Tải bản đầy đủ (.pdf) (56 trang)

Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và thử nghiệm biện pháp phòng trừ loài bọ trĩ (helionothrips lushanensis) hại cây quế (cinnamomun cassia blumme) tại vườn ươm huyện văn yên, tỉnh yên bái

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (797.93 KB, 56 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

NGUYỄN THỊ THANH NHÃ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC
VÀ THỬ NGHIỆM BIỆN PHÁP PHỊNG TRỪ LỒI BỌ TRĨ
(Helionothrips lushanensis) HẠI CÂY QUẾ (Cinnamomum cassia
Blumme) TẠI VƯỜN ƯƠM HUYỆN VĂN YÊN,
TỈNH YÊN BÁI

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG
MÃ NGÀNH: 8620211

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1.TS. LÊ VĂN BÌNH
2. TS. NGUYỄN THÀNH TUẤN

Hà Nội, 2023


i

LỜI CAM ĐOAN
Tơi cam đoan, đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai cơng bố trong


bất kỳ cơng trình nghiên cứu nào khác.
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ cơng trình nghiên
cứu nào đã cơng bố, tơi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận
đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học.
Hà Nội, ngày 31 tháng 8 năm 2023
NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Thanh Nhã


ii

LỜI CẢM ƠN
Quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ khoa học
Lâm nghiệp, chuyên ngành Quản lý Tài nguyên rừng rừng tại Trường Đại học
Lâm nghiệp, tôi luôn nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ nhiệt tình của các thầy,
cơ giáo trường Đại học Lâm nghiệp, gia đình và đồng nghiệp, lãnh đạo Trung
tâm Nghiên cứu Bảo về rừng Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.
Nhân dịp này cho tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các cơ
quan, tổ chức và cá nhân:
Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học, Khoa Quản lý TNR&MT và
các thầy cô giáo Trường Đại học Lâm nghiệp đã giúp đỡ tơi hồn thành khố
đào tạo;
TS. Lê Văn Bình – Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Bảo vệ rừng –
Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, TS. Nguyễn Thành Tuấn - Trường Đại học
Lâm nghiệp đã định hướng và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tơi hồn thành luận văn;
Ban lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng – Viện khoa học Lâm
nghiệp Việt Nam, chính quyền địa phương các xã đã tạo mọi điều kiện thuận
lợi để tôi thực hiện điều tra ngoại nghiệp;
Do còn nhiều hạn chế về thời gian, nhân lực, tài chính và điều kiện

nghiên cứu nên chắc chắn luận văn cịn nhiều thiếu sót. Tơi mong muốn nhận
được những đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học
và đồng nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 31 tháng 8 năm 2023
TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Thanh Nhã


iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. ii
MỤC LỤC ....................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................ v
DANH MỤC BẢNG ....................................................................................... vi
DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ ............................................................... vii
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................. 1
Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.................................... 3
1.1. Tổng quan về sâu hại Quế ...................................................................... 3
1.1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước về sâu hại Quế ......... 3
1.1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước về sâu hại Quế ...... 6
1.2. Luận giải sự cần thiết nghiên cứu đề tài .............................................. 10
Chương 2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU ............................................................................................... 12
2.1. Điều kiện tự nhiên huyện Văn Yên ...................................................... 12
2.1.1. Vị trí địa lý .................................................................................... 12
2.1.2. Đặc điểm tự nhiên ......................................................................... 12

2.1.3. Đặc điểm tài nguyên ..................................................................... 13
2.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái .................... 16
2.2.1. Về kinh tế ....................................................................................... 16
2.2.2. Về văn hố - xã hợi ...................................................................... 17
Chương 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............... 19
3.1. Mục tiêu nghiên cứu............................................................................. 19
3.1.1. Mục tiêu tổng quát ........................................................................ 19
3.1.2. Mục tiêu cụ thể .............................................................................. 19
3.2. Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu ....................................... 19


iv

3.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................ 19
3.3.1. Điều tra tình hình gây hại loài Bọ trĩ hại Quế ở vườn ươm ......... 19
3.3.2. Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của loài Bọ trĩ hại Quế ở
vườn ươm ....................................................................................... 19
3.3.3. Nghiên cứu thử nghiệm biện pháp phòng trừ Bọ trĩ hại Quế ở
vườn ươm................................................................................................ 20
3.4. Phương pháp nghiên cứu...................................................................... 20
3.4.1. Phương pháp điều tra tình hình gây hại của Bọ trĩ hại Quế ở
vườn ươm ....................................................................................... 20
3.4.2. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái của Bọ
trĩ hại Quế ở vườn ươm ........................................................................... 22
3.4.3. Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng trừ Bọ trĩ hại Quế ở
vườn ươm................................................................................................ 24
Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................ 28
4.1. Kết quả điều tra tình hình gây hại của Bọ trĩ hại Quế ở vườn ươm..... 28
4.2. Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh vật, sinh thái của Bọ trĩ hại Quế ở
vườn ươm .................................................................................................... 28

4.2.1. Đặc điểm hình thái ........................................................................ 28
4.2.2. Kết quả giám định tên khoa học của loài Bọ trĩ hại Quế tại vườn
ươm khu vực nghiên cứu ......................................................................... 30
4.2.3. Đặc điểm sinh học ......................................................................... 30
4.2.4. Đặc điểm sinh thái ........................................................................ 31
4.3. Kết quả thử nghiệm biện pháp phòng trừ Bọ trĩ hại Quế ở vườn ươm 38
4.3.1. Biện pháp thủ cơng ....................................................................... 38
4.3.2. Biện pháp dính màu ...................................................................... 39
4.3.3. Biện pháp sinh học ........................................................................ 40
4.3.4. Biện pháp hóa học......................................................................... 42
KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ ......................................................... 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 46


v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt

Ngun nghĩa

OTC

Ơ tiêu chuẩn

CT

Cơng thức

P%


Tỷ lệ cây bị sâu hại

R

Chỉ số bị sâu hại bình qn

RH

Ẩm độ khơng khí

Stt

Số thứ tự

t

Nhiệt độ

TCVN

Tiêu chuẩn Việt Nam

TB

Trung bình


vi


DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Tỷ lệ hại và mức độ hại của Bọ trĩ hại Quế ở vườn ươm ............... 28
Bảng 4.2: Thời gian phát triển của các pha Bọ trĩ (to=25oC; RH%=85%) ..... 30
Bảng 4.3: Lịch xuất hiện các lứa Bọ trĩ hại Quế tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên
Bái (1-12/2022) ............................................................................................... 32
Bảng 4.4: Thành phần thiên địch của Bọ trĩ ................................................... 35
Bảng 4.5: Kết quả phòng chống Bọ trĩ bằng biện pháp thủ công ................... 38
Bảng 4.6: Kết quả bẫy dính Bọ trĩ trưởng thành ............................................. 39
Bảng 4.7: Hiệu lực các phẩm sinh học ở phịng thí nghiệm ........................... 40
Bảng 4.8: Hiệu lực chế phẩm sinh học đối với Bọ trĩ ngoài vườn ươm ......... 41
Bảng 4.9: Hiệu lực các loại thuốc bảo vệ thực vật hóa học đối với Bọ trĩ ..... 42
Bảng 4.10: Hiệu lực thuốc hóa học đối với Bọ trĩ ngồi vườn ươm .............. 43


vii

DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 4.1: Đặc điểm hình thái Bọ trĩ ................................................................ 29
Hình 4.2: Thời gian phát triển của các pha Bọ trĩ ........................................... 30
Hình 4.3: Nhện nhỏ ......................................................................................... 37
Hình 4.4: Biểu đồ biến động mật độ Bọ trĩ hại Quế ở Vườn ươm ................. 37


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Quế là cây đặc sản có giá trị kinh tế cao được gây trồng chủ yếu tại tỉnh
Yên Bái, là một trong những cây chiếm vị trí hàng đầu trong các lâm sản
ngoài gỗ xuất khẩu và cho thu nhập tốt, ổn định với người dân trồng Quế,
ngoài ra cây Quế dễ gây trồng, sinh trưởng và phát triển tốt. Vùng Quế Văn

Yên từ vài chục năm nay đã nổi tiếng trên thế giới, tháng 01/2010 Cục Sở hữu
trí tuệ đã có Quyết định chứng nhận chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm Quế Văn
Yên. Trước đây, cây Quế chỉ bán được vỏ, nhưng hiện nay tất cả các bộ phận
thân, cành, lá của cây Quế đều bán được với giá cao. Vỏ Quế loại 1 đang
được các cơ sở chế biến thu mua với giá từ 22.000 - 25.000 đ/kg và các sản
phẩm phụ như Quế chi, Quế vụn cũng bán được 13.000 - 15.000 đ/kg, còn lá
Quế bán cho các cơ sở chế biến tinh dầu với giá từ 1.500 - 2.500 đ/kg, thân
Quế sau khi bóc vỏ có đường kính từ 15 cm trở lên bán cho các cơ sở chế biến
gỗ làm bao bì với giá từ 1,5 - 1,8 triệu/m3 (). Với giá trị
kinh tế khá cao, nên những năm gần đây việc gây trồng Quế luôn được sự
quan tâm của các cấp chính quyền và người dân, diện tích rừng trồng Quế
ln tăng lên qua các năm. Theo kết quả kiểm kê rừng, tính đến tháng 6 năm
2023, tổng diện tích trồng Quế tại tỉnh Yên Bái là 81.000 ha, được trồng chủ
yếu tại huyện Văn Yên, Trấn Yên, Văn Chấn và một số huyện khác.
Theo Quyết định số 1481/QĐ-UBND ký ngày 22 tháng 7 năm 2016 về
việc phê duyệt đề án phát triển cây Quế của tỉnh Yên Bái giai đoạn 2016 đến
2020 trồng mới 19.500 ha và duy trì ổn định diện tích rừng trồng Quế tồn
tỉnh là 76.000 ha. Còn theo Nghị quyết 11/NQ-HĐND ngày 02/8/2018 của
Hội đồng nhân dân tỉnh Yên Bái về một số nội dung chủ yếu cơ cấu lại ngành
nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Yên Bái, mục
tiêu đến năm 2020 diện tích rừng trồng Quế của tỉnh là 78.000 ha. Tuy nhiên,
hiện nay rừng trồng Quế đã và đang phải đối mặt với sự tấn công của lồi Sâu
róm xanh ăn lá hại Quế, cụ thể: Theo công văn số 1082/SNN-BVTV ngày
01/12/2016 của Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Yên Bái cho biết lần đầu tiên


2

xuất hiện lồi sâu róm xanh, gây hại trên diện tích rộng, tổng diện tích cây
Quế bị sâu róm xanh ăn lá lên đến 262 ha, trong đó có 163 ha bị hại nhẹ, 83

ha bị hại trung bình và 16 ha bị hại nặng; gây hại chủ yếu ở huyện Văn Yên
và Trấn Yên. Hàng năm sâu vẫn gây hại với diện tích hàng trăm hecta. Mới
đây, năm 2018 Sâu róm xanh tiếp tục gây hại với diện tích 183 ha trên địa bàn
tồn tỉnh. Sở Nơng nghiệp và phát triển nơng thơn đã chỉ đạo phịng trừ lồi
sâu này. Tuy nhiên việc phòng trừ mới tập trung vào sử dụng biện pháp hóa
học. Trên những diện tích được xử lý bước đầu đã khống chế được dịch hại
nhưng về lâu dài chưa được bền vững do việc phun thuốc hóa học ảnh hưởng
lớn đến mơi trường, sinh thái, làm giảm mật độ thiên địch. Hơn nữa việc phun
thuốc hóa học chỉ tập trung ở một số diện tích rừng trồng bị sâu hại nặng,
không thể thực hiện trên địa bàn rộng vì vậy khơng thể quản lý có hiệu quả
loài sâu này.
Như vậy, cây Quế đang trở thành một trong những đối tượng cây chủ lực
tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Tuy nhiên, trên các vùng trồng Quế ở huyện
Văn Yên đang xuất hiện loài bọ trĩ hại Quế ở vườn ươm có diễn biến phức tạp.
Làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến giống cây Quế ở vườn ươm, gây ảnh hưởng
nghiêm trọng tới bộ lá, làm cây mất khả năng quang hợp, từ đó ảnh hưởng đến
chất lượng Quế giống ở vườn ươm và giống Quế trước khi đi trồng.
Hơn nữa, việc phòng trừ gặp rất nhiều khó khăn vì chưa xác định được
tên lồi, chưa có nhiều nghiên cứu về đặc điểm sinh học, quy luật phát sinh
phát triển của loài bọ trĩ gây hại này.
Để góp phần giúp người trồng Quế tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
nhận biết, nắm bắt được quy luật phát sinh phát triển của lồi Bọ trĩ gây hại
và có những biện pháp phòng trừ hiệu quả nhằm đảm bảo chất lượng cây con
ở vườn ươm, từ đó nâng cao năng suất và phẩm chất cây Quế, đề tài: “Nghiên
cứu đặc điểm sinh vật học và thử nghiệm biện pháp phịng trừ lồi Bọ trĩ
(Helionothrips lushanensis) hại cây Quế (Cinnamomum cassia Blume) tại
vườn ươm huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.” đã được tiến hành thực hiện.


3


Chương 1.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về sâu hại Quế
1.1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngồi nước về sâu hại Quế
Tại Ấn Độ Devashayam et al., (1997) chỉ ra rằng có 2 lồi sâu hại
chính trên cây Quế là loài sâu bướm Chilasa clytia và loài sâu đục lá
Conopomorpha civica.
Theo tác giả Rajapakse và Kulasekera (1982), xác định được thành
phần loài sâu hại trên cây Quế ở Sri Lanka, cụ thể như: Sâu ăn lá Attacus
atlas

(Lepidoptera:

Saturnidae),

Agroploce

aprobola

(Lepidoptera:

Encosmidae), Rệp sáp Ceroplastes rubens (Homoptera: Coccidae), lồi bọ xít
chích hút chồi cây Coptosoma pygmaeum (Heteroptera: Plataspidae),
Leptocentrus obliquus (Homoptera: Membracidae), loài bọ xít Leucopholis
pinguis (Coleoptera: Scarabeidae); một số lồi thuộc bộ cánh cứng gây hại
trên lá và chồi cây Quế ở Sri Lanka như: Cryptocephalus snillus,
Cryptocephalus virgula và Podagrica badia.
Tại Ấn Độ Ayyar (1940) lần đầu phát hiện loài Pauropsylla depressa
(Homoptera: Triozidae) gây u bướu trên lá và cành Quế. Theo Mani (1973)

ghi nhận có 5 lồi sâu và 1 lồi bọ ve gây u bướu lá Quế. Rajapakse và
Kulasekera (1982) có liệt kê đầu tiên ở Sri Lanka, xuất hiện dịch hại trên cây
Quế ở Sri Lanka.
Theo tác giả Butani (1983) và Anandaraj et al., (2001) đã cảnh báo sự
xâm nhập của sâu đục lá Conopomorpha civica và Phyllocnistis
chrysophthalma gây hại Quế ở Ấn Độ. Devashayam và Koya (1993) chỉ ra
rằng C. civica đã gây hại cho 20,2% số cây Quế tuổi nhỏ ở Kerala, Ấn Độ và
phịng trừ lồi sâu này bằng cách phun thuốc trừ sâu Quinalphos 0,05% ngay
khi chúng vừa xuất hiện mới có hiệu quả trong việc ngăn ngừa sự xâm nhập.


4

Quế là cây gia vị quan trọng được gây trồng tại Sri Lanka và một số
quốc gia khác tại Đông Nam Á và đang bị một số lồi cơn trùng và vi khuẩn
gây hại, cụ thể các loài gây hại chính như: rệp nhảy Trioza cinnamoni
(Homoptera: Triozidae), nhện Eriophyes boisi (Acarina: Eriophyiidae), loài
sâu đục thân, cành Synanthedon spp. (Lepidoptera: Sesiidae). Các lồi cơn
trùng loại nhỏ như: lồi sâu hại lá thuộc bộ cánh vảy (Lepidoptera) Clytia
Chilasa, Graphium sarpedon, Orthaga vitialis, Dasychira mendosa và
Acrocercops spp. và loài đục quả Alcides sp., Các lồi sâu gây hại chính trên
cây Quế ở Srilanka và các nước Đơng Nam Á bao gồm lồi rầy Trioza
cinnamoni, nhện lơng nhung (Eriophyes boisi), lồi sâu đục thân, cành
Synanthedon spp. và các loài sâu ăn lá như: Chilasa clytia, Graphium
sarpedon, Orthaga yejails, Dasychira mendosa và sâu vẽ bùa Acrocercops
spp. (Rajapakse and Wasantha Kumara, 2007).
Ở Ấn Độ cây Quế bị u bướu do nhện gây ra hầu hết có hình ovan hoặc
hình nón tạo các khoang có lơng dài, bề mặt gồ ghề nổi lên ở phiến lá. Bề mặt
của u thường có màu xanh vàng cho đến vàng. Mặt dưới được phủ bởi một
lớp tế bào mỏng để làm nơi trú ngụ cho trưởng thành và u thường mọc lên ở

cả 2 mặt của phiến lá với chiều cao khoảng 2-3mm và dày 1-2mm ở đáy
(Mani,1973).
Theo Singh et al., (1978) loài sâu Orthaga vitialis thuộc bộ Lepidoptera
gây hại trên lá và chồi cây Quế tại Ấn Độ, sâu non loài này hoạt động rất mạnh,
loài sâu này sống và gây hại ở chồi cây làm chồi biến dạng dẫn đến chồi mọc
thành cụm. Trong mỗi cụm chồi có thể có một vài sâu non, chúng sống thành
đàn và ăn toàn bộ bề mặt lá. Giai đoạn nhộng thường nằm ở trong các cụm
chồi, thời gian từ 11 đến 14 ngày. Giai đoạn sâu non từ 28 đến 30 ngày.
Tại Ấn Độ lồi sâu róm Euproctis fraterna ăn lá hại cây Quế, sâu non
mới nở chỉ ăn phần diệp lục. Sau đó sâu non lớn dần và ăn tồn bộ lá làm
rụng lá. Giai đoạn sâu non loài này kéo dài trong 13-29 ngày và thời gian


5

nhộng kéo dài 9-20 ngày. Tổng chu kỳ sống kéo dài 6-7 tuần (Singh et
al.,1978).
Theo tác giả Anandaraj et al., (2001) loài sâu vẽ bùa Acrocercops spp.
(Lepidoptera: Gracillaridae) là loài đục lá Quế. Trưởng thành nhỏ, màu bạc và
sau khi giao phối con cái thường đẻ một vài trứng trên mặt dưới lá gần gân
chính của lá và nở trong khoảng 2-6 ngày. Sâu non màu xám nhạt và ăn phần
mô diệp lục của lá. Các lá bị sâu đục trở nên nhăn nheo và các khu vực lá bị
sâu đục khô lại tạo thành các lỗ lớn trên lá. Các lá này trở nên nhợt nhạt và
quăn queo làm chậm sự phát triển.
Đối với loài sâu Alcides morio (Coleoptera: Curculionidae) là loài cánh
cứng hại quả Quế tại Ấn Độ, sâu non của loài này ăn hạt bên trong quả và đào
đường hầm bên trong hạt. Điều này gây thiệt hại kinh tế đáng kể vì cây Quế
được nhân giống bằng hạt. Sâu non trưởng thành có đầu màu nâu với thân
trắng và đạt chiều dài 8-10mm. Giai đoạn nhộng thường diễn ra bên trong hạt
và kéo dài 7-9 ngày. Trưởng thành cắt một lỗ tròn trên lớp vỏ hạt. Con cái lớn

hơn con đực (Rajapakse et al., 1997).
Loài sâu Cricula trifenestrata ăn lá hại một số loài cây thuộc họ
Lauraceae, cụ thể như lồi Cinnamomum glanduliferum, C. glaucescens ở
Đơng Bắc Ấn Độ, lồi C. zeylanicum ở vùng Đơng Bắc Á và Sri Lanka, lồi
Persea bombycina ở vùng Đơng Nam Ấn Độ, Nepal và loài Litsea cubeba ở
Ấn Độ (Amalendu Tikader, 2014).
Theo Singh et al., (1978) kiểm tra việc trồng và chăm sóc như việc cắt
tỉa các cụm chồi Quế bị sâu là biện pháp phòng trừ chủ yếu và phun thuốc trừ
sâu Carbaryl (0,1%), Quinalphos (0,05%) và Endosulphan (0,05%), từ đó có
thể kiểm sốt sâu hại trên cây Quế, việc phun thuốc được lặp lại trong khoảng
10-12 ngày hiệu quả đạt cao hơn.
Việc phòng trừ sinh học cho các lồi nhện gây u bướu lá Quế là rất khó
khăn vì chúng sống và ăn trong các u của lá. Việc cắt tỉa thường xuyên có thể


6

kiểm soát rầy Trioza và nhện Eriophyes. Sử dụng thuốc monocrotophos,
lannat (methomyl) và methamidiphos ở trên, ở giữa và ở gốc của cây trồng,
việc sử dụng 30 ml monocrotophos/25l trong khoảng thời gian 4 ngày làm
giảm lượng u bướu đến mức thấp nhất. Quinalphos (0,05%) hoặc Dimethoate
(0,06%) cũng được khuyến cáo sử dụng để kiểm soát lá và chồi bị u bướu ở
Việt Nam (Rajapakse et al., (2007).
1.1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước về sâu hại Quế
Quế lá một trong những sản vật quí, được biết đến từ lâu, sử dụng rộng
rãi làm gia vị, hương liệu, mỹ phẩm, dược liệu trong cả Đông y và Tây y. Quế
lá loài cây được gây trồng phổ biến trên thế giới, đây là cây có giá trị thương
mại lớn, chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới, tập trung ở các
nước Indonesia, Trung Quốc, Srilanca, Ấn Độ (Ravindran et al., 2004). Ở Việt
Nam, từ thế kỷ XIV, Tuệ Tĩnh đã có những ghi chép ban đầu về công dụng làm

thuốc của cây Quế. Sau này Quế là làm gia vị, hương liệu và đóng vai trò quan
trọng trong việc nâng cao thu nhập, đời sống, giúp xóa đói giảm nghèo cho các
hộ gia đình và đồng bào vùng cao. Chính vì vậy cây Quế được coi là cây lâm
sản ngoài gỗ chủ lực cho trồng rừng sản xuất giúp phát triển kinh tế và giảm
nghèo cho bà con vùng cao ở Việt Nam nói chung và tỉnh Yên Bái nói riêng.
Tuy nhiên việc phát triển cây Quế cần gắn liền với việc nghiên cứu về sâu bệnh
hại và các biện pháp phòng trừ để phát triển bền vững.
Theo tác giả Nguyễn Bá Thụ, Đào Xn Trường (2004) sâu hại Quế tại
n Bái, Hịa Bình, Hà Tây, Nghệ An và Hà Tĩnh. Xác định có 14 loài thuộc
13 họ và 4 bộ (Lepidoptera, Hemiptera, Coleoptera và Isoptera); cụ thể các
lồi sâu hại Quế gồm có: Sâu đo (Culcula paterinaria), Sâu róm ăn lá Quế
(Malacossma dentata), Sâu đục lá Quế (Leucoptera susinella), Bọ nẹt (Latoia
lepida), Sâu kèn dài (Amatissa vanlogeri), Bọ xít dài (Leptocorisa varicomls),
Bọ xít lưới, Bọ xít nâu sẫm (Ertheina fullo), Sâu đục thân cành (Arbela
baibarana), Sâu đục ngọn chồi (Zeuzera sp.), Sâu đục sùi vỏ Quế


7

(Synanthedon sp.), Xén tóc cánh xanh (Bacchisa atriaris), mối Odontotermes
sp. và Bọ hung nâu nhỏ (Maladera orientalis), trong đó có 3 loài sâu hại nguy
hiểm là loài Sâu đo, Bọ xít nâu sẫm và Sâu đục thân cành.
Theo kết quả điều tra về thành phần sâu hại Quế của tác giả Phạm
Thanh Loan (2012) xác định được 17 loài sâu hại Quế ở Văn Yên, Yên Bái,
cụ thể gồm các loài Sâu ăn lá Quế Phalera flavescens (Lepidoptera:
Geometridae), loài sâu đo ăn lá Culcula paterinaria (Lepidoptera:
Geometridae), loài sâu đục quả Leucoptera susinella (Lepidoptera:
Lyonetiidae), Bọ xít dài Leptocorisa varicormis (Hemiptera: Coreidae), Sâu
đục thân cành Arbela baibarana (Lepidoptera: Cossidae), Sâu đục chồi ngọn
Zeuzera sp. (Lepidoptera: Cossidae), Sâu đục sùi vỏ quả (Lepidoptera:

Aegeriidae), Mối Odontotermes sp. (Isoptera: Termitidae), Bọ hung nâu nhỏ
Maladera orientalis (Coleoptera: Scarabacidae), Sâu cuốn lá Pandemis sp.
(Lepidoptera: Totricidae), Bọ dừa nâu (Coleoptera: Scarabacidae), Bọ rầy
(Hemiptera: Triozidae), Bọ nẹt Latoia lepida (Lepidoptera: Eucleidae), Sâu
cuốn lá Coleophora sp. (Lepidoptera: Tortricidae), Sâu xám Agrotis ypsilon
(Lepidoptera: Noctuidae), Dế mèn nâu lớn (Brachytrupes portentorus), Dế
mèn nâu nhỏ Gryllus testaceus (Orthoptera: Gryllidae), trong đó có 4 lồi sâu
hại chính là: sâu ăn lá Quế, Sâu đục thân – cành, Sâu đục sùi vỏ và Sâu đục
chồi ngọn.
Theo kết quả điều tra thành phần sâu hại Quế tại Yên Bái gồm có nhóm
sâu hại lá: Sâu đo (Biston maginata), Bọ dừa nâu (Adoretus sp.), Sâu kèn
(Amatissa vaulogeri), Sâu róm (Creatonotus gangis), Ngài đèn xanh
(Creatonotus transiens), Sâu ăn lá (Crienla trifenestra), Sâu cuốn lá (Ancylis
sp.), Sâu đục lá (Phyllocnistis sp.), Rệp sáp (Linsoma sp.); nhóm sâu hại thân,
cành và chồi non: Sâu đục chồi (Cophopropra sp.), Bọ xít đầu dài
(Leptocorisa acuta), Bọ xít lưới (Stephanitis sp.), Bọ xít nâu sẫm
(Pseudodoniella chinensis), Bọ xít (Nezara sp.), Sâu đục thân (Thimiatris sp.),


8

Sâu ăn vỏ (Aegeria sp.), Rầy Pauropsylla sp., trong đó có 8 lồi hại xuất hiện
50% số lần điều tra bắt gặp lá: loài Sâu đo, Bọ dừa nâu, Sâu cuốn lá, Sâu đục lá,
Sâu đục chồi, Rệp sáp, Bọ xít nâu xẫm, Sâu gặm vỏ (Trần Quang Tấn, 2004).
Thành phần sâu hại Quế rất phong phú gồm 14 loài ở 13 họ thuộc 4 bộ
khác nhau. Sâu ăn lá có 4 lồi chiếm 36%, Sâu đục thân, cành ngọn có 3 lồi
chiếm 21,2%, Sâu chích hút ngọn, cành non có 3 lồi chiếm 21,2%, Sâu đục
sùi vỏ có 1 lồi chiếm 7,2%, Sâu hại rễ có 2 lồi chiếm 14,4%. Trong đó các
lồi có mức độ gây hại nghiêm trọng là Sâu đo (Culcula paterinaria), Sâu
đục thân cành (Arbela baibarana), Bọ xít nâu sẫm (Ertheina fullo), Sâu đục

ngọn chồi (Zeuzera sp.), Mối Odontotermes sp. (Hà Công Tuấn và đồng tác
giả, 2006).
Theo tác giả Nguyễn Bá Thụ, Đào Xuân Trường (2004) loài Sâu đục
thân cành Arbela bailbarama (Lepidoptera: Metarbelidae), gây hại rất phổ
biến các cành bị sâu đục thường hơi già, có đường kính từ 1,5 - 3cm, chiều
dài vết đục từ 10 - 15cm, những cành này thường bị chết và thường xuất hiện
ở Quế từ 6 tuổi trở lên. Sâu trưởng thành dài 7 - 12mm, sải cánh rộng 22 25mm, con đực dài 7 - 11mm, cánh rộng 20 - 24mm; thân màu nâu xám, đỉnh
đầu có vảy màu trắng xám, miệng thối hóa, râu mơi dưới nhỏ; lưng có vẩy
màu nâu, bụng màu trắng, chân ngắn có vẩy trắng; cánh trước màu trắng xám,
có đốm đen, trên đốm đen có 6 đốm dài; mép trước có 11 đốm nâu, mép ngồi
có 6 đốm nâu; cánh sau hình chữ nhật, mép ngồi có 8 đốm nâu, bụng có lơng
màu nâu đen mọc thành chùm. Trứng hình bầu dục xếp thành hình vẩy cá.
Sâu non dài 18 - 27mm, màu đen bóng, đầu màu nâu đỏ, mơi trên hơi nhạt;
các đốt bụng cứng. Nhộng dài 12 - 16mm, màu vàng đỏ, râu đầu to. Loài sâu
đục thân cành mỗi năm 1 lứa, sâu trưởng thành xuất hiện ở tháng 6 - 7 đẻ
trứng ở kẽ nứt của vỏ cây, sâu non nở ra đục lỗ xuyên qua thân cây cành cây.
Biện pháp phịng trừ lồi Sâu đục thân cành bằng cách chặt những cây bị sâu
hại, bắt sâu non và dùng thuốc Rogor 1% phun vào lỗ đục rồi bịt bông bại.


9

Tác giả còn chỉ ra Sâu đo ăn lá Quế Culcula panterinaria (Lepidoptera:
Geometridae) xuất hiện và phá hoại ở hầu hết các tỉnh trồng Quế ở nước ta
như: Yên Bái, Yên Bái, Thanh Hóa, Quảng Nam, Quảng Ngãi... Sâu đo ăn
trụi lá Quế trông như cây chết, làm giảm sinh trưởng của rừng Quế và làm cây
suy yếu, tạo điều kiện thuận lợi cho những loài sâu hại thứ cấp xâm nhập, phá
hoại. Sâu trưởng thành thân dài 18 - 20mm, sải cánh rộng 72 - 75mm, cánh
trước có đốm vân màu xanh nhạt, giữa cánh có đốm lửa trong suốt, cánh sau
màu nâu xám, đầu hình sợi chỉ, bụng nhọn gần về cuối. Trứng hình bầu dục

màu xám trắng. Sâu non dài 5cm, biến màu theo cây chủ, đầu có màu xanh,
với những chấm nổi màu vàng, thân màu xanh sẫm, bụng có hai đường chéo
trắng, cuối bụng có 2 sừng đuôi và đốt chân đuôi uốn cong. Nhộng màu nâu
đen bóng, phía trước thân nhộng có u lồi. Loài sâu đo ăn lá Quế mỗi năm 2
lứa, mỗi lứa kéo dài tùy theo điều kiện thời tiết. Nói chung thời kỳ trứng 7
ngày, sâu non 29 ngày, nhộng 25 ngày, trứng được đẻ ở mặt sau của lá. Mỗi
con cái có thể đẻ 1.000 – 1.500 trứng. Chúng thường đẻ trên kẽ hở thân cây,
kẽ lá, sắp xếp thành đám không theo thứ tự. Sâu non hoạt động mạnh, nhả tơ
di chuyển theo gió. Lồi sâu đo ăn lá Quế chỉ tập trung chủ yếu ở sườn đồi và
chân đồi là chính. Nơi này có nguồn thức ăn dồi dào và có điều kiện nóng ẩm
thích nghi với điều kiện ngoại cảnh của lồi sâu hại này.
Phịng trừ loài Sâu đục thân cành (Arbela bailbarama) bằng cách tập
trung phát dọn thực bì, chặt những cây bị sâu hại, cuốc xung quanh gốc cây
vào mùa xuân để giết nhộng. Dùng tay mây móc sâu non. Phun thuốc Rogor
1% vào lỗ đục rồi bịt bông lại. Phun thuốc sữa Dipterex nồng độ 0,2%. Đối
với Sâu đo ăn lá Quế Culcula panterinari dùng bẫy đèn hoặc bắt sâu non vào
sáng sớm. Cuối thu đào đất bắt nhộng. Có thể dùng một số loại thuốc diệt như
Ofatox 40 EC; Fax tax 25EC liều lượng 600 lít dung dịch/ha. Bọ xít nâu sẫm
Pseudodoniella chinensis bắt giết bọ xít khi mới nở cịn sống tập trung, ngắt
các ổ trứng bọ xít (Hà Cơng Tuấn và đồng tác giả, 2006).


10

Sử dụng các biện pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp (IPM) hại Quế
Cinnamomum cassia tại khu vực trồng Quế trọng điểm huyện Văn Yên, tỉnh
Yên Bái, đã thử nghiệm các biện pháp phòng trừ cụ thể như đối với (1) Sâu
đục sùi vỏ Quế sử dụng thuốc Tasodant 600EC, Rigell 800WG, Oncol 25 WP, có
hiệu lực phịng trừ cao, đạt trên 90%. (2) Sâu ăn lá sử dụng thuốc Tasodant
600EC, Rigell 800WG, Oncol 25 WP, có hiệu lực phịng trừ cao, đạt trên 90%.

(3) Sâu đục chồi ngọn sử dụng thuốc Tasodant 600EC, Rigell 800WG, Oncol
25 WP, có hiệu lực phòng trừ cao, từ 76,9 - 80,6%. (4) Sâu đục thân cành sử
dụng thuốc Oncol 25 WP, có hiệu lực phòng trừ đạt 40,7% (Phạm Thanh
Loan, 2012).
Từ những kết quả nghiên cứu trên cho thấy về thành phần loài sâu hại,
đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái và các biện pháp phòng trừ sâu hại trên
cây Quế khá phong phú và đây là những tài liệu tham khảo cho các nghiên
cứu về sâu hại trên cây Quế ở n Bái, vì lồi bọ trĩ hại Quế ở vườn ươm tại
tỉnh huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái là lần đầu tiên xuất hiện. Cho nên, việc
nghiên cứu chi tiết, hệ thống và lôgic từ việc điều tra thành phần, nghiên cứu
đặc điểm hình thái, sinh học, làm cơ sở cho việc nghiên cứu các biện pháp
phòng chống Bọ trĩ hại Quế ở vườn ươm.
1.2. Luận giải sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Quế là loại đặc sản rừng có giá trị kinh tế cao được gây trồng nhiều tại
tỉnh Yên Bái, là một trong những cây chiếm vị trí hàng đầu trong các lâm sản
ngoài gỗ xuất khẩu và cho thu nhập tốt và rất ổn định với người dân trồng
Quế, ngoài ra cây Quế dễ gây trồng, sinh trưởng và phát triển tốt. So với
nhiều cây trồng khác, cây Quế đã mang lại cho người dân một nguồn thu lớn
và ổn định. Trước đây, cây Quế chỉ bán được vỏ. Hiện nay, thân, cành, lá Quế
đều bán được với giá cao.
Bọ trĩ gây hại đang có diễn biến phức tạp, phát triển nhanh trên địa bàn
huyện Văn Yên, Trấn Yên... và đang lây lan ra huyện khác, thậm trí đã gây


11

hại sang cả huyện Văn Bàn, Bảo Yên, Bắc Hà... của tỉnh Lào Cai. Việc phịng
trừ gặp rất nhiều khó khăn vì chưa xác định được tên lồi, chưa nghiên cứu
đặc điểm sinh học, quy luật phát sinh, phát triển. Vì vậy, việc thực hiện
nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học và thử nghiệm

biện pháp phịng trừ lồi Bọ trĩ (Helionothrips lushanensis) hại cây Quế tại
vườn ươm, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái” là rất cần thiết, là cơ sở để nhận
biết loài gây hại, từ đó đề xuất biện pháp phịng trừ thích hợp, đáp ứng tốt
việc quản lý bảo vệ rừng trồng Quế trên địa bàn tỉnh Yên Bái.


12

Chương 2.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1. Điều kiện tự nhiên huyện Văn Yên
2.1.1. Vị trí địa lý
Huyện Văn Yên nằm ở phía Tây Bắc, tỉnh Yên Bái, có tọa độ địa lý
104º23'Đ đến 104º23'Đ và 21º50'30"B đến 22º12'B, có vị trí địa lý:
Phía đơng giáp huyện Lục n, huyện n Bình và huyện Trấn Yên
Phía tây giáp huyện Văn Chấn và huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
Phía nam giáp huyện Trấn Yên.
Phía bắc giáp huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
Huyện Văn Yên có diện tích 1.390,34 km², dân số năm 2019 là 129.679
người, mật độ dân số đạt 93 người/km².
Tồn huyện có 12 dân tộc trong đó có các dân tộc chủ yếu sau: Kinh,
Tày, Dao, Hmông,...
Thị trấn Mậu A là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của
huyện. Với lợi thế về vị trí nằm trên tuyến đường sắt Yên Bái – Lào Cai nối
Côn Minh (Trung Quốc), tuyến tỉnh lộ 151 Yên Bái – Khe Sang, đường thuỷ
sông Hồng và đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai.
2.1.2. Đặc điểm tự nhiên
2.1.2.1. Đặc điểm địa hình
Địa hình Văn Yên tương đối phức tạp, đồi núi liên tiếp và cao dần từ
Đông Nam lên Tây Bắc thuộc thung lũng sông Hồng kẹp giữa dãy núi cao là

Con Voi và Púng Lng.
Hệ thống sơng ngịi dày đặc với các kiểu địa hình khác nhau: vùng núi
cao hiểm trở, vùng đồi bát úp lượn sóng nhấp nhơ xen kẽ với các thung lũng
và các cánh đồng phù sa nhỏ hẹp ven sơng. Sự chênh lệch địa hình giữa các
vùng trong huyện rất lớn, có đỉnh cao nhất 1.952m, nơi thấp nhất là 20m so


13

với mặt nước biển. Vùng núi cao trung bình có độ cao từ 300 - 1.700m tập
trung chủ yếu ở các xã phía Tây Bắc của huyện.
Văn n có hệ thống sơng, ngịi, suối, ao hồ rất phong phú. Sơng Hồng
bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc), chiều dài chảy qua Văn Yên dài 70 km.
Các phụ lưu của sông Hồng trên địa bàn huyện có tới 40 con ngịi, suối lớn
nhỏ chảy ra sơng Hồng, trong đó lớn nhất là ngòi Thia và ngòi Hút chảy từ
huyện Văn Chấn qua địa phận huyện có chiều dài tổng cộng hơn 100 km.
Diện tích ao hồ trên địa bàn có hơn 207 ha.
2.1.2.2. Khí hậu thuỷ văn
Huyện Văn Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, kết hợp
với địa hình bị chia cắt nên tạo thành hai tiểu vùng khí hậu:
+ Vùng phía Bắc (từ Trái Hút trở lên): Có độ cao trung bình 500 m so
với mặt nước biển. Đặc điểm vùng này ít mưa, nhiệt độ trung bình 21 - 23ºc.
Lượng mưa bình quân 1.800 mm/năm. Độ ẩm khơng khí trung bình 80 - 85%,
có những ngày chịu ảnh hưởng của gió Lào.
+ Vùng núi phía Nam (từ Trái Hút trở xuống): chịu ảnh hưởng của gió
mùa Đơng Bắc, có lượng mưa lớn, bình qn 1.800 - 2.000 mm/năm, nhiệt độ
trung bình 23 - 24ºc, độ ẩm khơng khí 81 - 86%.
Khí hậu Văn n ổn định, ít đột biến phù hợp với trồng trọt và chăn
nuôi, trồng các loại cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp dài ngày ở
khu vực phía Nam. Cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày như: sắn, lạc, đậu

đỗ các loại ở khu vực phía Bắc.
2.1.3. Đặc điểm tài nguyên
2.1.3.1. Tài nguyên đất
Theo tiêu chuẩn phân loại của FAO - UNESCO, đất đai của huyện Văn
Yên có những loại đất chính sau: Nhóm đất xám (Acrisols) chiếm 93,36%
tổng diện tích đất tự nhiên được phân bố ở độ cao dưới 1800 m tại phần diện
tích đất đồi núi ở tất cả các xã thuộc huyện, song tập trung nhiều nhất ở các xã


14

vùng cao; Nhóm đất đỏ (Ferralsols) phân bố rải rác ở các xã vùng cao của
huyện, trên các khu địa hình núi phát triển trên đá vơi, đá Mắc ma bazơ hoặc
trung tính; Nhóm đất mùn Alit núi cao (Alitsols) phân bố chủ yếu ở Phong Dụ
Thượng, nơi có độ cao tuyệt đối trên 1800m; Nhóm đất tầng mỏng
(Leptosols) phân bố tập trung ở các xã Phong Dụ Hạ, Phong Dụ Thượng,
Ngòi A, Xuân Tầm, tại vùng đất đồi, dốc trên 20% và có nơi có nhiều đá lộ
đầu; Nhóm đất Glây (Gleysols) phân bố rải rác ở hầu hết các xã, nơi có địa
hình thấp trũng hoặc thung lũng giữa các dãy núi, khả năng thốt nước kém;
Nhóm đất phù sa (Fluvisols) được phân bố chủ yếu ở các xã vùng ven sơng
Hồng, ngịi Thia, đặc biệt là các xã diện tích tập trung nhiều nhất là những
cánh đồng phù sa trồng lúa nước thuộc các xã Yên Hợp, An Thịnh, n Phú,
Đại Phác, Đơng Cng, Xn Ái, Hồng Thắng, Mậu Đông.
2.1.3.2. Tài nguyên rừng
Rừng ở Văn Yên thuộc loại rừng nhiệt đới thường xanh, với nhiều loài
cây lá rộng, nhiều tầng. Trên các đỉnh núi cao là kiểu rừng nhiệt đới với nhiều
loại cây lá kim như pơ-mu, sa mộc xen lẫn các loại cây lá rộng thuộc họ sồi,
dẻ, đỗ quyên... Bên cạnh các loại gỗ quý như nghiến, táu, lát hoa, chò chỉ; các
loại dược liệu như đẳng sâm, sơn tra, hà thủ ơ, hồi sơn, sa nhân; các loại
động vật quý hiếm như cầy hương, lợn rừng, hươu, gấu, vượn… cịn có nhiều

khu rừng cho lâm đặc sản như cọ, song, quế, chè... Các xã Châu Quế Thượng,
Phong Dụ Thượng, Xuân Tầm, Lâm Giang, Phong Dụ Hạ, Lang Thíp, Châu
Quế Hạ, Mỏ Vàng, Đại Sơn… hiện cịn khá nhiều diện tích rừng tự nhiên.
Cịn ở những nơi khác trong huyện hiện chỉ có rừng trồng, rừng tái sinh và
các thảm thực vật khác.
2.1.3.3. Tài nguyên khốn sản
Huyện Văn n có một số mỏ khống sản với trữ lượng không lớn
nhưng lại đa dạng về thành phần gồm: Nhóm năng lượng chủ yếu là than bán
antranxit, than nâu và than bùn được phát hiện ở các xã dọc theo ven sông


15

Hồng như Hoàng Thắng, Yên Hợp, Tân Hợp, Chấu Quế Thượng... với trữ
lượng khoảng 120.000 tấn; Nhóm vật liệu xây dựng có các loại cát, sỏi chủ
yếu được khai thác dọc ven sông Hồng, đá vôi khai thác ở hầu hết các xã trên
địa bàn huyện với trữ lượng lớn; Nhóm khống sản khơng kim loại gồm pyrit,
barit, phosphorit, kaolin, felspat, thạch anh, grafit, đặc biệt nhiều nhất là
khoáng sản kaolin và felspat được phân bố chủ yếu tại Yên Hưng, Yên Thái,
có chất lượng tương đối tốt đáp ứng được các tiêu chuẩn cho sản xuất gốm sứ,
sản xuất giấy; Nhóm kim loại có sắt được phân bố tập trung ở các xã Đại Sơn,
Châu Quế Hạ, An Thịnh, Tân Hợp, Mỏ Vàng; chì, kẽm phân bố chủ yếu tại
Mỏ Vàng, Lang Thíp và một số kim loại quý hiếm như vàng có ở Xuân Ái,
Châu Quế Hạ, Phong Dụ Hạ. Những tiềm năng về khoáng sản trên đã góp
phần rất lớn trong q trình phát triển kinh tế xã hội của huyện.
2.1.3.4. Tài nguyên du lịch
Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia đền Đơng Cng thuộc địa bàn 2
xã Đông Cuông và Tân Hợp, nằm ven sơng Hồng, cách trung tâm huyện 12
km; Có hai quần thể trong đó một quần thể đền thuộc xã Đơng Cuông thờ
Mẫu Thượng Ngàn, Lê Mai Đại Vương, đại vương miếu Ngọc Tháp (Phú

Thọ), Đức Thánh Trần và sau này là 5 nghĩa quân người Tày tham gia khởi
nghĩa Giáp Dần (1914) bị Pháp xử bắn ở Yên Bái. Tại khu vực đền đã thu
thập được nhiều công cụ thời Lê, chng khánh thời Nguyễn. Một quần thể
đền Ơng thuộc xã Tân Hợp (đền đức Ơng). Lễ hội đền Đơng Cuông được tổ
chức vào ngày Mão thứ nhất tháng giêng hàng năm và lễ tạ vào ngày mão đầu
tháng 9 (âm lịch) với tục tế trâu trắng và trâu đen. Theo sử sách, đền được xây
dựng vào thời Lê, là nơi thờ tự tín ngưỡng đạo Mẫu và những người có cơng
với đất nước, được các vị vua nhà Nguyễn trao 4 sắc phong. Năm 2009, đền
Đông Cuông đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch cấp bằng Di tích lịch
sử - văn hóa cấp quốc gia, đồng thời cho phép phục hồi, tôn tạo khang trang.
Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia đền Nhược Sơn tọa lạc trên một
thế đất khá bằng phẳng bên bờ sông Hồng ở thôn Ngọc Châu, xã Châu Quế


16

Hạ. Đền Nhược Sơn thờ danh tướng Hà Khắc Chương - một võ tướng thời
nhà Trần đã có cơng đóng góp to lớn trong việc trấn giữ vùng biên cương phía
Bắc, chống qn xâm lược Ngun Mơng, góp phần làm nên chiến thắng
oanh liệt của dân tộc ta vào cuối thế kỷ XIII. Đền Nhược Sơn một năm có hai
lễ hội chính vào ngày 20 tháng Giêng và ngày 20 tháng 9 âm lịch. Ngày lễ
diễn ra tại đền với các nghi lễ cổ truyền và các trò chơi dân gian đặc sắc là nét
sinh hoạt văn hóa tâm linh mang tính cộng đồng.
Khu du lịch sinh thái Nà Hẩu với diện tích trên 16.000 ha, khu bảo tồn
thiên nhiên Nà Hẩu thuộc địa bàn gồm 4 xã: Nà Hẩu, Đại Sơn, Mỏ Vàng,
Phong Dụ Thượng. Nà Hẩu có địa hình như một lịng chảo tạo nên từ thung
lũng hẹp, xung quanh được bao bọc bởi những cánh rừng nguyên sinh trùng
điệp. Rừng trong khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu vẫn còn lưu giữ được hệ
sinh thái đa dạng sinh học với hàng trăm loài thực vật và động vật q hiếm,
ở đây có hệ động, thực vật cịn khá nguyên vẹn; nhiều động, thực vật quý

hiếm được bảo tồn và phát triển, có khí hậu trong lành, mát mẻ, nhiều khe,
suối, thác nước chảy quanh năm; hệ động thực vật phong phú và nhiều loài
động thực vật quý hiếm vẫn được gìn giữ và bảo tồn.
Nằm ở độ cao trung bình từ 600 - 700m so với mực nước biển, nơi cao
nhất 1.800m, nơi thấp nhất 200m nên địa hình của Nà Hẩu bị chia cắt mạnh,
tạo thành rất nhiều khe suối và có nhiều hang động, thác nước đẹp như thác
Bản Tát, thác Suối Tiên, hang Dơi... Nà Hẩu không chỉ hấp dẫn du khách bởi
phong cảnh thiên nhiên hoang sơ, trữ tình, Nà Hẩu cịn là nơi hội tụ sắc màu
văn hóa truyền thống đặc sắc, đa dạng của đồng bào dân tộc Mông.
2.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
2.2.1. Về kinh tế
Nằm cách Trung tâm tỉnh Yên Bái 40km, cách thủ đô Hà Nội hơn 200
km, cách thành phố Lào Cai 140 km, Văn Yên có hệ thống giao thông vận tải
thuận lợi cả về đường bộ, đường sắt và đường thủy. Đặc biệt với 50km đường


17

cao tốc Nội Bài - Lào Cai chạy dọc qua địa phận 08 xã của huyện với nút giao
IC14 nối kết với các tuyến đường tỉnh lộ chạy qua địa bàn huyện đã tạo nên
mạng lưới giao thông vận tải rất thuận tiện gắn kết giữa các vùng, các trung
tâm thị tứ, trung tâm xã với trung tâm huyện và gắn kết với các huyện bạn,
tỉnh bạn.
Văn Yên có 3 khu, cụm công nghiệp được phê duyệt gồm Khu công
nghiệp phía Bắc Văn Yên (tập trung chế biến tinh bột Sắn, tinh dầu Quế và
sản xuất giấy để xuất khẩu); Cụm cơng nghiệp phía Tây cầu Mậu A (tập trung
sản xuất các sản phầm từ cây Quế, vật liệu xây dựng, gỗ ván ép…); Cụm
cơng nghiệp thơn Tồn An, xã Đông An (tập trung chế biến gỗ rừng trồng,
các sản phẩm từ cây Quế…).
2.2.2. Về văn hoá - xã hội

Huyện Văn Yên có 11 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm 53,01%,
dân tộc Dao chiếm 25,3%, dân tộc Tày chiếm 15,5%, dân tộc Mơng chiếm
4,4% cịn lại là các dân tộc khác.
Các dân tộc Kinh, Tày, Mường, Nùng, Dao sống thành cộng đồng làng
bản ở vùng thấp, có kinh nghiệm thâm canh lúa nước, cây lương thực, cây
công nghiệp, kết hợp trồng trọt với chăn nuôi, trồng cây nguyên liệu và sản
xuất, đời sống kinh tế văn hóa khá. Còn lại các dân tộc khác cư trú và sinh
sống trên các sườn núi và thung lũng, chủ yếu là trồng lúa nương, ngơ, sắn,
Quế, chăn ni trâu, bị, lợn, gia cầm. Trình độ canh tác cịn thấp, kinh tế phát
triển chậm.
Với 11 dân tộc, mỗi dân tộc đều có một bản sắc văn hóa riêng biệt, bản
sắc văn hóa của các dân tộc được bảo tồn và phát huy thể hiện nét đẹp văn
hóa của mỗi dân tộc như: Văn hóa dân tộc Dao Đỏ có múa rùa, múa chng,
múa ra qn; văn hóa dân tộc Tày có múa xịe đệm, xịe khăn, hát khắp, hát
then; văn hóa dân tộc Phù Lá múa khèn bầu, sáo cúc kẹ, múa xịe; văn hóa
dân tộc Mơng có múa xênh tiền, múa khèn, múa kiếm, múa gậy…


×