Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Khoa Lâm Nghiệp
Nhóm I
GV:Lê Ngọc Thông
Nhóm thực hiện:
11114004-Nguyễn Ngọc Tân (DH11LN)
11114062-Đào Văn Lợi (DH11LN)
11114109-Lê Ngọc Thích (DH11LN)
11114031-Trần Thị Thảo Dung (DH11LN)
11114081-Nguyễn Thị Ngân (DH11LN)
11114073-Hứa Quý Lộc (DH11LN)
Mục Lục
Phần I
Giá trị của đa dạng sinh học về kinh tế, xã hội, sinh học…
Phần II
Sự suy thoái về đa dạng sinh học
PhầnIII
Các giai đoạn của quá trình suy thoái
Phần I
1)Khái niệm về đa dạng sinh học
Theo định nghĩa của Quỹ Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (World
Wildlife Fund) thì đa dạng sinh học là “sự phồn thịnh của cuộc sống
trên trái đất, là hàng triệu loài động vật, thực vật và vi sinh vật, là
những nguồn gen của chúng và là các hệ sinh thái phức tạp cùng tồn tại
trong môi trường sống’’.
. Đa dạng sinh học cũng bao gồm sự khác biệt trong các quần xã sinh
học nơi các loài đang sinh sống, các hệ sinh thái trong đó các quần xã
tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau.
Sự khác biệt giữa đa dạng sinh học ở 3 mức độ khác nhau là:
+Đa dạng loài bao gồm tất cả loài trên trái đất.
+Đa dạng di truyền bao gồm các thành phần các mã di truyền cấu trúc
nên cơ thể sinh vật (nucleotides, genes, chromosomes) và sự sai khác
về di truyền giữa các cá thể trong một quần thể và giữa các quần thể
với nhau.
Đa dạng di truyền của loài Keo má trắng Platycercus eximius (ở
Úc) thể hiện qua màu sắc và đốm thân. Sơ đồ còn chỉ ra các vùng phân
bố
của chúng (Nguồn: Richard B Primack).
+Đa dạng về hệ sinh thái là thước đo sự phong phú về sinh cảnh, nơi
ở, tổ sinh thái và các hệ sinh thái ở các cấp độ khác nhau.
Rừng mưa nhiệt đới (Tropical rain forests). Nguồn: Botanical society of
America
Rừng ôn đới(temperate forests) Nguồn: photo by fred Norris
Cây bụi (Shrubland, Chaparral) Nguồn: Botanical society of Americ
2) Giá trị kinh tế
+Trực tiếp: Là những giá trị được con người trực tiếp
khai thác và sử dụng.
-Giá trị sử dụng cho tiêu thụ: Bao gồm các sản phẩm
tiêu dùng cho cuộc sống hàng ngày như củi đốt và các
loại sản phẩm khác cho các mục tiêu sử dụng như tiêu
dùng cho gia đình và không xuất hiện ở thị trường trong
nước và quốc tế. Những sản phẩm này không đóng góp
gì vào tổng thu nhập quốc dân (GDP), nhưng nếu không
có những nguồn tài nguyên này thì con người sẽ gặp
nhiều khó khăn trong cuộc sống. Một trong những nhu
cầu không thể thiếu của con người là protein, nguồn này
được lấy từ thịt của động vật
-Giá trị cho sản xuất: Là giá trị bán các sản phẩm thu
lượm, khai thác được từ thiên nhiên trên thị trường
trong nước và ngoài nước. Sản phẩm này được định giá
theo các phương pháp kinh tế tiêu chuẩn và giá được
định là giá mua tại gốc, thường dưới dạng sơ chế hay
nguyên liệu. Ví dụ, hàng năm tiền thu mua vỏ quế ở
Việt Nam khoảng 1 triệu đôla, còn tiền bán các loại
thuốc chế biến từ vỏ quế khoảng 2,5 triệu đôla
+Gián tiếp:Những giá trị kinh tế gián tiếp là những khía
cạnh khác của đa dạng sinh học mang lại lợi ích cho cả cộng
đồng. Những lợi ích này không phải là hàng hoá hay là dịch
vụ, không đo đếm được và có khi vô giá nên thường không
được tính đến trong quá trình tính toán giá trị GDP của quốc
gia. Tuy vậy, chúng có vai trò rất quan trọng trong công
việc duy trì những sản phẩm tự nhiên mà nền kinh tế quốc
gia phụ thuộc.
-Giá trị sinh thái: Là cơ sở tồn tại của sự sống trên trái đất
trong đó có con người.Hệ sinh thái rừng được xem là lá phổi
xanh của thế giới. Đa dạng sinh học là nhân tố quan trọng
để duy trì các sinh thái cơ bản như: quang hợp của thực vật,
điều hòa nguồn nước, điều hòa khí hậu, hạn chế sự xói mòn
đất, cung cấp oxy cho con người, góp phần tạo các dịch vụ
nghỉ ngơi và du lịch sinh thái.
Đa dạng sinh học là cốt lõi đế xác định nguồn gốc sự sống.
-Giá trị giáo dục và khoa học: Con người có thể tìm
được rất nhiều thông tin từ thiên nhiên thông qua
nghiên cứu khoa học. Nâng cao kiến thức tăng cường
giáo dục và tăng vốn sống cho con người. Thông qua
nghiên cứu khoa học và giáo dục con người hiểu rõ
hơn về giá trị của đa dạng sinh học.
-Giá trị văn hóa và dân tộc học: Đa dạng sinh học còn
có nhiều giá trị về văn hóa và dân tộc học mà nó dựa
trên nền tảng về đạo đức và kinh tế. Hệ thống giá trị
của hầu hết các tôn giáo, triết học và văn hóa cung
cấp những nguyên tắc và đạo lí cho việc bảo tồn loài.
Con người phải nỗ lực hành động nhằm hạn chế sự
tuyệt chủng của loài.
Phần II
-Suy thoái đa dạng sinh học là sự mất mát tính đa dạng vốn có của về
động vật, thực vật, các loài sinh vật, có trong môi trường tự nhiên từ
đó làm giảm chức năng,giá trị của đa dạng sinh học.
-Nguyên nhân:Tự nhiên và con người là 2 nguyên nhân chủ yếu.
+Mất nơi cư trú và là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn các
loài đến bờ tuyệt chủng của các loài. Do vậy việc bảo vệ nơi cư trú của
các loài là hết sức quan trọng.
+Khai thác quá mức: Nhằm thoả mãn các nhu cầu của cuộc sống, con
người đã thường xuyên săn bắn, hái lượm thực phẩm và khai thác các
nguồn tài nguyên khác. Khi con người còn ít thì tự nhiên còn đủ khả
năng để cung cấp nhưng khi số lượng người quá đông thì chúng ta phải
khai thác một lượng tài nguyên rất lớn để phục vụ cho nhu cầu. Từ đó
ngày càng làm giảm tính đa dạng của sinh học.
Khai thác quá mức quặng boxit
Rùa tai đỏ
nguồn:tamnhin.net
+Sự du nhập các loài ngoại lai: các loài ngoại lai có thể gây ảnh
hưởng, suy giảm đến các loài vốn có đã lâu.
Ốc bưu vàng
Nguồn:baovecaytrong.com
+Các rừng mưa bị đe dọa:rừng mưa là nơi tập trung sinh sống
của rất nhiều loài.
+Nạn ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu toàn cầu:Cho dù nơi
sinh sống không bị ảnh hưởng một cách trực tiếp do việc phá hủy
hay chia cắt, nhưng các quần xã và các sinh vật sống trong đó có
thể bị ảnh hưởng sâu sắc do các hoạt động khác của con người.
Dạng nguy hiểm nhất của phá hủy môi trường là sự ô nhiễm.
Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do thuốc trừ sâu, hóa
chất và các chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt của con người
và các ô nhiễm gây ra bởi các nhà máy, ô tô, cũng như các trầm tích
lắng đọng do sự xói mòn đất từ các vùng cao, sườn núi.
Nguồn: vietbao.vn
+Sa mạc hóa:Rất nhiều các quần xã sinh vật sống trong các vùng
khí hậu khô hạn theo mùa đã bị suy thóai và đất đai trở thành sa
mạc mà nguyên nhân chính là do các hoạt động của con người, quá
trình đó gọi là quá trình sa mạc hóa. Lúc đầu các vùng đất này rất
phù hợp cho việc phát triển nông nghiệp, nhưng việc gieo trồng liên
tục đã làm cho đất bị xói mòn dẫn đến việc mất khả năng giữ nước.
Nguồn:tamnhin.net
+Thảm cỏ ở đây cũng liên tục bị trâu bò, dê cừu ăn trụi, các cây thân
gỗ thì bị khai thác để làm củi, hậu quả là sự suy thoái rất nhanh và
không thể hồi phục trở lại của các quần xã sinh vật cũng như việc
mất thảm che phủ bề mặt đất và hậu quả là khu vực này biến thành
sa mạc.
+Việc xây dựng đường xá, ruộng vườn, nhà cửa, thành phố, và
nhiều hoạt động khác của con người làm chia nhỏ nơi cư trú của các
loài. Các phần này bị cách ly với những phần khác gây biến đổi nhiều
về cảnh quan.
+Ô nhiễm do thuốc trừ sâu: Việc sử dụng các loại thuốc trừ sâu
để phòng trừ các loài côn trùng gây hại cho cây trồng và phun
vào nước để diệt các ấu trùng muỗi đã làm hại tới những quần
thể khác sống trong thiên nhiên, đặc biệt đối với những loài
chim ăn côn trùng, cá và các loại động vật khác.
+Ô nhiễm nước: ô nhiễm nước gây hậu quả xấu cho loài người
như hủy hoại các nguồn thực phẩm thủy sản như cá, ốc, hến và
làm ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt. Tương tự như vậy, ô nhiễm
nước còn gây tác hại to lớn cho các quần xã sống dưới nước.
Sông, hồ và đại dương thường xuyên được sử dụng như một bãi
thải các chất thải công nghiệp, chất thải dân dụng. Thuốc trừ
sâu, thuốc trừ cỏ dầu thải, dầu bị rò rỉ, kim loại nặng, các chất
tẩy rửa có thể làm tổn thương hay giết chết các sinh vật thủy
sinh sống trong môi trường nước.
Ô nhiễm nguồn nước
Nguồn:khoahoc.baodatviet.vn
+Ô nhiễm không khí: các hoạt động của con người làm thay đổi và làm
ô nhiễm bầu không khí của trái đất. Các dạng ô nhiễm không khí như:
-Mưa axit: các nền công nghiệp như luyện thép, các nhà máy nhiệt
điện sử dụng nhiên liệu là than hay dầu đã thải ra một lượng lớn các
khí NOx, SOx vào không khí, các khí này khi gặp hơi nước trong không
khí sẽ tạo ra axit nitric và axit sulfuric.
Nguồn: tinmoitruong.vn
+Sương mù quang hoá: Xe ô tô, các nhà máy điện và
các hoạt động công nghiệp thải ra các khí hydrocacbon,
khí NO. Dưới ánh sáng mặt trời, các chất này tác dụng
với khí quyển và tạo ra khí ozon và các chất phụ phẩm
khác.
+Một loài bị coi là tuyệt chủng (extinct) khi không còn
một cá thể nào của loài đó còn sống sót tại bất kỳ nơi
nào trên thế giới. Nếu như một số cá thể của loài còn
sót lại chỉ nhờ vào sự kiểm soát, chăm sóc, nuôi dưỡng
của con người, thì loài này được coi là đã bị tuyệt
chủng trong thiên nhiên hoang dã (extinct in the wild).
Trong hai trường hợp trên, các loài có thể coi như bị
tuyệt chủng trên phạm vi toàn cầu (globally extinct).
Một loài bị coi là tuyệt chủng cục bộ (locally extinct)
nếu như chúng không còn sống sót tại nơi chúng đã
từng sinh sống, nhưng người ta vẫn còn tìm thấy chúng
tại những nơi khác trong thiên nhiên. Một số nhà sinh
học sử dụng cụm từ loài bị tuyệt chủng về phương diện
sinh thái học (ecologically extinct), điều đó có nghĩa là
số lượng cá thể loài còn lại ít đến nổi tác dụng của nó
không có chút ý nghĩa nào đến những loài khác trong
quần xã.
-Sự mất mát do suy thoái đa dạng sinh học:
Đa dạng sinh học không những cung cấp trực tiếp những phúc lợi cho xã hội như:
lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng, năng lượng, mà còn có
giá trị đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ sinh học, trong ứng dụng thực tiễn sản xuất
nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp, y tế, du lịch
Song do tác động của phát triển công nghiệp, quy hoạch đô thị nên những hệ sinh
thái tự nhiên này đang dần bị suy giảm. Diện tích các khu vực có các hệ sinh thái quan
trọng dần bị thu hẹp. Nhiều vùng nước bị lấp đầy để lấy mặt bằng sản xuất, xây dựng
nhà ở. Số loài và số lượng cá thể của các loại thực, động vật hoang dã có nguy cơ diệt
vong, các nguồn gen hoang dã đang trên đà suy thoái nhanh.
Chẳng hạn như giống gà Hồ hiện chỉ còn khoảng 200 con tương đối thuần chủng đang
được nuôi ở thôn Lạc Thổ (thị trấn Hồ, Thuận Thành). Còn giống gà Đông Cảo, gà ri
hầu như không còn tồn tại. Vườn cò Đông Xuyên cũng đang bị suy giảm nghiêm trọng
do tình trạng săn bắn bừa bãi… Các giống bản địa bị mất dần do sự du nhập của các
giống mới hay các động, thực vật ngoại lai. Suy thoái đa dạng sinh học dẫn đến mất
cân bằng sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con người, đe dọa sự
phát triển nền kinh tế, sự bền vững của trái đất. Mặt khác sinh vật và hệ sinh thái là
nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm, công cụ, nhiên liệu… Do vậy khi hệ sinh thái
bị suy thoái sẽ ảnh hưởng đến an ninh lương thực làm cho con người phải đối mặt với
nguy cơ đói nghèo, suy giảm nguồn gen và đặc biệt là biến đổi khí hậu dẫn đến hàng
loạt các thảm họa thiên nhiên đe dọa cuộc sống của con người.
Vì vậy hiện nay cho thấy việc khôi phục bảo vệ các hệ sinh thái, nguồn tài nguyên
rừng, sự đa dạng loài và đa dạng di truyền để bảo tồn đa dạng sinh học, ngăn chặn sự
diệt vong của các loài quý hiếm là một việc làm cấp bách.
Phần III
+Các giai đoạn của quá trình suy thoái:Trong giai đoạn từ kỉ
Camprian, các nhà cổ sinh học cho rằng đã trải qua 5 lần tuyệt
chủng.
-Lần thứ I vào kỉ Odrovican (cách đây khoảng 450tr năm) 12% các họ động vật
biển, 60% số loài thực vật bị tuyệt chủng.
-Lần II vào kỉ Devon (cách đây khoảng 365tr năm), kéo dài 7tr năm làm biến mất
60% tổng số loài còn lại sau lần thứ I.
-Lần thứ III là nghiêm trọng nhất kéo dài khoảng 1tr năm vào kỉ Permian (cách
đây khoảng 245tr năm) đã xóa sổ 54% số họ và 77-96% số động vật biển, 2/3 số
loài bò sát, ếch nhái và 30% số bộ côn trùng.
-Lần IV vào cuối kỉ Triassic (cách đây khoảng 210tr năm)khoảng 20% số loài tren
tría đất bị tiêu diệt .
-Lần V vào cuối kỉ Cretacis và đầu kỉ Tertỉay (cách đây khoảng 65tr năm) đây
được coi là lần tuyệt chủng nổi tiếng nhất. Ngoài các loài thằn lằn khổng lồ, hơn
một nữa loài bò sát và một nữa loài sống ở biển đã bị tuyệt chủng.
Vì vậy bảo vệ môi trường đa dạng sinh học cũng chính là bảo vệ môi
trường sống của chúng ta. Hãy cùng chung tay góp một phần công sức
nhỏ bé của mình để bảo vệ sự đa dạng của sinh học. Không nên khai thác
quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên để bảo vệ môi trường sống của
chúng ta. Tích cực bảo vệ các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng, tìm ra nhiều
loài mới bổ sung vào sự đa dạng vốn có.
THE END
THANKS YOU