Tải bản đầy đủ (.pdf) (71 trang)

Nghiên cứu thử nghiệm biện pháp phòng trừ bệnh hại cây quế (cinnamomum cassia presl) ở vườn ươm tại huyện tràng định, tỉnh lạng sơn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.05 MB, 71 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

TRẦN ANH TUẤN

NGHIÊN CỨU THỬ NGHIỆM BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ
BỆNH HẠI CÂY QUẾ (Cinnamomum cassia Presl) Ở VƯỜN
ƯƠM TẠI HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG
MÃ NGÀNH: 8620211

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS. TRẦN THANH TRĂNG
2. TS. NGUYỄN THÀNH TUẤN

Hà Nội, 2023
v


i
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là cơng trình nghiên cứu khoa học, độc
lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn


gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên
cứu nào đã cơng bố, tơi xin hịan tồn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận
đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học.
Hà Nội, ngày ... tháng ... năm 2023
Người cam đoan

Trần Anh Tuấn


ii
LỜI CẢM ƠN
Quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ khoa học
Lâm nghiệp, chuyên ngành Quản lý Tài nguyên rừng rừng tại Trường Đại học
Lâm nghiệp, tôi luôn nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ nhiệt tình của các thầy,
cơ giáo Trường Đại học Lâm nghiệp, gia đình và đồng nghiệp, lãnh đạo
Trung tâm Nghiên cứu Bảo về rừng Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.
Nhân dịp này cho tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các cơ
quan, tổ chức và cá nhân:
- Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học, Khoa Quản lý TNR&MT
và thầy cô giáo Trường Đại học Lâm nghiệp đã giúp đỡ tơi hịan thành khóa
đào tạo;
- TS. Trần Thanh Trăng - Phó giám đốc Trung tâm nghiên cứu Bảo vệ
rừng - Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, TS. Nguyễn Thành Tuấn Giảng viên Trường Đại học Lâm nghiệp đã định hướng và tạo mọi điều kiện
giúp đỡ tơi hịan thành luận văn;
- TS. Đặng Như Quỳnh và TS. Nguyễn Mạnh Hà, Trung tâm Nghiên
cứu Bảo vệ rừng đã giúp đỡ tôi thực hiện các thí nghiệm trong phịng thí
nghiệm và vườn ươm tại Hà Nội;
- Ban lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng - Viện khoa học
Lâm nghiệp Việt Nam, chính quyền địa phương các xã đã tạo mọi điều kiện

thuận lợi để tôi thực hiện điều tra ngoại nghiệp tại huyện Tràng Định, Lạng
Sơn.
Do còn nhiều hạn chế về thời gian, nhân lực, tài chính và điều kiện
nghiên cứu nên chắc chắn luận văn cịn nhiều thiếu sót. Tơi mong muốn nhận
được những đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học
và đồng nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày ... tháng ... năm 2023
Học viên
Trần Anh Tuấn


iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... ii
MỤC LỤC ............................................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ................................................................... v
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................... vi
DANH MỤC CÁC HÌNH .................................................................................. viii
ĐẶT VẤN ĐỀ ....................................................................................................... 1
Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU........................................ 3
1.1. Tổng quan về bệnh hại Quế ........................................................................ 3
1.1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước về bệnh hại Quế ............ 3
1.1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước về bệnh hại Quế ......... 7
1.2. Luận giải sự cần thiết nghiên cứu đề tài ................................................... 11
Chương 2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU ................................................................................................... 14
2.1. Điều kiện tự nhiên huyện Tràng Định ...................................................... 14
2.1.1. Vị trí địa lý .......................................................................................... 14

2.1.2. Đặc điểm tự nhiên ............................................................................... 15
2.1.3. Đặc điểm tài nguyên ........................................................................... 16
2.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn .................. 18
2.2.1. Về kinh tế ............................................................................................ 18
2.2.2. Về văn hóa - xã hợi ............................................................................. 18
Chương 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................... 19
3.1. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................. 19
3.1.1. Mục tiêu tổng quát .............................................................................. 19
3.1.2. Mục tiêu cụ thể.................................................................................... 19
3.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................ 19


iv
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................. 19
3.3.1. Điều tra, thu mẫu và xác định các loại bệnh hại cây Quế ở vườn
ươm tại huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn ................................................... 19
3.3.2. Nghiên cứu thử nghiệm biện pháp phòng trừ bệnh hại cây Quế quy
mơ phịng thí nghiệm và vườn ươm .............................................................. 19
3.4. Phương pháp nghiên cứu tương ứng với từng nội dung ........................... 20
3.4.1. Điều tra, thu mẫu và xác định các loại bệnh hại cây Quế ở vườn
ươm tại huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn ................................................... 20
3.4.2. Nghiên cứu thử nghiệm biện pháp phòng trừ bệnh hại cây Quế quy
mơ phịng thí nghiệm và vườn ươm .............................................................. 24
Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................ 32
4.1. Kết quả điều tra, thu mẫu và xác định các loại bệnh hại cây Quế ở vườn
ươm tại huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn ...................................................... 32
4.1.1. Điều tra, thu mẫu và xác định các loại bệnh hại cây Quế ở vườn
ươm tại huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn ................................................... 32
4.1.2. Giám định tên khoa học ...................................................................... 40
4.2. Kết quả nghiên cứu thử nghiệm biện pháp phịng trừ bệnh hại cây Quế

quy mơ phịng thí nghiệm và vườn ươm.......................................................... 41
4.2.1. Nghiên cứu biện pháp cơ giới, vật lý .................................................. 41
4.2.2. Nghiên cứu biện pháp sinh học .......................................................... 42
4.2.3. Nghiên cứu biện pháp hóa học ........................................................... 47
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ........................................................... 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 54
PHỤ LỤC


v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt

Ngun nghĩa

ODB

Ơ dạng bản

CT

Cơng thức

P%

Tỷ lệ cây bị bệnh hại

R%

Mức độ bị hại


EP%

Hiệu quả phòng trừ với P%

ER%

Hiệu quả phòng trừ với R%

STT

Số thứ tự

TB

Trung bình


vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Bảng phân cấp chỉ số bệnh hại lá ....................................................... 20
Bảng 3.2. Công thức phản ứng PCR ................................................................... 23
Bảng 3.3. Phân cấp khả năng ức chế nấm gây bệnh ........................................... 26
Bảng 4.1. Tỷ lệ cây bị bệnh hại lá tại vườn ươm huyện Tràng Định, tỉnh Lạng
Sơn....................................................................................................................... 33
Bảng 4.2. Tỷ lệ cây bị bệnh hại rễ tại vườn ươm huyện Tràng Định, tỉnh
Lạng Sơn ............................................................................................................. 34
Bảng 4.3. Kết quả gây bệnh nhân tạo hai chủng nấm phân lập được từ lá quế
bị bệnh ở vườn ươm ............................................................................................ 36
Bảng 4.4. Kết quả gây bệnh nhân tạo hai chủng nấm phân lập được từ rễ quế

bị bệnh ở vườn ươm ............................................................................................ 37
Bảng 4.5. Kết quả xác định tên khoa học của loại bệnh hại lá và hại rễ cây
Quế ở vườn ươm huyện Tràng Định, Lạng Sơn ................................................. 40
Bảng 4.6. Kết quả phòng trừ bệnh hại lá cây Quế tại vườn ươm bằng biện
pháp cơ giới, vật lý .............................................................................................. 41
Bảng 4.7. Kết quả phòng trừ bệnh hại rễ cây Quế tại vườn ươm bằng biện
pháp cơ giới, vật lý .............................................................................................. 42
Bảng 4.8. Khả năng ức chế nấm gây bệnh hại lá của các loại thuốc sinh học.... 43
Bảng 4.9. Kết quả phòng trừ bệnh hại lá cây Quế tại vườn ươm bằng biện
pháp sinh học ....................................................................................................... 44
Bảng 4.10. Khả năng ức chế nấm gây bệnh hại rễ của các loại thuốc sinh học . 45
Bảng 4.11. Kết quả phòng trừ bệnh hại rễ cây Quế tại vườn ươm bằng biện
pháp sinh học ....................................................................................................... 46
Bảng 4.12. Khả năng ức chế nấm gây bệnh của các loại thuốc hóa học đối với
nấm hại lá Quế..................................................................................................... 47
Bảng 4.13. Kết quả phòng trừ bệnh hại lá cây Quế tại vườn ươm bằng biện


vii
pháp hóa học........................................................................................................ 48
Bảng 4.14. Khả năng ức chế nấm gây bệnh của các loại thuốc hóa học đối với
nấm hại rễ Quế .................................................................................................... 49
Bảng 4.15. Kết quả phòng trừ bệnh hại rễ cây Quế tại vườn ươm bằng biện
pháp hóa học........................................................................................................ 51


viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1. Bệnh hại lá Quế ở vườn ươm huyện Trang Định ............................... 32
Hình 4.2. Bệnh hại rễ Quế ở vườn ươm huyện Tràng Định ............................... 34

Hình 4.3. Mẫu nấm phân lập được từ lá và rễ Quế bị bệnh ở vườn ươm huyện
Tràng Định .......................................................................................................... 35
Hình 4.4. Gây bệnh nhân tạo lên lá Quế ............................................................. 36
Hình 4.5. Gây bệnh nhân tạo lên cây Quế tại vườn ươm Trung tâm Nghiên
cứu Bảo vệ rừng .................................................................................................. 38
Hình 4.6. Hình ảnh mẫu nấm hại lá được ni cấy trên mơi trường PDA ......... 38
Hình 4.7. Hình ảnh mẫu nấm hại rễ được nuôi cấy trên môi trường PDA ......... 39
Hình 4.8. Thử nghiệm thuốc sinh học ức chế nấm gây bệnh hại lá .................... 43
Hình 4.9. Thử nghiệm thuốc sinh học ức chế nấm gây bệnh hại rễ.................... 45
Hình 4.10. Thử nghiệm thuốc hóa học ức chế nấm gây bệnh hại lá ................... 47
Hình 4.11. Thử nghiệm thuốc hóa học ức chế nấm gây bệnh hại rễ .................. 50


1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Quế là một trong những sản vật quý, hầu hết các bộ phận của Quế đều
chứa tinh dầu, tinh dầu Quế là một vị thuốc quý trong dược liệu, có tác dụng
kích thích làm cho sự tuần hịan máu được lưu thơng tốt. Lá, vỏ Quế có thể sử
dụng để tách chiết tinh dầu, vỏ Quế có thể nghiền nhỏ để sử dụng trong chế
biến thực phẩm, ngâm nước nóng, để nguội uống, thường được dùng trong
các bài thuốc chữa bệnh về đường tiêu hóa, hơ hấp, kích thích sự tuần hịan
của máu, lưu thơng huyết mạch, làm cho cơ thể ấm lên, chống lại giá lạnh do
vậy Quế được sử dụng làm nguyên liệu trong ngành dược liệu trong cả Đông
và Tây y, sử dụng làm mỹ phẩm, gia vị. Quế là loài cây được gây trồng nhiều
ở một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Sri-Lanka, Việt Nam. Ở Việt Nam,
Quế là loại "đặc sản rừng" có giá trị cao và chiếm một trong những vị trí hàng
đầu trong các lâm sản ngồi gỗ xuất khẩu. Từ một loài cây mọc tự nhiên,
phân bố rộng, ở nhiều vùng đất nước ta từ Bắc Bộ cho đến Nam Trung Bộ,
nay Quế đã trở thành một loài cây trồng khá phổ biến mang lại giá trị kinh tế
cao, đóng góp giá trị sản xuất lớn cho người dân ở các vùng trồng Quế. Theo

thống kê, toàn tỉnh Lạng Sơn hiện có khoảng trên 7.000 ha rừng Quế, trong
đó diện tích trồng chủ yếu ở huyện Tràng Định với gần 5.000 ha. Bên cạnh
đó, sản phẩm quế hữu cơ tại Lạng Sơn cũng đang được chú trọng nhằm đáp
ứng nhu cầu xuất khẩu mặt hàng Quế của địa phương ra nước ngồi.
Mặc dù diện tích gây trồng Quế ở Việt Nam ngày càng tăng trong 10
năm qua tập trung ở 3 vùng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ với tốc độ
tăng trưởng bình quân hàng năm là 15,6% từ 17.000 ha trong năm 2003 lên
đến 70.192 ha trong năm 2012 nhưng hiện trạng là chất lượng và năng suất
Quế của nước ta nói chung và ở Lạng Sơn nói riêng vẫn cịn đang ở mức thấp.
Điều này do sự gia tăng diện tích trồng rừng Quế tập trung đã và đang xuất
hiện ngày nhiều loài bệnh gây nguy hại cho cây Quế. Cây Quế con ở nhiều


2
vườn ươm Quế ở Lạng Sơn đang bị bệnh hại rễ và hại lá tấn cơng, có thể làm
cho cây con bị chết hoặc suy giảm chất lượng cây Quế trước khi xuất vườn
trồng rừng.
Nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của bệnh hại lá và hại rễ cây Quế ở giai
đoạn vườn ươm tại huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, đề tài: “Nghiên cứu
thử nghiệm các biện pháp phòng trừ bệnh hại cây Quế (Cinnamomum
cassia Presl) ở vườn ươm tại huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn” được thực
hiện nhằm xác định những biện pháp phịng trừ bệnh quy mơ phịng thí
nghiệm và vườn ươm làm cơ sở cho cho việc quản lý bệnh hại cây Quế giai
đoạn vườn ươm ở tỉnh Lạng Sơn.


3
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về bệnh hại Quế

1.1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngồi nước về bệnh hại Quế
Nấm Collectotrichum gloeosporioides là nguyên nhân gây ra bệnh thán
thư cây Quế ở Đài Loan, Trung Quốc (Fu và Chang, 1998). Triệu chứng của
bệnh: Ban đầu trên lá xuất hiện những chấm nhỏ màu nâu đến đen, các chấm
sau đó lan rộng và lá bị rụng khi khơng cịn khả năng sinh trưởng. Ngồi ra,
nấm C. gloeosporides còn là tác nhân gây ra bệnh đốm lá hay cháy lá cây Quế
ở hầu hết các khu vực rừng trồng Quế ở Sri-Lanka (Anandaraj và
Devashayam, 2004; Kumara, 1999), bệnh này tác động chủ yếu đến toàn bộ
tán lá trong suốt quá trình phát triển của cây. Theo nghiên cứu của Kumara
(1999) ở Matara, Sri-Lanka 18% tán lá cây Quế bị nấm bệnh này gây hại.
Triệu chứng của bệnh đốm lá, khô cành ngọn trên Quế do nấm
C. gloeosporides gây ra chỉ thể hiện rõ sau 8 - 10 ngày cây bị nấm xâm nhập,
lúc này xuất hiện những đốm nhỏ màu nâu vàng trên các phiến lá sau đó liên
kết lại để tạo thành các mảng khơng đều nhau có màu trắng tới xám ở viền
bên ngồi, vết bệnh ban đầu có hình bầu dục sau chuyển thành vết đốm dạng
hoại tử có kích thước 14 - 42 mm. Ở một số cây con bị bệnh nặng sẽ bị lây
sang thân gây bệnh và làm chết cây (Karunakaran and Nair, 1980). Ở Ấn Độ,
từ những năm 1980 bệnh đốm lá và khô cành, chết ngọn Quế (Cinnamomum
zeylanicum) đã được nghiên cứu và xác định là do nấm C. gloeosporides gây
ra (Karunakaran and Nair, 1980).
Theo Zheng và cộng sự (2004) bệnh đốm lá do tảo Cephaleuros
virescens lây nhiễm vào cây chủ bằng bào tử động trong điều kiện mưa và
trong khơng khí, từ tháng 3 tới tháng 10 ở vùng Hua’an tỉnh Fujian, Trung
Quốc là bệnh rất nghiêm trọng trên cây Quế. Đây là bệnh đơn chu kỳ, mầm


4
bệnh qua đông bằng bào tử túi xâm nhiễm trên lá. Khi cây bị bệnh đốm lá bởi
tảo C. virescens sẽ xuất hiện các đốm màu cam hoặc màu nâu với lớp lơng
mịn xuất hiện trên bề mặt lá. Kích thước các đốm bệnh trên lá khá nhỏ và sự

phát triển của các đốm bệnh này tương đối chậm và cũng không theo qui
luật (Rajapakse và Wasantha, 2007).
Bệnh gỉ sắt gây hại Quế (Cinnamomum spp.) do nấm Aecidium
cinnamoni được phát hiện hầu hết ở Indonesia và được xác định là bệnh gây
hại nghiêm trọng đặc biệt là ở vườn ươm, vườn giống (Dono Wahyuno và
Makoto Kakishima, 2014). Bệnh gỉ sắt do nấm A. cinnamoni gây hại trên Quế
thường làm cho lá bị tổn thương tạo thành dị tật, đốm hoại tử và rụng lá non.
Bệnh gỉ sắt thưởng xuất hiện thể quả ở cuống lá, cành non và thân ở cây trong
giai đoạn vườn ươm đến khi cây trưởng thành (Dono Wahyuno và Makoto
Kakishima, 2014). Bệnh gỉ sắt do nấm A. Cinnamoni gây hại trên cây Quế
còn được ghi nhận ở Ấn Độ và Sri-Lanka (Akhtar Husain et al., 1988).
Bệnh phấn hồng do nấm Corticium salmonicolor được ghi nhận trên
cây Quế và xác định là một bệnh nguy hiểm ở Sri-Lanka, Ấn Độ và Indonesia
(Weiss, 2002). Đối với những cây bị bệnh phấn hồng do nấm C. salmonicolor
sẽ hình thành các vệt trắng hồng trên thân hoặc cành ngay từ ban đầu khi mới
bị nấm xâm nhiễm, sau đó lan rộng, phá hủy lớp vỏ cây và cuối cùng dẫn đến
làm chết các chồi non (Rajapakse và Wasantha, 2007).
Nấm Phellinus lamaensi bệnh thối rễ nâu đối với cây Quế ở Ấn Độ và
Sri-Lanka (Akhtar Husain et al., 1988). Nấm P. lamaensi xâm nhập làm rễ
biến đổi thành màu nâu làm cho cây có triệu chứng bị héo hoặc chết (Da
Graca et al., 1980).
Đến năm 2007 ngoài một số loài nấm bệnh hại lá trên Quế ở Sri-Lanka
đã được một số tác giả công bố như bệnh đốm lá do nấm C. gloeosporides,
bệnh phấn hồng do nấm C. salmonicolor, bệnh thối rễ nâu do nấm P.
lamaensi. Rajapakse và Wasantha (2007) đã phân chia thành các nhóm bệnh


5
đối với cây Quế gồm nhóm bệnh hại lá: bệnh đốm xám do nấm Pestalotia
cinnamomi, bệnh mốc đen do nấm Stenella spp. và bệnh đốm lá do tảo

Cephaleuros virescens; nhóm bệnh hại thân và rễ gồm: bệnh loét thân cành do
nấm Phytopthora cinnamomi, và một số nấm bệnh gây thối rễ khác như nấm
Exobasidium cinnamomi, Diplidia spp., Leptoporus lignosus, Rosellinia spp.
Ở Ấn Độ bệnh đốm xám lá Quế do nấm Phytopthora cinnamomi được
coi là bệnh hại phổ biến nhất đối với cây Quế và gây hại lá Quế lên đến 90%
(Karunakaran et al., 1993; Anonymous, 1996). Triệu chứng gây hại khá giống
với bệnh đốm lá Quế theo như báo cáo ở một số nước như Dominica và
Pakistan (Ciferri, 1926; Ciferri và Fragoso, 1927). Nấm P. cinnamomi gây
bệnh đốm xám lá trên cây Quế ban đầu xuất hiện các đốm nâu vàng trên lá,
sau đó các đốm bệnh này chuyển sang màu xám có viền xung quanh và lan
rộng ra các phiến lá và tạo ra các vết thâm đen ở giữa các vết bệnh. Cây bị
bệnh nặng sẽ xuất hiện hiện tượng trơ trụi do rụng hết lá (Rajapakse và
Wasantha, 2007). Ngồi ra, nấm P. cinnamomi cịn gây bệnh lt thân cành,
hình thành các vết sẹo có màu hổ phách chạy dọc trên thân, cành. Các vết sẹo
này thường xuất hiện ở đỉnh của cây non và dưới gần gốc cây đối với cây già
(Mehrlich, 1934).
Bệnh sùi vỏ Quế đang được thu hút sự quan tâm chú ý của người trồng
rừng vì nó là một trong những bệnh quan trọng nhất ở Sri-Lanka, nhưng vẫn
chưa xác định được tác nhân gây hại (Kumara, 1999). Triệu chứng ban đầu
xuất hiện các đốm đen trên thân sau đó phát triển thành mảng lớn và bong
thành vẩy. Bệnh này làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và giảm năng suất chất
lượng rừng (Rajapakse và Wasantha, 2007).
Ngồi các bệnh trên thì cây Quế ở Ấn Độ và Sri-Lanka còn bị một số
loại bệnh khác như bệnh mục trắng do nấm Fomes lignosus, bệnh khảm đỏ do
nấm phấn hồng Corticium salmonicolor, bệnh thán thư do nấm Glomerella
cingulata (Akhtar Husain et al., 1988).


6
Phòng trừ nấm bệnh C. gloeosporides người dân trồng rừng Sri-Lanka

đã sử dụng thuốc hóa học có chứa gốc đồng. Cịn theo đề nghị của bộ Nơng
nghiệp Sri-Lanka một số hoạt chất hóa học để kiểm sốt nấm bệnh này đặc
biệt ở giai đoạn cây con ở vườn ươm cũng được khuyến cáo sử dụng như
phun Chlorothalonil 75% WP, Carbendazim 50% WP, Mancozeb 80% WP
hoặc Thiphanatemethyl 70% WP (Rajapakse và Wasantha, 2007). Phun hỗn
hợp Bordeaux 5% + Ridomil hoặc Dithane M- 45 0,2% cho 3 - 4 lần cách nhau
8 - 10 ngày để ngăn chặn sự lây lan của mầm bệnh (Ahasan Ullah Khan et al.,
2020).
Quản lý phòng trừ một số bệnh hại Quế được Ahasan Ullah Khan et al.
(2020) đề nghị khuyến cáo gồm: bệnh đốm xám lá do nấm P. cinnamomi
kiểm soát hiệu quả cần lựa chọn giống cây khỏe mạnh, loại bỏ tàn dự mầm
bệnh và tuân thủ luân canh cây trồng, khi cây bị bệnh để giảm sự lây lan bằng
cách phun Dithane M- 45 0,2% hoặc Bavistin 0,25% cho 2 lần trong 15 ngày,
có thể phun Bordeaux 1% vào tháng 5 và tháng 9 ngoài hiện trường; bệnh loét
thân cành do nấm P. cinnamomi cần xây dựng hệ thống tưới tiêu phù hợp
nhằm giảm khả năng mắc bệnh, khi cây có dấu hiệu bị bệnh cần cắt bỏ vận
chuyển ra khỏi rừng hoặc sử dụng hắc ín bơi lên các bệnh; bệnh tàn lụi do
nấm Diplodia sp. cần tuyển chọn ra những hạt giống tốt để tạo cây khỏe mạnh
có sức kháng bệnh cao nhằm hạn chế cây bị bệnh. Hạt giống cấn được xử lý
qua hỗn hợp Thirum + Vitavax 0,25% với liều lượng 2,5 - 3,0kg/kg hạt giống
hoặc đối với cây giống bị bệnh xử lý bằng phun thuốc Bordeaux 1%; Đối với
bệnh hại rễ, thân như P. lamaensi, E. cinnamomi triệu chứng xuất hiện là khi
cây đã bị nặng nên sẽ rất khó để kiểm sốt chính vì vậy để ngăn chặn trước
nấm bệnh xâm nhập tấn công gây hại cấn sử dụng thuốc diệt nấm trộn với bầu
đất trước khi trồng rừng.
Để quản lý phòng trừ bệnh phấn hồng do nấm C. salmonicolor được
khuyến cáo bằng cách cắt tỉa hoặc đốt và vận chuyển ra khỏi rừng những cây


7

bị bệnh nhằm làm giảm tỷ lệ bị bệnh và trách lây lan sang những cây khác
trong khu vực xung quanh chứ chưa có hoạt chất hóa học nào được khuyến
nghị sử dụng phòng trừ nấm bệnh này (Rajapakse và Wasantha, 2007). Đối
với loại nấm bệnh này thuốc sinh học BIO-C được xem là thuốc diệt nấm có
hiệu quả kinh và khả năng phòng trừ. Thời gian sử dụng tuần 1 lần, liều lượng
mỗi lần bón 50 cc/cây tùy theo mức độ bị nhiễm bệnh (Ahasan Ullah Khan et
al., 2020).
Kiểm soát bệnh đốm lá do C. virescens bằng hỗn hợp hợp 1%
Bordeaux, 50% Topsin và 50% Carbendazim lần lượt là 66,2%, 45,9%, và
33,8% (Zheng et al., 2004).
1.1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước về bệnh hại Quế
Kết quả điều tra thành phần sinh vật gây hại Quế ở một số tỉnh ở Việt
Nam đã thu được 23 loài vật gây bệnh, cụ thể gồm bệnh hại lá: Bệnh thán thư
Colletotrichum sp., bệnh khô lá Pestalotiopsis funerae, bệnh đốm lá
Colletotrichum cinnamomi, bệnh phấn trắng Oidium sp., bệnh đốm lá
Gloeosporium cinnamomi… Bệnh hại thân, cành: Bệnh tua mực
Agrobacterium tumefaciens, bệnh nứt cành Verticillium sp., bệnh khô cành
Phomopsis sp... Bệnh hại rễ: Bệnh thối rễ do Rhizoctonia solani và
Phytophthora cinamomi... Trong đó các lồi gây hại chính cho Quế như:
Bệnh tua mực do vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens, bệnh phấn trắng do
nấm Oidium sp., bệnh thán thư do nấm Colletotrichum gloeosporioides (Phạm
Quang Thu, 2016).
Theo nghiên cứu của Đặng Như Quỳnh và đồng tác giả (2017), bệnh
thối rễ Quế do nấm Phytophthora cinnamomi gây ra được ghi nhận lần đầu
tiên ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cũng xác định khoảng 10% diện tích
rừng Quế tại tỉnh Yên Bái bị chết là do loài nấm bệnh này gây ra.
Kết quả nghiên cứu của Võ Duy Loan (2014) đã phát hiện được 12 loại
bệnh gồm: bệnh thối rễ nứt thân, bệnh thối rễ tơ, bệnh thối gốc nấm trắng,



8
bệnh lở cổ rễ, bệnh thối nâu rễ, bệnh đốm lá, bệnh thán thư lá, bệnh tua mực,
bệnh cao cành, bệnh thán thư đọt non do nấm, nấm tảo hồng và 2 loại tuyến
trùng là tuyến trùng mụn u và tuyến trùng ngoại ký sinh. Trong đó bệnh tua
mực, bệnh đốm lá, bệnh thán thư đọt (khô đọt non) được xác định là những
loại bệnh đáng chú ý nhất do khả năng gây hại là tương đối nguy hiểm đối với
sinh trưởng phát triển của cây Quế.
Nghiên cứu của Trần Quang Tấn (2004) đã công bố về thành phần bệnh
hại Quế tại Yên Bái, Thanh Hóa và Quảng Nam đã thu thập được 11 mẫu
bệnh hại gồm: bệnh nứt cành do nấm Verticilium sp., bệnh cháy lá do nấm
Pestalozzia cinnamomi; bệnh đốm lá do nấm G. cinnamomi; C. cinnamomi và
Phyllosticta cinnamomi, Phomopsis sp.; Khô cành do nấm Lasiodiplodia
theobromae; bệnh cao cành do Septobasidium sp.; bệnh muội đen do nấm
Capnodium sp. và bệnh tua mực do vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens.
Điều tra về bệnh tua mực Quế tại Quảng Nam và Quảng Ngãi cho thấy
tỷ lệ nhiễm bệnh tua mực rừng trồng thuần loài từ 70 - 100%. Tại Trà Giác,
Trà My có 100% số cây bị tua mực. Quế Thanh Hóa trồng ở Trà My tỷ lệ tua
mực thấp hơn khoảng 15 - 20% (Nguyễn Trung Tín, 1999). Bệnh tua mực
Quế hại thân, cành và cuống lá lần đầu được phát hiện ở Trấn Yên - Yên Bái
và đặc biệt đã và đang trở thành dịch hại chính quan trọng trên cây Quế tại
Quảng Nam. Đây cũng là đối tượng gây hại nguy hiểm hàng đầu ở tất cả các
vùng trồng Quế tại Quảng Nam và Quảng Ngãi. Tại Trà My và Tiên Phước,
Quảng Nam tỉ lệ bệnh là khoảng 5 - 10%, cá biệt có những vườn Quế tỉ lệ
bệnh lớn hơn 50%. Ở Quảng Ngãi các vườn Quế tái sinh chồi có vườn tỉ lệ
bệnh lên tới 30 - 40%. Bệnh tua mực gây hại tất cả các bộ phận của cây, rễ,
thân, cành, cuống lá và gân lá. Triệu chứng của bệnh có thể tìm thấy từ Quế ở
trong vườn ươm trở đi và gây hại ở tất cả các vùng Quế đồi, Quế vườn. Các
vườn Quế có độ che phủ cao bệnh nặng hơn những vườn Quế được chiếu
nắng đầy đủ. Cây con bị bệnh nếu triệu chứng ở đỉnh sinh trưởng của cây, cây



9
thường bị khô chết từ ngọn xuống (Trần Quang Tấn, 2004).
Lý Kim Bảng và đồng tác giả (2000) đã lây nhiễm thành công các vi
sinh vật gây bệnh tua mực để hình thành nên khối u ở cây Quế. Việc lây
nhiễm nhân tạo đã chứng minh tác nhân gây nên khối u, giai đoạn đầu của
Bệnh tua mực hại cây Quế không phải do một loại vi sinh vật riêng biệt, mà
do một hỗn hợp các vi sinh vật, ít nhất gồm 2 loài nấm sợi Mammaria cesati
(M29), L. subramanian (M28) và một loại vi khuẩn Pseudomonas sp. (TM1).
Hiện tượng sinh khối u ở cây Quế bị nhiễm VSV giống như triệu chứng của
bệnh tua mực ở giai đoạn đầu của những cây Quế 5 năm tuổi trở lên. Khối u
trên cây Quế lây nhiễm nhân tạo xuất hiện vào tháng 9 và tiếp tục phát triển
vào các tháng 10, 11, 12 phù hợp với thời gian bệnh tua mực phát triển ngồi
mơi trường tự nhiên.
Vũ Văn Định (2020) đã nghiên cứu và xác định được danh mục bệnh
hại Quế ở Lào Cai bao gồm 12 loài thuộc 9 họ 8 bộ trong đó xác định bệnh
chết héo Quế do nấm (Phytophthora cinnamomi) ở giai đoạn vườn ươm và
rừng trồng là bệnh hại chính. Nấm gây bệnh sinh trưởng tốt trong điều kiện
nhiệt độ từ 20 - 300 C và ẩm độ từ 80 - 90%.
Năm 1996, nhóm nghiên cứu thuộc Viện Tài nguyên sinh vật đã tìm ra
2 loại bệnh nguy hiểm gây hại cây Quế đó là bệnh thối gốc gây ra bởi nấm
Fusarium oxysporum và bệnh tua mực gây ra bởi phytoplasma, bệnh được
phát hiện ở cả vườn ươm và rừng trồng, nơi bị bệnh tua mực nặng nhất là
thôn Trà Giác, huyện Trà My, Quảng Nam.
Triệu chứng của bệnh thối rễ (Phytophthora cinnamomi) ở cây Quế
trong giai đoạn vườn ươm được mô tả khi nấm bệnh này xâm nhiễm sẽ làm
tổn thương và làm thối rễ cám, vỏ rễ bong ra thành từng mảng. Lá cây chuyển
sang màu vàng sau đó xuất hiện các chấm đen. Cây bị nặng sẽ thấy hiện
tượng héo lá, khô ngọn và chết (Vũ Văn Định và đồng tác giả, 2017).
Bệnh tua mực là loại dịch hại nguy hiểm nhất trên cây Quế, triệu chứng



10
bệnh thường xuất hiện trên thân, cành, cuống lá và gân lá. Lúc đầu trên thân,
cành xuất hiện các bướu sần sùi, sau đó các u bướu phát triển nhanh và mọc
ra các tua dài giống như tua mực. Cây Quế bị bệnh còi cọc, chậm phát triển,
nếu bệnh nặng cây có thể chết, khơng có khả năng cho thu hoạch vỏ. Bệnh tua
mực tồn tại gây hại trên cây Quế quanh năm.
Theo Phạm Văn Lực và Lưu Tham Mưu (1997), nguyên nhân chính
gây bệnh tua mực là do phytoplasma, và véc tơ truyền bệnh là do vi rút, nấm,
Azotobacter và côn trùng. Tỉ lệ bị bệnh tua mực ở vườn Quế trong các hộ gia
đình thường thấp hơn ở các khu rừng thuộc các lâm trường quốc doanh.
Đặng Vũ Thanh và đồng tác giả (2003) đã xác định được 02 loài vi
khuẩn Agrobactetium tumefacines và A. rhizogenes là tác nhân gây bệnh tua
mực cây Quế ở Yên Bái và Quảng Nam. Nghiên cứu đã thu thập các mẫu có
triệu chứng bệnh tua mực và phân lập vi khuẩn trên mơi trường lựa chọn
D1M, sau đó kiểm chứng tác nhân gây bệnh bằng cách tiến hành lây bệnh trở
lại cho cây con của Quế, theo dõi thời gian xuất hiện triệu chứng, đánh giá tỷ
lệ bị bệnh và phân lập lại vi sinh vật gây bệnh.
Nghiên cứu mới đây về bệnh tua mực hại cây Quế tại tỉnh Quảng Ngãi
đã xác định được nguyên nhân gây bệnh tua mực là phytoplasma. Triệu chứng
của bệnh có dạng tua mực nhỏ xuất hiện trên thân, cành và các chồi non của
cây Quế.
Ở nước ta đã có một số nghiên cứu phịng trừ bệnh hại Quế được công
bố, một trong những kết quả nghiên cứu là của tác giả Vũ Văn Định và đồng
tác giả năm (2017) đã sử dụng Ridomil 72WP nồng độ 0,5 - 1% và Agrifos
400 nồng độ 0,5 - 1% để phòng tránh sự lây lan bệnh thối rễ (Phytophthora
cinnamomi) đối với cây Quế ở vườn ươm tại Lào Cai. Tác giả cũng khuyến
cáo nên trộn Trichoderma và một số chế phẩm sinh học khác có tính đối
kháng với nấm bệnh này vào bầu đất khi làm cây giống.

Năm 2014, theo nghiên cứu của Võ Duy Loan khẳng định thuốc kháng


11
sinh khơng có tác dụng trong phịng trừ bệnh tua mực hại cây Quế ở Trà
Bồng, Quảng Ngãi, riêng thuốc Bonny 4SL có khả năng kìm hãm sự phát
triển của chiều dài tua chứ khơng có khả năng trừ bệnh. Để phòng trừ bệnh
tua mực phải áp dụng đồng bộ các biện pháp trồng Quế theo đúng mật độ,
chăm sóc bón phân để cho cây sinh trưởng phát triển tốt, tăng cường sức đề
kháng của cây đối với bệnh và đặc biệt là phịng trừ cơn trùng mơi giới truyền
bệnh là loài rệp ống Aulacaspis bằng cách cắt bỏ các đoạn cành có rệp đem đi
tiêu hủy, nếu mật độ rệp cao thì sử dụng một trong các loại thuốc Actara
25WG, Midan 10WP, Chess 50WP để phun đạt 93,33% sau 14 ngày phun
thuốc. Phịng trừ bệnh đốm lá có thể sử dụng các loại thuốc Carbenda 50FL,
Sumi-eight 12,5 WP và Ridomil 68WG đều có hiệu lực cao đối với bệnh. Đối
với bệnh thán thư đọt Quế, tác giả khuyến cáo sử dụng 3 loại thuốc Aliette 80
WP, Cuzate M8-72WP và Score 250 ND đều đạt hiệu lực khá đối với bệnh
thán thư đọt hại Quế.
Trần Quang Tấn (2004) xác định nguyên nhân gây bệnh tua mực cây
Quế là do 2 lồi vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens và Agrobacterium
rhizogenes. Nghiên cứu phịng trừ 2 loài vi khuẩn này tác giả đã tiến hành
đánh giá hiệu lực kháng khuẩn của 3 loại kháng sinh trong phịng thí nghiệm
là Penicillin 500.000UI, Streptomycin 750.000UI và Tetracylin 0,5%. Kết quả
thí nghiệm cho thấy chỉ có Streptomycin có khả năng ức chế khuẩn mạnh, các
thuốc cịn lại khả năng ức chế khuẩn yếu hoặc khơng có khả năng ức chế.
Vũ Văn Định (2020) xác định được thuốc hóa học Ridomin 68WG
nồng độ 1% có hiệu quả phịng trừ bệnh hại ở giai đoạn vườn ươm và rừng
trồng. Ngồi ra, chế phẩm sinh học Trichoderma có tác dụng tốt nhất trong
phòng trừ bệnh chết héo do nấm Phytophthora cinnamomi trong nghiên cứu
tại tỉnh Lào Cai.

1.2. Luận giải sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Quế là loại đặc sản rừng có giá trị kinh tế cao được gây trồng nhiều tại


12
tỉnh Lạng Sơn, là một trong những cây chiếm vị trí hàng đầu trong các lâm
sản ngồi gỗ xuất khẩu và cho thu nhập tốt và rất ổn định với người dân trồng
Quế, ngoài ra cây Quế dễ gây trồng, sinh trưởng và phát triển tốt. So với
nhiều cây trồng khác, cây Quế đã mang lại cho người dân một nguồn thu lớn
và ổn định. Trước đây, chỉ có vỏ Quế là bán được. Trong thời gian gần đây,
giá Quế tươi có xu hướng tăng cao so với những năm trước. Hiện nay, giá
Quế tươi thu mua tại vườn khoảng 25.000 đ/kg, Quế khơ có giá 55.000 đ/kg.
Cịn mức giá Quế được thương lái bán ra thị trường: Quế cạo vỏ khô 224.000
đ/kg, Quế nguyên vỏ 120.000 đ/kg, Thanh chẻ 120.000 đ/kg (Thoisunews,
2021).
Mặc dù diện tích gây trồng Quế ở Việt Nam ngày càng tăng trong 10
năm qua tập trung ở 3 vùng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ với tốc độ
tăng trưởng bình quân hàng năm là 15,6% từ 17.000 ha trong năm 2003 lên
đến 70.192 ha trong năm 2012 nhưng hiện trạng là chất lượng và năng suất
Quế của nước ta nói chung và ở Lạng Sơn nói riêng vẫn cịn đang ở mức thấp,
điều này là do: Sự biến đối khí hậu tồn cầu và một phần là sự gia tăng diện
tích trồng rừng Quế tập trung đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều sinh vật
gây bệnh nguy hại. Qua điều tra sơ bộ một số vườn ươm Quế và rừng trồng
Quế ở Lạng Sơn và nhận thấy cây Quế ở vườn ươm và rừng trồng tại Lạng
Sơn trong thời gian gần đây chủ yếu bị sinh vật gây bệnh hai lá và hại rễ ở
giai đoạn vườn ươm. Cây Quế con ở nhiều vườn ươm Quế ở Lạng Sơn đang
bị bệnh hại rễ và hại lá tấn công, làm cho cây con bị chết hoặc suy giảm chất
lượng cây Quế trước khi xuất vườn trồng rừng. Rừng trồng Quế ở Lạng Sơn
đang đang gia tăng nhanh và đang đối mặt với hiện tượng cây Quế ở rừng
trồng bị chết héo chưa rõ loài nấm gây bệnh ở các rừng từ tuổi 1 đến tuổi 3.

Triệu chứng chủ yếu là phần rễ và gốc cây bị bệnh, dẫn đến cây không hút
được nước và gây ra hiện tượng cây Quế bị héo và chết đứng, làm cho rừng
trồng Quế bị suy giảm năng suất và chất lượng rừng trồng, chất lượng vỏ Quế.


13
Diện tích rừng Quế bị bệnh hại ở Lạng Sơn bị rải rác ở các huyện trồng Quế,
nhiều nơi bị bệnh cục bộ từ 10 - 15%. Gần đây, từ năm 2017 - 2020, ước tính
có khoảng 150 ha rừng Quế bị sâu đo hại lá Quế, gây ảnh hưởng đến sinh
trưởng của cây Quế.


14
Chương 2
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1. Điều kiện tự nhiên huyện Tràng Định
2.1.1. Vị trí địa lý
Tràng Định nằm ở toạ độ địa lý 22°12'30' - 22°18'30' vĩ Bắc và
106°27'30' - 106°30' kinh Đơng.
- Phía Bắc giáp huyện Thạch An tỉnh Cao Bằng.
- Phía Đơng - Đơng Bắc giáp huyện Long Châu, Quảng Tây, Trung
Quốc.
- Phía Nam - Tây Nam giáp hai huyện Văn Lãng và Bình Gia của tỉnh
Lạng Sơn.
- Phía Tây giáp huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn.
Huyện Tràng Định có diện tích 995 km2, dân số năm 2019 là 59.827
người.
Tràng Định là huyện vùng cao biên giới nằm ở phía Bắc của tỉnh Lạng
Sơn, cách thành phố Lạng Sơn 67 km theo đường quốc lộ 4A. Nằm giữa
thung lũng bên bờ sông Bắc Khê, thị trấn Thất Khê là đầu mối của các tuyến

giao thông sang Trung Quốc, lên Cao Bằng, nối với đường 1B từ huyện Bình
Gia đi tỉnh Thái Nguyên, đường quốc lộ 3B nối với tỉnh Bắc Kạn và đường về
thành phố Lạng Sơn.
Tràng Định có 3 con sơng và 7 con suối có tổng chiều dài 1.020 km
được phân bổ khá đồng đều khắp địa bàn huyện vừa tạo cho cảnh quan nơi
đây thêm thơ mộng, hữu tình vừa tạo nên những vùng đất màu mỡ, phì nhiêu
và hệ thống tưới tiêu vơ cùng thuận lợi cho phát triển kinh tế nơng nghiệp.
Huyện Tràng Định có cửa khẩu Bình Nghi và cặp chợ biên giới Nà Nưa
thuận tiện cho việc giao lưu, trao đổi buôn bán qua 2 huyện láng giềng là
Long Châu, Bằng Tường thuộc khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây, Trung


15
Quốc có nhiều tuyến đường bộ và đường sơng thơng thương với Trung Quốc.
Tràng Định cũng như toàn tỉnh Lạng Sơn, nằm trọn trong lòng máng trũng nối
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa với Việt Nam và các nước ASEAN, từ trung
tâm huyện lỵ Tràng Định đến Thủ đô Hà Nội chỉ có trên 220 km (khoảng 4
giờ đi ơ tô) và đến thành phố Nam Ninh, thủ phủ của tỉnh Quảng Tây - Trung
Quốc trên 270 km (khoảng 4,5 giờ đi ơ tơ).
Vị trí địa lý là một thế mạnh nổi bật của Tràng Định, thuận lợi cho việc
giao lưu trao đổi hàng hóa, dịch vụ với Trung Quốc và thúc đẩy các hoạt động
thương mại - du lịch trên địa bàn huyện.
2.1.2. Đặc điểm tự nhiên
2.1.2.1. Đặc điểm địa hình
Địa hình huyện Tràng Định bị chia cắt mạnh, có nhiều núi cao xen kẽ
là các thung lũng ven sông suối và lân lũng núi đá vôi. Độ cao phổ biến là 200
-500 m so với mực nước biển. Trên địa bàn huyện cịn có các đỉnh cao 820,
636; 675 m tập trung ở các xã biên giới, độ dốc trung bình 25 - 300C.
Tràng Định có hệ thống sơng suối đa dạng trong đó có 3 hệ thống sơng
chính chi phối nguồn nước mặt của tỉnh, đó là: sông Kỳ Cùng, sông Bắc

Giang (sông Văn Mịch) và sông Bắc Khê.
Trong 3 hệ thống sơng nói trên thì hệ thống sông Kỳ Cùng là tuyến
sông lớn nhất tỉnh Lạng Sơn, bắt nguồn từ vùng núi Bắc Xa cao 1.166 m,
sông chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc qua Lộc Bình, thành phố Lạng
Sơn, Na Sầm và đến Thất Khê sông uốn khúc và chuyển hướng Tây Bắc Đông Nam qua biên giới đổ vào đất Trung Quốc. Diện tích lưu vực 6.660 km2
với chiều dài dịng chính (tính đến biên giới Việt - Trung) 243 km. Lịng sơng
Kỳ Cùng rất dốc, nhiều thác ghềnh và lưu vực hẹp ngang, có nhiều sơng suối
nhỏ đổ vào, nên có tiềm năng phát triển thủy điện vừa và nhỏ kết hợp tích
nước, điều tiết thủy lợi cho sản xuất.
Hệ thống các hồ nước: Trên địa bàn huyện có 19 hồ nước lớn nhỏ với


16
năng lực tưới thiết kế là 1.701,6 ha; các hồ nước chủ yếu là nguồn nước dự
trữ cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản phục vụ đời sống nhân dân.
Tại huyện Tràng Định trữ lượng nước ngầm tuy khơng lớn nhưng chất
lượng khá tốt, có một số điểm có thể khai thác nước để đóng chai làm nước
uống với chất lượng cao, hiện đã có những đánh giá cơ bản về chất lượng
nguồn nước nguồn nước ngầm.
2.1.2.2. Khí hậu thủy văn
Huyện Tràng Định có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi.
Hàng năm chia thành hai mùa rõ rệt. Mùa nóng, ẩm bắt đầu từ tháng 4 đến
tháng 10. Mùa khơ lạnh, ít mưa, khơ hanh và rét kéo dài từ tháng 11 đến
tháng 3 năm sau.
Nhiệt độ trung bình năm là 21,60C. Nhiệt độ tối cao tuyệt đối là 390C,
tối thấp tuyệt đối là 1,00C. Độ ẩm khơng khí bình qn năm là 82 - 84%.
Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9. Lượng mưa trung bình năm là
1.155 - 1.600 mm. Lượng bốc hơi bình quân năm là 811 mm. Số giờ nắng
trung bình năm là 1.466 giờ. Số ngày có sương muối trong năm không đáng
kể, chỉ 2 đến 3 ngày. Với nền nhiệt độ và số giờ nắng trung bình trong năm

như trên cũng rất thuận lợi cho việc bố trí mùa vụ, bố trí cơ cấu các loại cây
trồng, là điều kiện để phát triển đa dạng, phong phú các loại cây trồng ơn đới,
á nhiệt đới.
Tuy nhiên, khí hậu Tràng Định cũng tương đối khắc nghiệt, do nằm
trong lịng máng trũng đón gió mùa đơng bắc nên mùa đông thường lạnh và
khô, ảnh hưởng khá lớn đến sự sinh trưởng của các loại cây trồng.
2.1.3. Đặc điểm tài nguyên
2.1.3.1. Tài nguyên đất
Huyện Tràng Định có tiềm năng về đất đai với tổng diện tích đất tự
nhiên rộng 99.962,14 ha, trong đó diện tích đất nơng nghiệp chiếm 5,96%, đất
lâm nghiệp chiếm 89,58%. Còn lại là núi đá và đất đỏ bazan.
2.1.3.2. Tài nguyên rừng
Theo số liệu kiểm kê đất đai đến 6/2011 huyện Tràng Định, đất rừng


×