng của chính sách hay khơng ?
Trên thực tế, có nhiều chính sách đề ra nhưng khơng đáp ứng được đấy đủ
nguyện vọng của nhóm đối tượng chính sách. [9; tr.177]
1.6 Tính thích đáng của chính sách
Hay còn gọi là kết hợp hợp lý giữa hiệu quả và công bằng, trả lời cho câu hỏi:
Các kết quả mong muốn kết hợp giữa tính hiệu quả và tính cơng bằng như thế
nào? Phần lớn các chính sách khi ra đời đều gây nên tranh cãi về tính hiệu quả
và công bằng xã hội, thông thường sẽ không đáp ứng được cả hai vấn đề này.
Do vậy, vấn đề đặt ra cho nhà nước là cần phải làm gì để cho nhóm bị thiệt hại
về lợi ích và nhóm nhận được lợi ích cân bằng với nhau. Và việc đánh giá tác
động của chính sách đến các đối tượng của chính sách trong mối quan hệ giữa
tính hiệu quả và tính cơng bằng là hết sức quan trọng và cần thiết. [10; tr.177]
8
Chương 2
THỰC TIỄN CƠNG TÁC ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH CƠNG Ở VIỆT
NAM
2.1 Thực tiễn cơng tác đánh giá chính sách ở Việt Nam hiện nay
Chính sách cơng là một cơng cụ quan trọng của quản lý nhà nước. Thông qua
việc ban hành và thực thi các chính sách, những mục tiêu của Nhà nước được
hiện thực hóa.
Mỗi chính sách vận động theo một quy trình, bao gồm 3 giai đoạn cơ bản: hoạch
định chính sách, thực thi chính sách và đánh giá chính sách. Ở Việt Nam, lâu
nay Nhà nước đã chú trọng nhiều đến khâu hoạch định và thực thi chính sách,
song việc đánh giá chính sách thì dường như bị bỏ qua hoặc rất ít được quan
tâm.
Khi Việt Nam chuyển sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế, đòi hỏi ban hành các chính sách để tạo ra những
nhân tố, môi trường cho sự chuyển đổi trở thành cấp thiết. Vì vậy, trong một
thời gian dài, Nhà nước tập trung cao vào việc xây dựng và ban hành các thể
chế, nhằm tạo các hành lang pháp lý cho mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội. Việc hàng
loạt các văn bản pháp luật ra đời dẫn đến tình trạng chồng chéo, trùng lặp, thậm
chí gây ra mâu thuẫn giữa các quy định pháp lý, mà cuối cùng là sự chi phối
của chúng đối với các hoạt động kinh tế - xã hội theo các chiều khác nhau,
khiến cho những hoạt động này không, hoặc chưa đạt được mục tiêu mong
muốn. Nói cách khác, hàng loạt chính sách được ban hành, có hiệu lực thi hành,
song việc chính sách đó có hiệu lực thực tế như thế nào và đáp ứng mục tiêu
đặt ra đến đâu thì dường như khơng được quan tâm. Đơi khi chính sách được
ban hành chẳng những khơng giải quyết được vấn đề đặt ra, mà cịn gây ra
những hiệu ứng cánh bướm làm phức tạp thêm vấn đề. Chẳng hạn, chính sách
hạn chế ùn tắc giao thông trong các thành phố lớn đã được triển khai với nhiều
9
giải pháp khác nhau, song thực tế vẫn chưa giải quyết được vấn đề ùn tắc, trong
khi đó một số giải pháp đưa ra, như chặn các ngã tư, thu phí chống ùn tắc lại
gây ra các hiệu ứng phụ làm rắc rối thêm hiện trạng.
Hơn thế, việc hoạch định chính sách (thơng qua việc soạn thảo và ban hành
hàng loạt văn bản pháp luật) và việc tổ chức triển khai các chính sách đó trên
thực tế đã tiêu tốn tiền của của nhân dân và sức lực của không ít người, song
nhiều khi các chính sách này không đem lại lợi ích tương xứng với chi phí đã
bỏ ra. Do đó, đánh giá chính sách là một khâu khơng thể thiếu trong quy trình
chính sách. [11]
2.2 Những khó khăn trong việc đánh giá chính sách ở Việt Nam
Thứ nhất, đánh giá chính sách là một hoạt động khá mới mẻ ở nước ta hiện nay.
Các cơ quan chính phủ chỉ tập trung vào giai đoạn hoạch định chính sách mà
chưa có sự cân đo đong đếm mức độ ảnh hưởng, các khả năng có thể xảy ra
hay các kết quả mà chính sách đó đạt được. Bên cạnh đó, cơng tác giám sát và
kiểm sốt chính sách chưa được thực hiện một cách chặt chẽ. Nội dung đánh
giá bao gồm: đánh giá đầu vào, đầu ra, đánh giá hiệu lực và hiệu quả, đánh giá
hiệu suất và quá trình, nhưng những khía cạnh này thường khơng được đánh
giá đầy đủ.
Thứ hai, trình độ của đội ngũ cán bộ thực hiện đánh giá chính sách cịn hạn chế.
Đánh giá chính sách khá phức tạp, địi hỏi một cái nhìn tổng thể và người đánh
giá cần có kinh nghiệm chuyên sâu nhất. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam rất ít
cán bộ, cơng chức, viên chức cun ngành phân tích và đánh giá chính sách, đó
chỉ là mức độ ban đầu tiếp cận chính sách chứ chưa có kinh nghiệm trong lĩnh
vực nào nên thiếu trang thiết bị, nhân lực để đánh giá các chủ trương với các
công cụ tiên tiến. Các đánh giá thường chỉ dừng lại ở khía cạnh định tính mà
khơng đánh giá một cách chính xác kết quả định lượng của việc thực hiện chính
sách.
10
Thứ ba, khơng có tiêu chí đánh giá các chính sách một cách khoa học. Thơng
thường, để đánh giá chính sách, người ta so sánh kết quả thu được với các mục
tiêu ban đầu trong việc đề ra chính sách. Việc đánh giá trở nên dễ dàng hơn nếu
có đích đến cụ thể và được giám sát thực hiện. Trên thực tế, hầu hết các chính
sách đều có mục tiêu định tính, nhiều mục tiêu khơng rõ ràng nên gặp nhiều
khó khăn trong việc đánh giá và việc đánh giá trở nên thiếu chính xác.
Thứ tư, đánh giá chính sách là một chiều. Đánh giá chính sách thường được
hiểu là công việc của các cơ quan nhà nước, phần lớn việc đánh giá do các cơ
quan chính phủ thực hiện (theo quan điểm của cơ quan thực hiện) mà ít quan
tâm đến các phản hồi khách quan, khảo sát hoặc tổ chức các cuộc họp công
khai khi đánh giá các biện pháp, thu thập thông tin phản hồi từ người dân và từ
những người hưởng lợi.
Thứ năm, thiếu kinh phí cho việc rà sốt các chính sách. Chính sách thường
được thực hiện trên quy mô lớn và trong thời gian dài mới tạo ra kết quả (thường
là theo từng giai đoạn). Ngồi ra, để đánh giá khách quan và chính xác cần đánh
giá chính sách theo nhiều khía cạnh khác nhau. Khía cạnh định lượng, tức là
cần tổ chức điều tra, khảo sát kết quả thực hiện chính sách (một số chính sách
cần nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng trước khi thực hiện chính sách để tiện so
sánh, đánh giá sau này). Việc này đòi hỏi nguồn nhân lực và tài chính nhất định,
nhưng ngân sách có hạn và cịn nhiều vấn đề khác cần giải quyết.
Chương 3
ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH TINH GIẢN BIÊN CHẾ QUA CÁC TIÊU
CHÍ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH CƠNG
Biên chế là thuật ngữ của quản lý hành chính nhà nước, nhằm chủ yếu vào quản
lý khu vực cơng. Theo đó, Nhà nước định ra chỉ tiêu, số lượng con người (công
chức, viên chức) trong một đơn vị hành chính (cơ quan, tổ chức sự nghiệp
cơng).
11
Tinh giản biên chế được hiểu là việc đánh giá, phân loại, đưa ra khỏi biên
chế những người dôi dư, không đáp ứng yêu cầu công việc, không thể tiếp tục
bố trí sắp xếp cơng tác khác và giải quyết chế độ, chính sách đối với những
người thuộc diện tinh giản biên chế. [3]
Qua việc phân tích các tiêu chí đánh giá chính sách, để làm rõ hơn những vấn
đề đó trong thực tế, em chọn chính sách tinh giản biên chế để đối chiếu và phân
tích cụ thể.
Chính sách được quy định tại Nghị định số 108/2014/NĐ-CP về chính sách tinh
giản biên chế.
3.1 Tính hiệu lực của chính sách tinh giản biên chế
* Hiệu lực lý thuyết
Chính sách có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/1/2015 và chính thức hết hệu lực
ngày 31/12/2021
Đối tượng điều chỉnh: Cán bộ, công chức từ Trung ương đến cấp xã; viên chức
trong các đơn vị sự nghiệp công lập; người làm việc theo hợp đồng lao động
không xác định thời hạn; những người là cán bộ, cơng chức được cơ quan có
thẩm quyền cử làm người đại diện theo ủy quyền đối với phần vốn nhà nước
tại doanh nghiệp có vốn nhà nước; người làm việc trong biên chế được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền giao tại các hội. [2]
Phạm vi điều chỉnh:
Các cơ quan, tổ chức Đảng và các tổ chức chính trị-xã hội
Các đơn vị sự nghiệp cơng lập của Nhà nước
Các hội được giao biên chế và ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí để trả
lương
Cơng ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước hoặc do tổ
chức chính trị, tổ chức chính tri-xã hội làm chủ sở hữu
Cơng ty cổ phần có góp vốn của nhà nước
12
Nông, lâm trường quốc doanh. [1]
* Hiệu lực thực tế
Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức từng bước được nâng lên,
cơ cấu hợp lý.
Việc ban hành chính sách tinh giản biên chế giúp các cấp, ngành nhanh
chóng có lối đi đúng đắn nhằm giải quyết các vấn đề ứ đọng hồ sơ cán
bộ, công chức, viên chức.
Việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, bộ máy hành chính nhà
nước ngày càng tinh gọn, hoạt động hiệu lực và phát huy hiệu quả tốt hơn.
Giữ lại các đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức có trình độ cao,
làm việc nhanh nhẹn và mang đến hiệu quả tốt hơn; đào thải những đối
tượng có dấu hiệu suy thối, giả bằng cấp,… để làm cho bộ máy nhà
nước được trong sạch, vững vàng hơn.
Công tác quản lý cán bộ, cơng chức có nhiều đổi mới, tiến bộ; gia tăng tỷ lệ
phát triển các cán bộ trẻ; đảm bảo quền lợi cho những đối tượng thuộc diện
tinh giản biên chế.
Việc tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ CBCCVC gặp rất nhiều khó khăn
hoặc những “rào cản” như: nhận thức; tiêu chí và phương pháp đánh giá cán
bộ, công chức, viên chức; vấn đề dân chủ, công khai, minh bạch và công bằng
trong cơ cấu lại đội ngũ cán bộ; chính sách hỗ trợ cho những người phải tinh
giản; chống tiêu cực, kể cả tham nhũng trong thực hiện cơ cấu lại đội ngũ cán
bộ… Khó khăn lớn nhất trong việc thực hiện chính sách là những cán bộ có
chức, có quyền. Vấn đề là, cán bộ này có nhận thức đúng đắn khơng và có khắc
phục được sự thiên vị, lợi ích cá nhân không? Mấu chốt trong thực hiện Nghị
định của Bộ Chính trị là khâu triển khai thực hiện, kiểm tra, giám sát và đánh
giá tác động của chính sách. Những khâu này hoàn toàn phụ thuộc vào đội ngũ
13
cán bộ lãnh đạo trong hệ thống chính trị ở các cấp. Tư tưởng cá nhân của cán
bộ lãnh đạo sẽ là rào cản lớn nhất trong việc tinh giản biên chế hiện nay.
3.2 Tính hiệu quả chính sách tinh giản biên chế
* Mục tiêu chính sách đề ra
Mục tiêu của tinh giản biên chế không đơn thuần là giảm về số lượng cán bộ,
công chức, viên chức; giảm chi phí hành chính, giảm ngân sách nhà nước mà
là làm cho cơ cấu, số lượng, chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức, viên
chức; nhất là chất lượng chuyên môn, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp ngày
một nâng cao. Tinh giản biên chế không thuần túy giảm theo số lượng mà phải
tinh giản theo cơ cấu cán bộ, công chức.
* Hiệu quả chính sách
Từ năm 2015-2017
Theo Báo cáo số 3616/BC-BNV ngày 29/7/2016 của Bộ Nội vụ, thực hiện
chính sách tinh giản biên chế theo các quy định tại Nghị quyết số 39-NQ/TW
ngày 17/04/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ
cán bộ, công chức, viên chức và Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày
20/11/2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế. Tính đến ngày
30/6/2016, đã có 18 bộ, ngành và 61/63 địa phương đề nghị giải quyết tinh giản
biên chế, với số đối tượng tinh giản là 10.349 người, nâng tổng số biên chế đề
nghị tinh giản trong 02 năm 2015, 2016 lên 16.124 người. Trong đó, các cơ
quan đồn thể là 635 người; các cơ quan hành chính là 2.058 người; các đơn vị
sự nghiệp công lập là 10.239 người; cán bộ, công chức cấp xã là 3.103 người;
doanh nghiệp nhà nước là 89 người. [12]
Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Duy Thăng cho biết, năm 2017 cả nước đã tinh
giản biên chế với tổng số 33.459 công chức, viên chức. Bên cạnh đó, Bộ thẩm
định số lượng người làm việc trong các sự nghiệp công lập ở 42 địa phương,
và tiếp tục tiến hành với 21 địa phương khác trong năm 2018. [13]
14
Theo kết quả kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước, trong năm 2017, cả nước
thừa 57.175 biên chế trong khu vực nhà nước. Kết quả thanh tra của Bộ Tài
chính về công tác quản lý ngân sách nhà nước cũng phát hiện một số địa phương
giao biên chế sự nghiệp giáo dục và đào tạo vượt định mức như: An Giang vượt
99 biên chế, Lâm Đồng vượt 63 biên chế… [14]
Từ năm 2018-2019
Theo Bộ Nội vụ, đến năm 2018, cả nước tinh giản biên chế theo Nghị định
108/2014 được 40.500 người. Trong số đó có 86,3% hưởng chính sách nghỉ
hưu trước tuổi, 13,5% thôi việc ngay, 0,1% chuyển sang khu vực không hưởng
lương ngân sách và 0,07% nghỉ đi học.
Trong đó, Hà Nội đã tinh giản được hơn 1.800 biên chế, Đà Nẵng gần 2.290
người, Thừa - Thiên Huế 612 người, Khánh Hòa 110 người,...
Theo Quyết định 1016 của Thủ tướng đã phê duyệt, biên chế cả nước năm 2019
chỉ là 259.958 người. So với năm 2018, con số trên đã giảm khoảng 5.500
người. Trong năm 2019, những cán bộ công chức, viên chức thuộc diện tinh
giản căn cứ theo Nghị định 108/2014 và Nghị định 113/2018. [15]
Năm 2020-2021
Tại phiên họp thứ 56 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã trình báo
cáo kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong năm 2020 như sau: Chính
phủ báo cáo cơng tác kiện tồn, sắp xếp bộ máy hành chính nhà nước đạt được
kết quả tích cực. Theo đó, việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp
xã đã hoàn thành với việc giảm 6 đơn vị cấp huyện và 546 đơn vị cấp xã, tinh
giản biên chế 23.896 người, tiết kiệm được khoảng 18 triệu ngày công/năm,
tương đương hơn 6.300 tỉ đồng/năm. [16]
(Tuy nhiên, tại báo cáo, Chính phủ cũng thừa nhận tổ chức bộ máy một số cơ
quan vẫn còn cồng kềnh, nhiều cấp trung gian. Kết quả thực hiện chính sách
tinh giản biên chế chưa thực sự gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức,
15
viên chức, mới chỉ tập trung vào việc giảm số lượng người hưởng lương từ
ngân sách nhà nước.)
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1499/QĐ-TTg phê duyệt tổng
số biên chế công chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước năm 2021.
Quyết định của người đứng đầu Chính phủ cho thấy tổng biên chế công chức
năm 2021 trên cả nước giảm 3.867 người.
Trong đó:
Các cơ quan, tổ chức hành chính thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ, tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không
phải là đơn vị sự nghiệp công lập: 106.836 biên chế;
Các cơ quan, tổ chức hành chính thuộc cơ quan của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện: 140.508 biên chế...
3.3 Tính hữu dụng của chính sách tinh giản biên chế
Góp phần đảm bảo thực hiện nghĩa vụ mà đối tượng thuộc diện tinh giản biên
chế phải làm trong suốt quá trình làm việc tại các cơ quan hành chính nhà nước.
Tránh được vấn đề lạm dụng chức quyền để nâng đỡ người kém, tránh lãng phí
nguồn ngân sách nhà nước, giảm gánh nặng về kinh tế và áp lực đặt ra cho các
nhà lãnh đạo.
Tạo điều kiện hỗ trợ trực tiếp đối với các đối tượng thuộc diện tinh giản biên
chế, đem lại tâm thái tinh thần thoải mái cho họ.
Giảm số lượng cán bộ, công chức, viên chức thừa trong các cơ quan hành chính
nhà nước, làm cho bộ máy nhà nước ta được tinh gọn, đạt hiệu quả cao.
Đảm bảo sự công bằng, minh bạch khi đáp ứng những thiếu sót và nhu cầu của
người áp dụng chính sách.
3.4 Tính cơng bằng của chính sách tinh giản biên chế
Áp dụng với các cán bộ, công chức, viên chức trong biên chế và cán bộ, công
chức cấp xã hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc quỹ tiền lương của đơn
16
vị sự nghiệp theo quy định của pháp luật, nếu thuộc trong các trường hợp tinh
giản biên chế theo Điều 6 Nghị định 108/2014/NĐ-CP.
Cán bộ, công chức, viên chức do sắp xếp tổ chức thôi giữ chức vụ lãnh đạo
hoặc được bổ nhiệm, bầu cử vào chức vụ mới có phụ cấp chức vụ lãnh đạo thấp
hơn so với phụ cấp chức vụ lãnh đạo đang hưởng thì được bảo lưu phụ cấp chức
vụ lãnh đạo đang hưởng đến hết thời hạn giữ chức vụ bổ nhiệm hoặc hết nhiệm
kỳ bầu cử. Trường hợp đã giữ chức vụ theo thời hạn được bổ nhiệm hoặc nhiệm
kỳ bầu cử còn dưới 06 tháng thì được bảo lưu 06 tháng.
Cần sửa đổi chế độ đối với đối tượng nghỉ hưu trước tuổi, bởi theo chế độ hiện
hành những cán bộ, công chức còn một vài năm nữa đến tuổi nghỉ hưu sẽ có
lợi khi họ tự nguyên nghỉ hưu sớm (tỷ lệ lương hưu không bị trừ và được một
khoản tiền lớn) trong khi cơ quan, tổ chức lại mất đi nguồn nhân lực có kinh
nghiệm.
Dựa trên kết quả đánh giá thực thi công vụ và yêu cầu năng lực của vị trí việc
làm để sắp xốp lại nhân sự hợp lý, bảo đảm nguyên tắc “đúng người, đúng
việc”.
3.5 Tính đáp ứng yêu cầu của chính sách tinh giản biên chế
Chính sách đáp ứng được nhu cầu về kinh tế, cũng như các khoản kinh phí mà
nhà nước chi trả hỗ trợ cho những người thuộc diện tinh giản biên chế.
Tinh giản biên chế theo Nghị định số 108/2014/NĐ-CP, ngày 20/11/2014 và
Nghị định số 113/2018/NĐ-CP, ngày 31/8/2018 của Chính phủ được khoảng
47.000 biên chế. Gồm: (1) Do rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy chiếm khoảng
13,6%. (2) Do cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức, viên chức theo vị trí việc
làm nhưng khơng thể bố trí được việc làm khác chiếm khoảng 16,3%. (3) Chưa
đạt trình độ đào tạo theo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ quy định đối với vị
trí việc làm đang đảm nhiệm chiếm khoảng 15,3%. (4) Do phân loại, đánh giá
chiếm khoảng 41,9%. (5) Các trường hợp còn lại chiếm khoảng 13,1%. [17]
17
Đạt ngưỡng tỷ lệ tinh giản biên chế đến năm 2021 tối thiểu là 10% (đã giảm so
với năm 2015 là 7.426 chỉ tiêu) biên chế của bộ, ban, ngành, tổ chức chính trịxã hội, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Các cơ quan, tổ chức, đơn vị chỉ
tuyển dụng số cán bộ, công chức, viên chức mới không quá 50% số biên chế
đã thực hiện tinh giản và không quá 50% số biên chế đã giải quyết chế độ nghỉ
hưu hoặc thôi việc theo quy định.
Thực hiện thay thế nguồn chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước bằng từ
nguồn thu sự nghiệp, giảm chi ngân sách nhà nước hỗ trợ cho hoạt động thường
xuyên và giải thể đối với một số đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ Tài chính, theo đó,
nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ hoạt động thường xuyên của các đơn vị sự
nghiệp thuộc Bộ đến năm 2021 đã giảm 31,75% so với giai đoạn 2016-2020.
3.6 Tính thích đáng của chính sách tinh giản biên chế
* Đảm bảo công bằng xã hội
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính trị.
Tạo điều kiện cân bằng cơ hội cho các cán bộ, công chức, viên chức hưởng
lương theo quỹ tiền lương nhà nước.
Loại bỏ những người không đủ năng lực đảm đương công việc, thu hút và tuyển
dụng người mới có tố chất cơng việc vượt trội.
Đảm bảo phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần cho người lao động.
Đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, sự nghiệp
cơng nghiệp hóa- hiện đại hóa, hịa nhập với nền kinh tế hội nhập quốc tế đang
diễn ra ngày càng quyết liệt.
Áp dụng các phương pháp tổ chức lao động khoa học và công nghệ thông tin
để hợp lý hóa và hiện đại hóa quy trình thực hiện công vụ, giảm bớt thời gian
và sức lao động để tạo điều kiện giảm bớt được số lượng biên chế trong cơ
quan, tổ chức.
* Đảm bảo hiệu quả kinh tế
18
Tiết kiệm, tránh lãng phí nguồn ngân sách nhà nước, cải cách chính sách tiền
lương.
Chất lượng đội ngũ cán bộ nâng cao cũng giúp nền kinh tế phát triển toàn diện
và đem lại nhiều lợi ích kinh tế cho đất nước.
KẾT LUẬN
Đánh giá chính sách là một giai đoạn quan trọng trong chu trình chính sách.
Nếu chỉ tập trung vào giai đoạn hoạch định và thực thi thì người làm chính sách
sẽ khơng thể cis cái nhìn tồn diện về chính sách đó được, cũng khơng thể đo
lường độ tác động của chính sách đó đối với đối tượng áp dụng chính sách. Và
trong đánh giá chính sách cơng, có 6 tiêu chí cơ bản được đưa ra: tính hiệu lực,
hiệu quả, hữu dụng, công bằng, đáp ứng yêu cầu, thích đáng. Mỗi tiêu chí đều
cần tuân thủ các nguyên tắc, và đều có cái nhìn nhận riêng về một chính sách.
Do vậy, việc phân tích các tiêu chí để làm rõ sự quan trọng và cần thiết của nó
đối với các nhà làm chính sách là vơ cùng cấp thiết.
Vận dụng các tiêu chí ấy vào một chính sách cụ thể như chính sách tinh giản
biên chế để thấy được mỗi một chính sách đều có điểm mạnh và điểm yếu. Một
chính sách khi ra đời là tồi hay tốt thì khi kết thúc chính sách ta cần cân đo đong
đếm để xem xét. Chính sách tinh giản biên chế là một chính sách tốt, vì nó đem
lại lợi ích rõ rệt trên từng con số, biểu thị rằng những đối tượng thuộc diện tinh
giản biên chế đã được thực hiện, làm cho bộ máy chính trị được kiện tồn lại
với những cán bộ tốt hơn. Tuy nhiên, khó khăn của chính sách vẫn cịn tồn tại,
và cần có những chính sách, nghị quyết, nghị định mới ra đời kèm theo để loại
bỏ nỗi lo này. Đó là vấn đề đặt ra cho các nhà lãnh đạo ở Việt Nam hiện nay.
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1], [2] Điều 1, 2 Nghị định 108/2014/NĐ-CP về chính sách tinh giản biên chế.
[3] Mục 2, Điều 3 Nghị định 108/2014/NĐ-CP về chính sách tinh giản biên
chế.
[4], [5], [6], [7], [8], [9], [10] Giáo trình Khoa học về chính sách cơng (2006)
Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội.
[11] PGS.TS.Nguyễn Đăng Thành (2014), Đánh giá chính sách cơng ở Việt
Nam: vấn đề và giải pháp, Cục Kiểm sốt thủ tục hành chính.
[12] Hồng Hà (2016), Tổng số biên chế đã tinh giản trong năm 2015, 2016 là
16.124 người, đăng báo Tạp chí Tổ chức Nhà nước ngày 20/08/2016.
[13] Truy cập ngày 11/12/2021, />[14] Truy cập ngày 11/12/2021, />[15] Truy cập ngày 11/12/2021, />[16] Truy cập ngày 12/12/2021, />[17] Truy cập ngày 12/12/2021, />
20
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. Lý do lựa chọn đề tài .................................................................................. 1
2. Những cơng trình nghiên cứu có liên quan .............................................. 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 3
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu .............................................. 3
6. Kết cấu của đề tài ....................................................................................... 3
NỘI DUNG............................................................................................................ 3
Chương 1. NHỮNG LÝ LUẬN VỀ CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHÍNH
SÁCH CƠNG .................................................................................................... 3
1.1 Tính hiệu lực của chính sách ..................................................................... 4
1.2 Tính hiệu quả của chính sách .................................................................... 5
1.3 Tính hữu dụng của chính sách ................................................................... 5
1.4 Tính cơng bằng của chính sách.................................................................. 6
1.5 Tính đáp ứng u cầu của chính sách ........................................................ 7
1.6 Tính thích đáng của chính sách ................................................................. 7
Chương 2. THỰC TIỄN CƠNG TÁC ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH CƠNG
Ở VIỆT NAM .................................................................................................... 8
2.1 Thực tiễn cơng tác đánh giá chính sách ở Việt Nam hiện nay .................. 8
2.2 Những khó khăn trong việc đánh giá chính sách ở Việt Nam ................... 9
Chương 3. ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH TINH GIẢN BIÊN CHẾ QUA
CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH CƠNG .................................10
3.1 Tính hiệu lực của chính sách tinh giản biên chế .....................................11
3.2 Tính hiệu quả chính sách tinh giản biên chế ...........................................13
3.3 Tính hữu dụng của chính sách tinh giản biên chế ...................................15
3.4 Tính cơng bằng của chính sách tinh giản biên chế .................................. 15
3.5 Tính đáp ứng yêu cầu của chính sách tinh giản biên chế ........................16
3.6 Tính thích đáng của chính sách tinh giản biên chế .................................. 17
KẾT LUẬN .........................................................................................................18
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................19
21