Tải bản đầy đủ (.pdf) (13 trang)

Phan tich cac doan trich vo nhat

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.26 MB, 13 trang )

lOMoARcPSD|23111612

PHÂN TÍCH CÁC ĐOẠN Trích VỢ NHẶT
Nhập mơn khoa học xã hội-nhân văn (Đại học Sư phạm Hà Nội)

Studocu is not sponsored or endorsed by any college or university
Downloaded by Uyen Nguyen ()


lOMoARcPSD|23111612

PHÂN TÍCH VỢ NHẶT (KIM LÂN) THEO ĐOẠN TRÍCH
Đoạn 1: “Cái đói => tự đắc với chính mình”
- “Vợ nhặt” lấy bối cảnh từ nạn đói năm 1945 đã đi vào lịch sử như như một vành
khăn tang cướp đi mạng sống của hơn hai triệu đồng bào ta. Bằng ngòi bút sắc sảo săn
đuổi hiện thực đến tận đáy, Kim Lân đã mở ra trước mắt bạn đọc không gian năm đói
ảm đạm tăm tối và có phần nghiệt ngã.
- Ngay từ nhan đề, hai từ “Vợ nhặt” đã hiện lên đầy chua xót, một nỗi đau khơng
sao nói được thành lời. Từ đó có thể thấy rằng “Vợ nhặt” là cái địn bẩy tạo nên tình
huống truyện bi hài, sự hấp dẫn bất ngờ cho thiên chuyện. “Bi” là ở chỗ trong cái cảnh
nạn đói đang diễn ra “người chết như ngả rạ” vậy mà Tràng lại còn dắt về một cơ vợ.
Cịn “hài” là ở chỗ vợ mà lại “nhặt” về, đơn giản vậy sao?
- Từ những dòng văn đầu tiên, người đọc đã cảm nhận thấy não lịng về nạn đói
khủng khiếp : “cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào”. Với từ “tràn” cái đói đã được
cụ thể hóa với sức tàn phá dữ dội.
- Bức tranh tồn cảnh về nạn đói khủng khiếp năm 1945 với cảnh người đói “bồng
bế dắt díu nhau xanh xám như những bóng ma” và sau đó là “chết như ngả rạ”, “khơng
khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người” . Có thể nói, cái đói,
cái khát, cái chết đã len lỏi vào từng đường thơn ngõ xóm, gõ cửa từng gia đình. Kim
Lân đã đưa cuộc sống của người nơng dân lao động trong thời kì đơ hộ của thực dân
và phát xít vào trang viết của mình như tất cả những gì tăm tối nhất.


- Cái chết đã bao phủ cả bầu trời và mặt đất. Dưới ngòi bút của Kim Lân, không
gian nghệ thuật của tác phẩm ngột ngạt, bức bối đến tắc thở. Người chết như ngả rạ,
cịn những người sống thì sống một cuộc sống lay lắt vật vờ thoi thóp, một cuộc sống
khơng ra sống. Có đến hai lần nhà văn so sánh người như ma nhằm diễn tả đó là lúc
cõi âm tràn vào cõi dương. Kiểu so sánh đó bộc lộ cái nhìn tê tái của Kim Lân về cái
thời ghê rợn. Cuộc sống được nhìn như một bãi tha ma khổng lồ, ranh giới giữa sự
sống và cái chết mong manh như sợi tóc. Cái đói tàn phá hiện hình lên từng gương mặt
người: trẻ con khơng nhúc nhích – cái đói đã giết chết bản tính trẻ thơ của chúng. Người
dân xóm ngụ cư “khn mặt hốc hác u tối”. Không cần một lời kết tội hùng biện,
nhưng đọc những dòng văn của Kim Lân ta thấy như là một bản cáo trạng đanh thép
tố cáo vạch trần bản chất phi nhân tính của bè lũ cướp nước. Bao nhiêu con người đã
phải ra đi trong cái đói, cái khát. Nạn đói 1945, Hồ Chí Minh trong “Tun Ngơn Độc
Lập” đã nói : “Kết quả là từ cuối năm ngối sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc
Kì, hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đói ”. Chỉ với vài dòng văn ngắn ngủi Kim Lân đã
để lại trong lịng người đọc bao nỗi ngậm ngùi, xót xa thương cảm với số phận của
người dân lao động Viêt Nam trước cách mạng tháng Tám.
- Một buổi chiều “tối sầm lại vì đói khát” con người đang chìm dần trong bóng
tối, “khơng nhà nào có ánh đèn, lửa”. Khơng gian của thế giới ngổn ngang người sống
kẻ chết, tiếng quạ “cứ gào lên từng hồi thê thiết”. Cái đói đã biến con người thành cái
xác không hồn vật vờ quằn quại . Cái đói đang tràn lan như một dịch bệnh tàn nhẫn và
phô bày sức mạnh hủy diệt thật là khủng khiếp, Kim Lân đã đặt hình ảnh những người

Downloaded by Uyen Nguyen ()


lOMoARcPSD|23111612

sống bên cạnh hình ảnh người chết, cho thấy ranh giới mong manh giữa sự sống và cái
chết .
- Giữa thế giới ngổn ngang người sống kẻ chết ấy, Kim Lân dám đặt vào đó một

đám cưới thì quả là táo bạo. Người ta lấy nhau khi ăn nên làm ra, đám cưới là hiện thân
của sự sống, hạnh phúc ấy vậy mà Tràng và người vợ nhặt quyết định đưa nhau về
trong vòng bủa vây của cái chết, cái đói. Nó đeo bám quyết liệt, đậm đặc trong khơng
khí của tác phẩm, nó vẩn lên thành màu, thành mùi, thành tiếng: màu xanh xám của da
người chết, mùi gây của xác người, tiếng thê thiết của đàn quạ... Cả một xã hội là một
đám ma khổng lồ, Tràng đưa vợ về trong một buổi chiều chạng vạng, đau thương đó.
Trong truyện “Một đám cưới” Nam Cao đã nhìn đám cưới như đám ma, còn ở đây
Kim Lân đã phát hiện ra giữa những đám ma là một đám cưới. Có lẽ cho đến mãi mãi
sau này, nạn đói 1945 vẫn sẽ được xem là một đau thương nhất của lịch sử dân tộc.
Đám cưới của Tràng xuất hiện trên khơng gian bi thảm ấy. Tràng nhặt được vợ. Có thể
nói, trên cái nền tối sầm lại vì đói khát, vẻ đẹp ánh sáng của niềm tin của tình thương
lại lung linh tỏa sáng làm ấm thêm, đẹp thêm bức tranh tình người. Do tình cờ xui khiến
mà Tràng –Thị, hai thân phận “bèo bọt” trôi dạt vào nhau chụm thành nên bếp mà
nhóm lên ngọn lửa hạnh phúc.
- Tác giả đã tạo cho thiên truyện một phông nền đặc biệt nhàu nát, ảm đạm, tối
tăm, có phần nghiệt ngã. Mảng tối của bức tranh hiện thực đau buồn chính là phép địn
bẩy cho mảng sáng của tình người, của khát vọng hạnh phúc tỏa ánh hào quang.
a. Tràng đưa vợ về nhà trước con mắt tò mò của những người xóm ngụ cư. Tâm
trạng Tràng có những biến đổi rất tinh tế qua cái nhìn của nhà văn Kim Lân.
+ “Mặt hắn có một vẻ gì phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình
và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”. Từ một gã dân ngụ cư xấu xí, ế vợ, lần đầu tiên hắn
cảm nhận được hạnh phúc. Tràng trong tâm trạng lâng lâng, vui sướng, tủm tỉm cười,
thích chí. Ánh mắt tràn đầy hi vọng. Nó đối lập hồn tồn với khung cảnh thê lương,
ảm đạm của xóm ngụ cư. Đấy là gì nếu như không phải là cái bộ dạng sung sướng, cái
cảm giác đang ngất ngây trong men say hạnh phúc, dù nó mới bắt đầu trong Tràng?
+ Trước con mắt tị mò của những đứa trẻ, “Tràng vội vàng nghiêm nét mặt, lắc
đầu ra hiệu khơng bằng lịng”. Nếu như trước đây hắn thường xun nơ đùa với đám
trẻ thì dường như việc có vợ khiến Tràng trưởng thành. Hắn ý thức được mình cần tách
biệt với đám trẻ con. Kim Lân diễn tả rất thành công cách cư xử của Tràng với lũ trẻ
con trêu đùa, để gã trai này mắng yêu lũ trẻ “Bố ranh!”. Gã trai tưởng chừng ngờ

nghệch này cũng khéo léo biết mấy để đưa vợ về nhà trước những cặp mắt tò mò và
những lời trêu đùa.
+ Trước con mắt tò mò và ái ngại của người dân xóm ngụ cư “Ơi chao! Giời đất
này cịn rước cái của nợ đời về. Biết có ni nổi nhau sống qua được cái thì này
khơng?”, Tràng vẫn không hề lo sợ tương lai. Trong trái tim anh cu Tràng giờ
đây chỉ có niềm hạnh phúc mới vừa nhen nhóm. Dường như mọi âu lo, nghịch
cảnh khắc nghiệt của cuộc sống cũng không thể ngăn con người hướng về những
giá trị đích thực là có một mái ấm gia đình, được u thương. Và khơng có gì
ngăn nổi niềm tin, niềm hi vọng của họ vào tương lai. Đó chính là giá trị nhân
văn đầy cảm động của truyện ngắn này.

Downloaded by Uyen Nguyen ()


lOMoARcPSD|23111612

+ Trước sự ngượng nghịu, chân nọ bước díu cả vào chân kia của thị “hắn cũng biết
thế, nhưng hắn lại lấy vậy làm thích ý lắm, cái mặt cứ vênh lên tự đắc với mình”. Việc
có vợ khiến Tràng trở nên hãnh diện với mọi người trong xóm ngụ cư và ngay cả với
bản thân mình hắn cũng khơng thể giấu nổi niềm vui, niềm hạnh phúc.
b. Kim Lân rất tinh tế khi miêu tả nét tâm lý, tính cách của thị. Nhà văn như lọt
vào trong nỗi thẳm sâu tâm tư tình cảm ấy của người phụ nữ năm đói. Người đàn bà bề
ngồi tưởng như đáng khinh ấy khi lâm vào cảnh cùng đường phải theo không Tràng
trong lòng cũng vừa thấy tủi phận, vừa e thẹn, ngượng ngập: “Thị cắp cái thúng con,
đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt. Thị có vẻ
rón rén, e thẹn”. Cái dáng vẻ ấy khơng giấu nổi những cặp mắt tị mị của người dân
xóm ngụ cư. Người ta thấy “Thị thèn thẹn hay đáo để” khi nhận thấy cặp mắt những
người xung quanh đang đổ dồn cả về phía mình “Thị ngượng ngịu chân nọ díu vào
chân kia”. Kim Lân như nhìn thấy cả nỗi tủi nhục của kiếp người, thấy cả trong bước
chân liêu xiêu, bước díu vào nhau kia là cả tủi hờn, xấu hổ. Nhà văn đã miêu tả thật

tinh tế và cảm động những bước chân ngập ngừng e thẹn trên đường về nhà chồng của
thị. Qua đó, chúng ta thấy Kim Lân rất thấu hiểu tình cảnh tội nghiệp, cực chẳng đã
của người vợ nhặt. Hoàn cảnh tàn nhẫn xơ đẩy chị có lúc thành ra trơ tráo, cong cớn,
nhưng cái bản chất thực của chị không phải là như vậy. Ẩn sâu trong tâm hồn chị vẫn
là người con gái giàu lòng tự trọng. Cái hay của tác phẩm là không để cảnh ngộ xua
con người đi đến tận cùng của cái tầm thường, hèn hạ.
+ Cũng như Tràng, thị mong muốn có hạnh phúc, có một mái ấm gia đình dù ban
đầu cái mong muốn ấy không hề xuất hiện. Thị tự nguyện về làm vợ Tràng chẳng qua
vì đói. Người đàn bà ấy đến với Tràng trước hết chỉ như đến với một chốn có thể tựa
nương trong thời buổi đói kém, khơng hề có biểu hiện của tình u hay niềm khát khao
hạnh phúc. Nhưng Kim Lân, bằng vốn sống và sự tinh tế của mình, đã khám phá ra cái
bản chất đẹp của người vợ nhặt: niềm khát khao hạnh phúc.
c. Những người dân trong xom ngụ cư khi “Nhìn theo bóng Tràng và bóng người
đàn bà lủi thủi đi về bến, người trong xóm lạ lắm”. Họ “bàn tán” và khi họ “hiểu đôi
phần” khuôn mặt họ “bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên” . Tình huống đã tạo nên sự thay đổi
mới mẻ theo hướng tích cực : bên bờ vực cái chết vì đói khát vẫn biết cảm thơng cho
nhau , tin tưởng vào điều tốt đẹp : “Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống
đói khát, tăm tối ấy của họ”. Rõ ràng cuộc hôn nhân kì lạ của Tràng đã làm bừng sáng
niềm yêu thương trong xóm ngu cư vốn như những nhà mồ hoang lạnh với những sinh
linh đang tuyệt vọng trong cơn đói khát . Tình u, khao khát hạnh phúc như ngọn gió
xua đuổi tà khí u mê vây bủa con người. Viết đoạn văn này Kim Lân đã khẳng định sự
sống và ý chí vươn lên chống lại định mệnh của con người luôn mãnh liệt.
❖ Mở rộng:
- Kim Lân mượn cái đói như một phép thử để làm nổi bật cái tình, như một bối
cảnh khảo sát sức sống của con người. Cuộc sống đói nghèo chỉ có thể làm teo tóp
phần thể xác chứ khơng thể hủy diệt được tình u thương đồng loại, khơng thể dập tắt
ngọn lửa khát vọng sống trong mỗi cá nhân. Hiện thực đó chỉ là phơng nền, là hồn
cảnh để vẻ đẹp của tâm hồn con người, tình yêu thương của những con người dành cho
nhau tỏa sáng đẹp đẽ.


Downloaded by Uyen Nguyen ()


lOMoARcPSD|23111612

- Phản ánh hiện thực khốn cùng của người lao động điều mà Kim Lân muốn
hướng đến không phải là cái đói, cái chết mà là để khẳng định sự sống của họ, khẳng
định dù trong hoàn cảnh cơ cực, con người vẫn vươn lên để sống và khát khao. Kim
Lân viết Vợ nhặt không chỉ bằng con mắt hiện thực sắc lạnh mà còn bằng cả trái tim
chan chứa yêu thương và trân trọng con người. Qua đó, nhà văn phát hiện ra những tia
sáng về đạo đức và danh dự, đằng sau những số phận bi kịch là vẻ đẹp tâm hồn, là
những khát khao bản năng của con người.

Downloaded by Uyen Nguyen ()


lOMoARcPSD|23111612

PHÂN TÍCH VỢ NHẶT (KIM LÂN) THEO ĐOẠN TRÍCH
Đoạn 3: “Ít lâu nay … cùng đẩy xe bị về”
* Vị trí, nội dung của đoạn trích: Thuộc phần giữa của truyện, đoạn văn là dòng hồi tưởng của
nhân vật Tràng trong một lần “xe thóc Liên đồn lên tỉnh” thì tình cờ gặp thị. Nhờ một câu bơng
đùa mà Tràng có vợ. Đoạn văn vừa hài hước vừa chua xót, diễn tả tâm trạng nhân vật thị, tâm
trạng của Tràng qua hai lần gặp gỡ.
1. Lần gặp gỡ thứ nhất
a. Tràng: Tràng là người lao động thiệt thòi, nghèo khổ đến mức cái tên cũng gợi sự lam lũ, vất
vả. Đó là con người được tạo hóa đẽo gọt quá sơ sài về ngoại hình và tính cách. Hắn có vẻ ngờ
ngh

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×