321
Chương III
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN
TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP
LẦN THỨ TƯ
I. QUYỀN CON NGƯỜI TRONG BỐI CẢNH
CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ
Những thay đổi do các công cụ mới xuất hiện từ Cách
mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại chắc chắn sẽ có những
tác động đáng kể đến việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con
người, đặc biệt trên một số lĩnh vực (như lao động, y tế, kinh
doanh thương mại, giáo dục...) và với hầu hết các nhóm xã
hội mà đặc biệt là các nhóm có ít cơ hội tiếp cận với những
công nghệ mới.
Với chủ trương và đường lối hội nhập quốc tế sâu rộng
như hiện nay, Việt Nam đã, đang và sẽ chứng kiến những tác
động, cả tích cực và tiêu cực, đối với việc bảo đảm một số
quyền con người, và có phần nhanh và mạnh hơn nhiều quốc
gia khác. Điều đó đặt ra những yêu cầu cấp thiết với Nhà
nước, các tổ chức xã hội và các chủ thể có liên quan khác cần
tìm hiểu, chuẩn bị và thay đổi cả về nhận thức, công cụ pháp
322
PHÁP LUẬT TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP...
luật và hành động thực tiễn trong việc bảo đảm các quyền
con người.
1. Khái quát về quyền con người trong Cách mạng
công nghiệp lần thứ tư
Việc ghi nhận và phát triển quyền con người xuất phát
từ nhu cầu bảo vệ các cá nhân, cho nên hầu hết các quyền
con người đều gắn với chủ thể là các cá nhân. Các quyền cá
nhân được hiểu là những quyền thuộc về mỗi cá nhân bất kể
họ có địa vị pháp lý hay xã hội như thế nào. Các quyền này,
chủ yếu đã được ghi nhận trong Bộ luật nhân quyền quốc tế
với ba văn kiện chính là Tun ngơn tồn thế giới về quyền
con người; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị;
Cơng ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa. Với
những biến đổi do cuộc cách mạng công nghiệp mới mang
lại, việc bảo đảm thực thi các quyền này vừa có thể được
thúc đẩy nhưng chắc chắn cũng đặt ra nhiều thách thức
hơn, đòi hỏi phải xác định được những vấn đề trọng tâm cần
ưu tiên giải quyết.
1.1. Vấn đề về chủ thể quyền
Sự tham gia ngày càng phổ biến của công nghệ mới trong
các lĩnh vực của đời sống con người đang đặt ra bài toán về
mối quan hệ giữa chúng với con người tự nhiên. Thông tin
đến nay cho thấy những công nghệ mới hồn tồn có thể tự
học thơng qua trải nghiệm và có khả năng thay thế con người
trong việc “tư duy” và “quyết định hành động” (như các trí
tuệ nhân tạo). Điều đó có nghĩa là con người đang đứng trước
những mối quan hệ pháp lý mới hoàn toàn khác so với những
Chương III: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN...
323
thực thể pháp lý chúng ta đã từng gặp như các pháp nhân,
thậm chí cả các giao dịch điện tử (hợp đồng điện tử, chữ ký
điện tử,...). Bởi vì dù có tư cách pháp lý riêng nhưng các pháp
nhân hay các hình thức giao dịch điện tử cho đến nay vẫn
phải được thực hiện thông qua hành vi của con người. Trong
khi đó, sự xuất hiện của các trí tuệ nhân tạo sẽ có thể khơng
cần tới, thậm chí khơng thể bị điều khiển bởi ý chí của con
người. Minh chứng điển hình là hồi cuối tháng 7/2017, hai
chương trình trí tuệ nhân tạo do các kỹ sư Facebook phát
triển đã tự tạo ra một ngôn ngữ riêng để liên lạc với nhau mà
không kỹ sư nào hiểu được nội dung giao tiếp đó1, dù rằng
sau đó các nhà nghiên cứu nói rằng “có thể hiểu được kết quả
của cuộc hội thoại”2.
Ngày 25/10/2017, Arập Xêút đã gây chú ý với quyết định
trao tư cách cơng dân cho người máy có tên Sophia dẫn tới
một vấn đề pháp lý rõ hơn. Rằng nữ cơng dân Sophia có tư
cách pháp lý bình đẳng với những nữ công dân khác ở quốc
gia này hay khơng, như sự địi hỏi phải theo Hồi giáo hay
những yêu cầu về sự xuất hiện của nữ giới nơi công cộng...
Những động thái như vậy đã cho thấy ngày càng rõ xu
hướng mở rộng phạm vi chủ thể của các quyền thay vì chỉ
__________
1. Facebook xóa sổ trí tuệ nhân tạo có khả năng tự sáng tạo ra ngơn ngữ
mới,
nhandan.vn/thong-tin-so/facebook-xoa-so-tri-tue-nhan-tao-co-kha-
nang-tu-sang-tao-ra-ngon-ngu-moi-299553, đăng ngày 29/7/2017.
2. Facebook đã không hoảng sợ và tắt chương trình trí tuệ nhân tạo
tự tạo ra ngơn ngữ như tin đồn, đăng ngày 01/8/2017.
324
PHÁP LUẬT TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP...
dành cho chủ thể truyền thống là các cá nhân con người tự
nhiên. Và xu hướng đó đang đặt ra một số vấn đề cụ thể hơn
như: Liệu có hay khơng sự xuất hiện của phân biệt địa vị
pháp lý giữa con người với người máy tương tự như đã từng
tồn tại giữa chủ nô và nô lệ trước đây? Pháp luật có cách thức
nào để dung hịa sự khác biệt về nhu cầu giữa con người với
các thực thể mang trí tuệ nhân tạo? Hay xa hơn như liệu có
khả năng các trí tuệ nhân tạo trở thành thành viên của hội
đồng xét xử tại tịa án, ít nhất là với tư cách của “hội thẩm
nhân dân” hay “bồi thẩm đoàn”?...
Ngoài ra, khả năng thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của
người máy cũng là thách thức đối với các nhà lập pháp trong
bối cảnh mới. Rõ ràng là chúng ta không thể truy cứu trách
nhiệm pháp lý giống như đối với pháp nhân khi xảy ra một
vấn đề/thiệt hại nào đó. Bởi xét đến cùng, trách nhiệm của
pháp nhân vẫn phải được thực thi bởi những con người đại
diện cho pháp nhân đó. Cịn người máy thì có thể khơng cần
đến người đại diện về pháp lý.
Theo một báo cáo từ Viện Rathenau công bố năm 2017,
một số loại công nghệ đã ngày càng mang những tính năng
giống con người hơn (lái xe - self driving, thông dịch translation, tâm sự - chatbots,...)1. Thậm chí, một số loại
__________
1. Van Est, R. & J.B.A. Gerritsen, with the assistance of L. Kool:
Human rights in the robot age: Challenges arising from the use of
robotics, artificial intelligence, and virtual and augmented reality,
Expert report written for the Committee on Culture, Science, Education
and Media of the Parliamentary Assembly of the Council of Europe
(PACE), The Hague: Rathenau Instituut, 2017, tr.15.
Chương III: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN...
325
công nghệ đã có thể tồn tại riêng biệt và tự tạo liên hệ của
riêng chúng với con người. Báo cáo của Viện Rathenau cũng
nêu ra bốn đặc trưng để giúp chúng ta thấy được cách thức
liên hệ của các thực thể thông minh này (intelligent
artefacts) với con người, bao gồm1: (i) về nơi cư ngụ, một số
thực thể thông minh chỉ cư ngụ trên môi trường kỹ thuật số
(như chatbots) nhưng cũng có những thực thể cư ngụ trên vật
chủ ngồi đời thực (như trí tuệ nhân tạo bên trong rơ bốt);
(ii) các thực thể thơng minh này có mức độ tự chủ nhất định;
(iii) cách thức tương tác giữa con người với những thực thể
thông minh này phụ thuộc vào dáng vẻ của chúng (ví dụ
người máy thơ - mechanoids và người máy mô phỏng người androids); và (iv) cách thức con người nhận thức về thế giới
khách quan bị trung gian hóa bởi các thực thể thơng minh
(bởi vì có nhiều hiện tượng, vật thể ngồi tự nhiên mà con
người khơng thể tự nhìn được và phải nhận thức qua sự tái
tạo, mô phỏng bởi các thực thể thông minh).
Như vậy, cả lý luận và những diễn biến thực tế đều cho
thấy rằng tư cách chủ thể quyền của con người tự nhiên có
thể sẽ bị thách thức trong tương lai bởi chính cuộc cách mạng
4.0 này, hoặc ít nhất là phải chia sẻ tư cách đó với các thực
thể thông minh do con người tạo ra.
1.2. Những vấn đề đặt ra đối với một số quyền cá nhân
Theo một báo cáo của Viện nghiên cứu McKinsey, thực
hiện khảo sát trên 46 quốc gia và hơn 800 ngành nghề,
__________
1. Van Est, R. & J.B.A. Gerritsen: with the assistance of L. Kool:
Human rights in the robot age: Challenges arising from the use of robotics,
artificial intelligence, and virtual and augmented reality, Tlđd, tr. 16.
326
PHÁP LUẬT TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP...
khoảng 400 - 800 triệu nhân cơng trên tồn thế giới sẽ bị
thay thế bởi người máy và các thiết bị tự động hóa vào năm
2030, trong số đó sẽ có khoảng 75 đến 375 triệu người phải
lựa chọn nghề nghiệp khác và phải học các kỹ năng mới1.
Điều đó có nghĩa là tác động ban đầu của cuộc cách mạng
lần này thiên về khía cạnh tiêu cực đối với quyền về lao động
việc làm, khiến cho một lực lượng lớn lao động bị loại ra khỏi
các cơ hội việc làm hiện tại, bên cạnh một phần không nhỏ là
lực lượng thất nghiệp sẵn có. Đây khơng chỉ là bài tốn đối
với riêng lĩnh vực chế tạo sản xuất để phải tìm ra cách
thức/công việc mới cho lực lượng lao động dôi dư mà cịn địi
hỏi chính bản thân người lao động phải nỗ lực cải thiện năng
lực cá nhân. Không những thế, ngay cả khi đã tìm được một
cơng việc mới thì người lao động vẫn có thể phải chịu những
sức ép về hiệu suất lao động để không tiếp tục bị thay thế. Có
thể xuất hiện quan điểm lạc quan cho rằng khi đó, lượng của
cải vật chất và các giá trị do máy móc, các thiết bị cơng nghệ
tạo ra đã thừa để nuôi sống con người mà không cần làm
việc, với minh chứng như một đề xuất trả lương tối thiểu cho
toàn dân, bao gồm những người thất nghiệp như ở Thụy Sĩ,
Phần Lan, Hà Lan, Canađa, Hoa Kỳ chẳng hạn. Có thể
những đề xuất tương tự sẽ còn được phổ biến hơn trong tương
lai, nhưng cần phải biết rằng, mục đích của các đề xuất như
vậy là để “khuyến khích người dân tìm việc làm”. Tuy vậy,
__________
1. McKinsey Global Institute: Jobs lost, jobs gained: What the future
of work will mean for jobs, skills, and wages, />global-themes/future-of-organizations-and-work/what-the-future-ofwork-will-mean-for-jobs-skills-and-wages, đăng ngày 28/11/2017.
Chương III: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN...
327
không phải khơng có những dấu hiệu tích cực. Điều dễ thấy
là khi con người không cần quá tập trung cho hoạt động sản
xuất, phân công lao động sẽ thúc đẩy sự dịch chuyển sang
các hoạt động phi sản xuất và các nhóm ngành nghề liên
quan đến nghiên cứu (tự nhiên và xã hội), thiết kế, sáng tạo,
đổi mới,... sẽ có sức hút hơn. Thực tế là chúng ta đã từng
chứng kiến vấn đề tương tự (có thể ở quy mơ nhỏ hơn) khi
diễn ra các cuộc cách mạng công nghiệp trước từ phát minh
ra động cơ, đến điện, rồi điện tử và tự động hóa. Sau mỗi
“cuộc cách mạng” như vậy, biến đổi sau cùng nhận ra được có
lẽ chính là sự chuyển hướng của phân cơng lao động.
Ngồi quyền làm việc phải chịu tác động tiêu cực (ở giai
đoạn ban đầu), sẽ kéo theo nhu cầu ngày càng tăng và có giai
đoạn tăng đột biến về nhu cầu bảo đảm các quyền an sinh xã
hội, giáo dục đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, duy trì và nâng
cấp các dịch vụ công cộng cơ bản (như y tế, nhà ở, môi
trường,...), cụ thể là:
- Về quyền được bảo vệ sức khỏe, chăm sóc y tế. Thời gian
qua đã chứng kiến nhiều tiến bộ của y học, đặc biệt là việc
đưa vào sử dụng hệ thống quản lý điện tử hay áp dụng các kỹ
thuật tự động trong khám, chữa trị một số loại bệnh tật. Và
xu hướng cho thấy ngày càng có nhiều hoạt động y tế được
thực hiện trên cơ sở các thiết bị công nghệ hơn để vừa tăng
hiệu quả điều trị và tiết kiệm được các chi phí có liên quan.
Khả năng kết nối của các thiết bị hiện nay cũng như trong
tương lai cịn có thể giúp con người không nhất thiết phải di
chuyển tới các cơ sở y tế mà có thể được khám và điều trị từ
xa với hiệu năng cao. Thậm chí, mỗi người cũng có thể tự trở
328
PHÁP LUẬT TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP...
thành người chăm sóc y tế cho bản thân nhờ các thiết bị theo
dõi, cảnh báo về tình trạng sức khỏe mà hiện nay cũng đã
được biết đến nhiều (dù các chức năng còn ở mức đơn giản và
vẫn cần sự can thiệp sớm của chuyên gia y tế). Với cuộc Cách
mạng công nghiệp lần thứ tư mà một trong các lĩnh vực trọng
điểm là cơng nghệ sinh hóa được tập trung phát triển, chúng
ta cũng hoàn toàn tin tưởng về khả năng điều trị một số loại
bệnh mà hiện nay chưa có giải pháp. Bên cạnh những tác
động tích cực đó, một mâu thuẫn truyền thống giữa nhu cầu
bảo đảm quyền về sức khỏe với bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ
đối với các sản phẩm y tế (thuốc, dược phẩm, thiết bị,...) vẫn
sẽ là chủ đề gây tranh cãi và tiếp tục là gánh nặng đối với
người bệnh. Gánh nặng thất nghiệp hoặc thu nhập thấp vẫn
còn tiếp tục đòi hỏi các chính sách về y tế phải trở nên dễ tiếp
cận hơn (như về chi phí y tế, số lượng và chất lượng nguồn
lực cả vật chất và con người).
- Về quyền đối với môi trường, người ta tin rằng các công
nghệ mới sẽ thân thiện hơn với môi trường sống hiện nay,
giảm phát thải các khí gây hại, hoặc ít nhất là cũng sẽ phổ
biến hơn những cơng nghệ xử lý chất thải an toàn. Cụ thể
hơn, những nguồn tài nguyên thiết yếu nhưng dễ bị ô nhiễm
sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển của các cơng nghệ làm
sạch như nguồn nước, khơng khí. Những cơng việc mới cũng
có thể xuất hiện như các cơng ty kinh doanh khơng khí sạch
đang dần khẳng định vị thế của họ cũng như cho thấy nhu
cầu thương mại hóa mặt hàng này đang tăng lên. Tuy nhiên,
vẫn là yếu tố chi phí khiến cả khi đã xuất hiện các cơng nghệ
mới xử lý ơ nhiễm thì đó hẳn khơng phải là giải pháp cho đa
Chương III: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN...
329
số dân chúng, đặc biệt là những người có thu nhập thấp
trong khi ơ nhiễm khơng khí, ơ nhiễm nguồn nước lại tác
động đến hầu hết mọi người. Đây là một thách thức lớn đối
với các nhà nước trong việc xây dựng và thực thi các chính
sách nghiêm khắc nhằm ứng phó, chống lại những hành vi
gây nguy hại cho mơi trường sống.
- Về quyền lương thực, cho đến hiện nay vẫn là bài tốn
gây đau đầu khơng chỉ các cơ quan nhà nước mà còn với
nhiều tổ chức xã hội. Do ảnh hưởng từ suy thối mơi trường,
việc trồng trọt, chăn ni trở nên khó khăn và đem lại hiệu
năng khơng đồng đều. Thực tế đó đang khiến cho an ninh
lương thực là vấn đề được cảnh báo trên phạm vi tồn cầu và
thể hiện ở hai khía cạnh. Một là thiếu nguồn cung lương
thực1 khiến cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp đến năm 2050
phải tăng tới 70%. Trong Báo cáo tình hình an ninh lương
thực và dinh dưỡng trên thế giới được đưa ra ngày 13/7/2020,
Liên hợp quốc ước tính có khoảng 690 triệu người rơi vào tình
trạng thiếu ăn trong năm 2019. Theo dự đoán của Báo cáo,
đại dịch Covid-19 có thể đẩy thêm 130 triệu người rơi vào
tình trạng thiếu ăn kinh niên2. Hai là khả năng tiếp cận
__________
1. Giữa năm 2016, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ công bố báo cáo cho thấy
lượng lương thực dự trữ của ba nước xuất khẩu lớn nhất thế giới đã sụt giảm
ở mức lớn nhất kể từ năm 2003. Xem: Thế giới và Việt Nam: Đảm bảo an
ninh lương thực vì thế hệ tương lai, />bWluaHR1YW4=/dam-bao-an-ninh-luong-thuc-vi-the-he-tuong-lai37576.html, đăng ngày 14/10/2016.
2. Báo cáo của Liên hợp quốc cảnh báo nạn đói và suy dinh dưỡng
tiếp tục dai dẳng, khả năng đạt mục tiêu xóa đói tới năm 2030 bị hồi
nghi. Xem www.unicef.org.
330
PHÁP LUẬT TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP...
lương thực an tồn và bình đẳng cũng bị đe dọa dẫn tới nguy
cơ phân hóa sâu sắc hơn trên cơ sở giàu, nghèo. Hiện nay vẫn
tồn tại nghịch lý là trong khi khơng ít trẻ em phải chịu tình
trạng suy dinh dưỡng, thiếu ăn thì “ít nhất 41 triệu trẻ em
dưới 5 tuổi đang bị béo phì hoặc thừa cân”1. Thực trạng này
được cho rằng cũng góp phần bởi tình trạng sử dụng thức ăn
khơng bảo đảm an tồn dinh dưỡng, đặc biệt là các loại thức
ăn được sản xuất công nghiệp. Cuộc Cách mạng công nghiệp
lần thứ tư được cho rằng sẽ giúp tăng năng suất cũng như
hiệu quả phân phối lương thực, chất lượng lương thực được
cải thiện hơn.
Bên cạnh những tác động đối với một số quyền kinh tế, xã
hội nêu trên, cũng phải kể đến ảnh hưởng của cuộc cách
mạng lần này với khả năng thụ hưởng các quyền con người
về văn hóa, dân sự, và cả chính trị.
- Đối với nhóm các quyền về văn hóa, con người có khả
năng tiếp cận tốt hơn với các hoạt động văn hóa, giải trí nhờ
vào sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ về chất
lượng cũng như giá thành phù hợp hơn. Và ở góc độ nào đó,
các tác giả cho rằng nhờ vào sự chuyển dịch phân cơng lao
động sang những ngành nghề mới, khía cạnh văn hóa, các
giá trị đạo đức và cộng đồng sẽ được thúc đẩy và quan tâm
nhiều hơn. Sự thúc đẩy đó nằm ở cả khía cạnh giao thoa
__________
1. Giữa năm 2016, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ công bố báo cáo cho thấy
lượng lương thực dự trữ của ba nước xuất khẩu lớn nhất thế giới đã sụt giảm
ở mức lớn nhất kể từ năm 2003. Xem: Thế giới và Việt Nam: Đảm bảo an
ninh lương thực vì thế hệ tương lai, Tlđd.
Chương III: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN...
331
giữa các giá trị văn hóa, giảm bớt những mâu thuẫn, xung
đột mà hiện nay đang là nguyên nhân của cả các xung đột
vũ trang ở nhiều nơi trên thế giới. Điều này hồn tồn có
thể được hiện thực hóa nhờ vào các thiết bị, phương tiện kết
nối và chia sẻ dựa trên nền tảng “kết nối vạn vật” (Internet
of Things) và hệ thống Siêu dữ liệu (Big data) vốn là những
trọng điểm của cuộc cách mạng công nghiệp lần này. Dù
vậy, chúng ta cũng không thể quá lạc quan do cũng từ khả
năng kết nối mạnh mẽ mà có thể khiến cho việc phát tán
các giá trị văn hóa phản nhân văn, thậm chí mang tính cực
đoan có thể dễ dàng hơn. Bằng chứng là chỉ trong thời gian
tồn tại ngắn ngủi, tổ chức nhà nước hồi giáo (ISIL) đã chỉ
nhờ Internet mà thu hút được hàng ngàn chiến binh có
nguồn gốc châu Âu, đặc biệt là những người ở lứa tuổi thanh thiếu niên có trình độ tin học được tiếp cận giáo lý hồi giáo
cực đoan1.
- Đối với các quyền dân sự, chính trị cũng sẽ chịu nhiều
ảnh hưởng từ cuộc cách mạng lần này. Như Klaus Schwab đã
chỉ ra trong báo cáo của mình, rằng: “cuộc Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư sẽ không chỉ thay đổi cách thức làm việc
của chúng ta mà còn thay đổi chính bản thân con người. Bao
gồm nhân dạng của chúng ta và tất cả những vấn đề có liên
quan đến con người như: ý thức về sự riêng tư, quan niệm về
quyền sở hữu, cách thức tiêu dùng, thời gian cống hiến cho
__________
1. Thanh niên châu Âu gia nhập Hồi giáo cực đoan ngày càng nhiều,
đăng ngày 06/3/2015.
332
PHÁP LUẬT TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CƠNG NGHIỆP...
cơng việc và giải trí, cách thức phát triển sự nghiệp, trau dồi
kỹ năng, gặp gỡ mọi người, nuôi dưỡng các mối quan hệ...
Danh sách này là vơ hạn bởi vì nó chỉ bị ràng buộc bởi trí
tưởng tượng của chúng ta”1. Đặc biệt là khi ngày càng nhiều
người dành thời gian chủ yếu để thực hiện các tương tác với
thế giới ảo thay vì các tương tác thực truyền thống, mà ở đó
người ta có thể dễ dàng nhục mạ màu da, giới tính, hay cả
một ý tưởng của người khác bằng những ngôn từ hay biếm
họa. Thách thức lớn nhất có lẽ là đối với việc bảo đảm quyền
riêng tư của con người trong thời đại kỹ thuật số, khi quyền
này không chỉ dễ dàng bị xâm phạm bởi những chủ thể khác
mà kể cả chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm các quyền như nhà
nước cũng có thể xâm phạm đến. Mặc dù vậy, điều đó cũng có
nghĩa là việc thực hiện hàng loạt các quyền dân sự, chính trị
như tự do ngơn luận, tự do báo chí, tự do tư tưởng, quyền lập
hội và hội họp, tham gia vào quản lý nhà nước của người
dân,... sẽ được thực hiện dễ dàng hơn. Quản trị nhà nước
cũng sẽ chứng kiến một số thay đổi lớn như cách thức người
dân tham gia vào quản lý nhà nước sẽ được cải thiện nhờ các
nền tảng cơng nghệ. Các chính phủ cũng sẽ có cơ hội nâng
cao hiệu năng quản lý nhờ những cơng nghệ giám sát mới và
khả năng kiểm sốt sẵn có đối với hạ tầng kỹ thuật số. Điểm
khác nữa là tốc độ của các quy trình hoạch định chính sách
truyền thống sẽ khơng cịn phù hợp trong một bối cảnh các
__________
1. Klaus Schwab: The Fourth Industrial Revolution: what it means,
how to respond, Diễn đàn kinh tế thế giới, />agenda/2016/01/the-fourth-industrial-revolution-what-it-means-andhow-to-respond, đăng ngày 14/01/2016.
Chương III: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN...
333
nhu cầu và diễn biến xã hội thay đổi nhanh chóng, khơng chỉ
trên đời sống thực mà cịn cả ở các không gian ảo được tạo
lập. Vấn đề nằm ở chỗ phải có cách thức để mọi người đều
biết được về quyền cũng như hiểu đầy đủ về các nghĩa vụ,
hay các giới hạn của quyền để không tạo ra những vi phạm.
Cũng có thể tin tưởng vào một ngày nào đó, sẽ xuất hiện cơng
nghệ tự cảnh báo nguy cơ xâm phạm các quyền của người
khác dựa trên phân tích hành vi của con người.
Cùng với những vấn đề liên quan đến các quyền hiện có,
Cách mạng cơng nghiệp lần thứ tư cũng sẽ thúc đẩy việc ghi
nhận những quyền con người mới. Chẳng hạn như báo cáo của
Viện Rathenau năm 2017 đã khuyến nghị Hội đồng châu Âu
nên xem xét bổ sung quyền không bị thao túng (right to refuse
to be manipulated) để hạn chế khả năng một cá nhân bị lập
hồ sơ, bị theo dõi trái với ý chí của họ, và quyền được tương tác
thực chất với con người (right to meaningful human contact)1.
Những ghi nhận mới này địi hỏi các nhà lập pháp khơng chỉ
phải làm rõ bản chất của chủ thể quyền (chỉ là con người tự
nhiên hay cả con người nhân tạo) mà còn phải xác định được
cách thức tương tác giữa chủ thể quyền thì mới có thể tạo
dựng khn khổ điều chỉnh hành vi phù hợp.
1.3. Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với
các quyền của nhóm
Ngồi chủ thể quyền là các cá nhân, pháp luật nhân
quyền quốc tế cũng ghi nhận quyền của các nhóm đặc biệt
__________
1. Van Est, R. & J.B.A. Gerritsen, with the assistance of L. Kool:
Human rights in the robot age: Challenges arising from the use of robotics,
artificial intelligence, and virtual and augmented reality, Tlđd, tr. 7.
334
PHÁP LUẬT TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP...
nhằm thúc đẩy cơ hội thụ hưởng quyền của các thành viên
nhóm này. Đây không bị coi là vi phạm nguyên tắc bình đẳng
mà được coi là những biện pháp thúc đẩy bình đẳng thực
chất giữa tất cả mọi người, do xuất phát điểm ban đầu của
mỗi người đều không giống nhau. Về cơ bản, quyền của nhóm
được hiểu là “những quyền đặc thù, chung của một tập thể
hay một nhóm xã hội nhất định, mà để được hưởng thụ các
quyền này cần phải là thành viên của nhóm, và đơi khi cần
phải thực hiện cùng với các thành viên khác của nhóm”1. Do
khơng dễ gì xác định và phân tích những tác động tiêu biểu
của cuộc cách mạng công nghiệp lần này đối với từng nhóm
quyền, nên các tác giả cho rằng tạm thời chỉ nên phân tích
những tác động chung đối với một số quyền tiêu biểu của các
nhóm, bao gồm quyền khơng bị phân biệt đối xử, quyền bình
đẳng, quyền phát triển.
Thứ nhất là, quyền không bị phân biệt đối xử giữa các
nhóm người. Đây vẫn là mối quan tâm hàng đầu hiện nay dù
trên thực tế đã có những cải thiện. Nhờ sự phát triển của
khoa học công nghệ, những rào cản truyền thống về giới tính,
độ tuổi, sắc tộc, chủng tộc, tơn giáo, tín ngưỡng có thể tiếp
tục được giảm bớt. Các cơng nghệ mới cũng có thể hỗ trợ tốt
hơn cho mọi người để việc giao tiếp, phối hợp khơng cịn phải
chịu tác động của những định kiến truyền thống. Ví dụ như
trong lĩnh vực lao động sẽ cơ bản dựa trên yếu tố năng lực trí
tuệ, kỹ năng để tuyển dụng thay vì phải cân nhắc đến tình
__________
1. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội: Giáo trình lý luận và pháp
luật về quyền con người, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2011,
tr.65.
Chương III: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN...
335
trạng sức khỏe giữa nam và nữ; giữa người khuyết tật với
người không khuyết tật; hay nhờ vào các thiết bị giám sát
sức khỏe, người sống chung với HIV/AIDS có thể hòa nhập
tốt hơn với cộng đồng; “chủ nghĩa lý lịch” cũng khơng thể tiếp
tục duy trì ảnh hưởng của nó trong ít nhất là các hoạt động
quản lý dân cư, giáo dục và tuyển dụng lao động vốn mang
đậm dấu ấn các hình thức phân biệt trên cơ sở tơn giáo, tín
ngưỡng, sắc tộc, chủng tộc... Có nhiều quan điểm cho rằng để
hạn chế sự phân biệt đối xử cần trước hết thúc đẩy thực hiện
các biện pháp tuyên truyền, phổ biến kiến thức có liên quan
đến phân biệt đối xử như các chủ thể bị phân biệt, các hình
thức phân biệt... Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi không nằm ở đó
mà phải có những cơng cụ hỗ trợ để mọi người tự xác định và
đánh giá hành vi của bản thân tương tự thiết bị dự báo nguy
cơ xâm phạm quyền. Bởi vì xét cho cùng, những định kiến và
phân biệt đối xử của người này với người khác cũng chỉ nhằm
bảo vệ chính bản thân họ khỏi những hệ lụy mà họ cho rằng
sẽ gặp phải nếu như khơng phân biệt đối xử. Có nghĩa đó là
một phương thức phịng vệ mà nếu như có cơng cụ hỗ trợ họ
trong việc xác định đối tác không tiềm ẩn nguy cơ thì tự sẽ
khơng cịn phân biệt nữa.
Một vấn đề khác là nguy cơ phân biệt đối xử trong việc
xây dựng và ban hành chính sách để tạo thuận lợi cho các
nhóm nào đó thay vì thúc đẩy sự phát triển chung của cộng
đồng. Ranh giới giữa lợi ích nhóm và lợi ích cộng đồng rõ
ràng là mong manh, khó xác định nhưng hệ quả cũng rất khó
lường. Chẳng hạn, một chính sách thúc đẩy sản xuất, chế
biến thủy sản nước ngọt hay chính sách gia tăng xây dựng
336
PHÁP LUẬT TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP...
nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp hồn tồn có thể đẩy
nhóm sản xuất nơng nghiệp vào hồn cảnh bất lợi... Điều
muốn nói ở đây là, cuộc Cách mạng cơng nghiệp lần thứ tư có
thể sẽ khiến sự phân biệt đối xử khơng cịn dựa chủ yếu trên
các tiêu chí truyền thống như giới tính, độ tuổi,... mà sẽ
chuyển sang các hình thức khác khó nhận biết và dễ gây hậu
quả hơn đối với các nhóm.
Thứ hai là, quyền bình đẳng giữa các nhóm và trong xã hội
nói chung cũng sẽ có những thay đổi đáng kể, đặc biệt trước
nguy cơ gia tăng sự phân hóa giàu, nghèo trong xã hội khiến
cho cơ hội tiếp cận và thụ hưởng các quyền của các cá nhân hay
các nhóm sẽ trở nên khác nhau. Về vấn đề này có thể phân tích
trên hai khía cạnh chính: bình đẳng về pháp lý và bình đẳng
thực tế. Về cơ bản, pháp luật nhân quyền quốc tế yêu cầu các
quốc gia phải thể hiện nguyên tắc bình đẳng trong hệ thống
pháp luật nhưng thực tế không phải quốc gia nào cũng đã đạt
được. Ở một số nước, vị thế của người phụ nữ vẫn khác biệt rất
nhiều so với nam giới mà với lý do niềm tin tơn giáo, tín
ngưỡng, những hạn chế đó chắc chắn khơng thể được xóa bỏ
trong tương lai gần. Ngoài ra, kể cả ở những quốc gia đạt được
hệ thống pháp lý bảo đảm nguyên tắc bình đẳng nhưng việc
thực hiện trên thực tế lại chưa tốt, như Việt Nam. Ngay cả về
khía cạnh pháp lý, quyền bình đẳng cũng cần được hiểu dưới
hai dạng là bình đẳng về địa vị pháp lý (tức tư cách chủ thể
pháp lý) và bình đẳng về cơ hội được bảo vệ bởi pháp luật.
Dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp mới, khía
cạnh bình đẳng pháp lý giữa các nhóm sẽ có rất ít biến động
Chương III: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN...
337
mà chủ yếu thay đổi về bình đẳng thực tế. Ở đó, các nhóm chủ
thể khác nhau có khả năng thực hiện những hành vi áp đặt
lẫn nhau. Dễ thấy nhất là nguy cơ bất bình đẳng trong lao
động, khơng chỉ giữa nam và nữ mà cịn đối với nhóm lao động
trẻ em (hoặc chưa thành niên). Các phương thức sản xuất và
phân phối mới có thể khiến người lao động khơng cần trực tiếp
có mặt tại các cơng xưởng hay các địa điểm cơng cộng mà có
thể làm việc trực tuyến. Với xu hướng đó, lao động chưa thành
niên và lao động trẻ em hồn tồn có thể gia tăng vì nhu cầu
thu nhập thêm (hoặc thu nhập riêng) và có thể chi phí các nhà
tuyển dụng phải bỏ ra ít hơn. Nguy cơ thấy rõ là phạm vi các
ngành nghề có sự tham gia của nhóm này cũng sẽ trở nên khó
kiểm sốt, và các nhóm lao động này cũng có thể bị lạm dụng
sức lao động, hay khơng được bảo đảm các quyền lợi thuộc về
nghĩa vụ của người sử dụng lao động.
Thứ ba là, quyền phát triển của các nhóm. Đây vừa là
quyền của cá nhân nhưng cũng được coi là quyền của nhóm,
nhất là với những nhóm thiểu số hoặc các nhóm có ít cơ hội tiếp
cận với các hoạt động chung của xã hội, các lợi ích - tiến bộ của
khoa học, cơng nghệ. Cuộc cách mạng mới rõ ràng sẽ đáp ứng
được tốt hơn nhu cầu của con người nhưng chỉ với những ai có
khả năng tiếp cận, nắm bắt và làm chủ được cơng nghệ. Đây lại
là khó khăn đối với những nhóm thiểu số và một số nhóm khó
tiếp cận khác khiến họ có nguy cơ cao hơn bị bỏ lại trong tiến
trình phát triển chung. Trong Tuyên bố về quyền phát triển
của Liên hợp quốc năm 1986, một điều kiện quan trọng để được
hưởng và thúc đẩy quyền phát triển là mơi trường hịa bình,
khơng có chiến tranh hay các xung đột vũ trang. Trên thực tế,
338
PHÁP LUẬT TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CƠNG NGHIỆP...
vẫn có khơng ít các quốc gia dựa vào lợi thế về khoa học, cơng
nghệ, nhất là cơng nghệ vũ khí đã trực tiếp thực hiện hoặc còn
ủng hộ các hành động, biện pháp sử dụng vũ lực để giải quyết
các vấn đề trong quan hệ quốc tế. Đây rõ ràng không phải là
vấn đề của riêng một quốc gia nào mà cần sự hợp tác và nỗ lực
của toàn thể cộng đồng quốc tế, nhằm hạn chế những đầu tư
quá mức cho những nghiên cứu cải tiến các hệ thống vũ khí
cơng nghệ cao, vũ khí thơng minh, bởi bảo đảm quyền sống
trong hịa bình là điều kiện tiên quyết để có thể phát triển.
2. Cách mạng cơng nghiệp lần thứ tư và việc bảo
đảm quyền con người ở Việt Nam
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là diễn tiến tất yếu
của lịch sử và có ảnh hưởng đến tồn cầu, đặc biệt là các quốc
gia còn kém phát triển như Việt Nam do chưa có đủ nền tảng hạ
tầng cũng như năng lực tiếp cận. Theo ông Lê Xuân Công - Vụ
trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Thông tin và Truyền
thông) “Mức độ sẵn sàng của Việt Nam đối với cuộc Cách mạng
công nghiệp lần thứ tư ở mức trung bình thấp. Điều này thể
hiện qua 2 khía cạnh, các chỉ số và cơng nghệ. Bên cạnh đó,
nguồn nhân lực cơng nghệ ở Việt Nam về cơ bản vẫn chưa sẵn
sàng, chưa tương đương với ASEAN. Chúng ta cịn có một điểm
yếu nữa là năng suất lao động của Việt Nam còn thấp. Tuy
nhiên, ưu điểm của nước ta là mật độ thuê bao di động vượt xa
các nước có mức thu nhập tương đương trong khu vực ASEAN”1.
__________
1. Xem Cách mạng công nghiệp 4.0 và những vấn đề ở Việt Nam,
đăng ngày 13/7/2017.
Chương III: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN...
339
Qua đó có thể thấy, vấn đề cơ bản mà Việt Nam phải đối
mặt trước tiên cũng thuộc về lĩnh vực lao động với hệ thống
hạ tầng và chất lượng nguồn nhân lực là hai điểm mấu chốt.
Có thể lấy ví dụ về cuộc cạnh tranh giữa hệ thống vận tải sử
dụng nền tảng công nghệ (Grab, Bee, Gojek) với hệ thống vận
tải truyền thống ở Việt Nam trong thời gian gần đây đã cho
thấy những vấn đề rất đáng quan tâm như: lực lượng lao
động truyền thống chịu ảnh hưởng lớn tới cơ hội việc làm và
thu nhập; lực lượng nhân lực trẻ có khả năng nắm bắt cơ hội
nhanh chóng nhưng khơng đúng với trọng tâm mà dễ bị cuốn
theo những cơng việc gắn với lợi ích trước mắt1 mà chưa tập
trung phát triển nghề nghiệp có tính bền vững; trong khi đó,
hành lang pháp lý lại khơng theo kịp những diễn biến mới
khiến xảy ra nhiều xung đột cả giữa các chủ thể kinh doanh
dịch vụ và giữa những người lao động. Cũng từ ví dụ thực
tiễn này cho thấy các doanh nghiệp truyền thống khi đứng
trước sự cạnh tranh bởi các nhà cung cấp dịch vụ cùng loại
nhưng có sử dụng nền tảng cơng nghệ cũng đã phải tự tìm
cách thích ứng bằng việc dần thay đổi các hình thức cung cấp
dịch vụ (ví dụ sự xuất hiện mảng dịch vụ “xe ôm” công nghệ
của hãng Mai Linh) thay vì lặp lại phương pháp thường thấy
là kêu gọi, vận động tiêu dùng sản phẩm, hàng hóa nội địa.
__________
1. Báo cáo tại phiên họp toàn thể Ủy ban Kinh tế của Quốc hội ngày
ông Bùi Sỹ Lợi - Phó Chủ nhiệm thường trực Ủy ban Về các vấn đề xã hội
của Quốc hội cho biết, có 80% sinh viên, cử nhân ra trường hiện đang
chạy xe cho Uber, Grab. Xem: Báo mới: 80% tài xế xe ôm Grab, Uber là
sinh viên, cử nhân thất nghiệp, đăng ngày
19/10/2017.
340
PHÁP LUẬT TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CƠNG NGHIỆP...
Một ví dụ khác cũng cho thấy thực tế Việt Nam cũng đã
chịu những tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần
thứ tư. Theo dự báo của Tổ chức Lao động quốc tế, 86% người
lao động Việt Nam trong ngành dệt may - da giày và 3/4 lao
động trong ngành điện - điện tử có thể phải đối mặt với nguy
cơ mất việc làm cao do tự động hóa1. Ở nhiều cơng ty sản
xuất mỹ nghệ ở Bình Dương, 90% cơng nhân đã phải nghỉ
việc2. Trước những tác động thực tế to lớn, cuối năm 2020,
Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Chiến lược quốc gia về
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến năm 2030 (theo
Quyết định số 2289/QĐ-TTg ngày 31/12/2020). Tuy nhiên
Chiến lược này chủ yếu tập trung vào các mục tiêu phát triển
khoa học, công nghệ, kinh tế mà ít thể hiện các mục tiêu về
bảo đảm quyền con người trong bối cảnh Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư.
Như vậy có thể thấy, thực tiễn ở Việt Nam hiện nay đã có
sự bắt nhịp khá nhanh với địi hỏi của cuộc Cách mạng cơng
nghiệp nhưng chủ yếu vẫn là áp dụng những thành quả tự
động hóa của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ ba trong
sản xuất kinh doanh. Về mặt chính sách, các quan chức cao
cấp cũng vẫn khẳng định Việt Nam còn lúng túng trong việc
xác định hướng đi tiếp theo, hay các nội dung trọng điểm cần
__________
1. Xem Báo điện tử Nhịp cầu đầu tư: Cần làm gì trước nguy cơ mất
việc vì rơ bốt?, đăng ngày 29/3/2017.
2. Xem Báo điện tử Nhịp cầu đầu tư: Robot đang “đe dọa” con người
như thế nào?, đăng ngày 19/7/2017.
Chương III: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN...
341
tập trung để nắm bắt các cơ hội này. Hơn thế nữa, các cuộc
thảo luận hiện mới xoay quanh khía cạnh kinh tế với sự
tham gia chủ yếu của các doanh nghiệp mà những nhóm chủ
thể khác chưa được tạo điều kiện để tiếp cận phù hợp. Những
tuyên bố được nêu ra hiện nay cũng chủ yếu thể hiện xu
hướng cởi mở các chính sách về kinh doanh thương mại hay
đầu tư để phục vụ mục tiêu xây dựng nền “kinh tế số” mà
chưa có những dự báo, đánh giá liên quan đến những thay
đổi về giáo dục, những nguy cơ về môi trường, lương thực,
hay thách thức đối với việc bảo đảm các quyền cá nhân của
con người như quyền riêng tư, quyền tự do biểu đạt, trước
nguy cơ xâm phạm bởi nhà nước hoặc bên thứ ba, đối với việc
thực hiện các quyền và tự do cá nhân khác cũng như các
quyền của nhóm... Đây dù mới chỉ là những bước tiếp cận
ban đầu nhưng cơ bản cho thấy định hướng của Việt Nam
hiện nay đối với Cách mạng cơng nghiệp lần thứ tư cịn khá
hẹp, đồng thời phản ứng với những biến đổi xã hội xuất phát
từ thay đổi phương thức kinh doanh dịch vụ hàng hóa cũng
chưa bắt kịp với nhu cầu (thể hiện qua trường hợp của
Grab...). Tại một hội thảo tổ chức bởi Học viện Hành chính
quốc gia vào ngày 25/7/2017, nhiều đại biểu tham dự cũng
cho rằng “Nhà nước cần... có cơ chế, chính sách khuyến
khích, hỗ trợ các ngành cơng nghiệp nổi trội (chế tạo rơ bốt,
trí tuệ nhân tạo,...) và các doanh nghiệp có ứng dụng, đổi mới
cơng nghệ... tập trung tái cơ cấu hệ thống giáo dục, đào tạo
(trong đó có đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức) với sự tích hợp
các nội dung của cuộc Cách mạng cơng nghiệp lần thứ tư để
chuẩn bị lực lượng lao động chất lượng cao trong tương lai...
342
PHÁP LUẬT TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP...
Cùng với đó, cần nâng cấp nền tảng cơng nghệ quốc gia, đẩy
mạnh nỗ lực thiết lập các mơ hình quản trị hiện đại và xây
dựng môi trường quản trị kiến tạo phát triển”1.
Bên cạnh những thách thức nêu trên, Việt Nam cũng
phải đối mặt với một vấn đề lớn khác trong cuộc Cách mạng
cơng nghiệp lần thứ tư. Đó là việc bảo vệ quyền con người
trên không gian mạng - vốn phức tạp hơn nhiều so với môi
trường thực. Hơn nữa, khung pháp lý của Việt Nam về bảo
vệ các cá nhân, tổ chức khỏi những xâm phạm từ không gian
mạng còn khá hạn chế với một đạo luật về an ninh mạng,
một đạo luật về an tồn thơng tin. Trong khi đó, những vi
phạm pháp luật về lao động, giáo dục, sở hữu trí tuệ, bảo
hiểm, y tế,... trên khơng gian mạng cịn chưa bị kiểm sốt do
thiếu khung pháp lý.
3. Một số kinh nghiệm cho Việt Nam
Trước hết, Việt Nam cần chú trọng hơn đến các vấn đề cụ
thể và đa dạng thay vì chỉ đưa ra các kêu gọi hưởng ứng,
thúc đẩy phát triển nền kinh tế số trong bối cảnh cuộc Cách
mạng công nghiệp lần thứ tư. Những chú trọng này cần phải
xuất phát từ nhận thức rằng mọi tiến trình phát triển đều
phải hướng tới mục tiêu cuối cùng là bảo vệ con người và
nâng cao chất lượng sống của con người nói chung chứ khơng
dựa trên ưu tiên cho bất kỳ nhóm chủ thể nào dù rằng trong
đó, vẫn có thể xác định những nhóm chủ thể trọng tâm.
__________
1. Học viện Hành chính quốc gia: Hội thảo khoa học quốc tế: “Cuộc
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với Quản trị nhà nước”, http://www1.
napa.vn/blog/hoi-thao-khoa-hoc-quoc-te-cuoc-cach-mang-cong-nghieplan-thu-tu-voi-quan-tri-nha-nuoc.htm, đăng ngày 25/7/2017.
Chương III: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN...
343
Vấn đề thứ hai cần nhận thức rõ và sớm có biện pháp phù
hợp là xu hướng dịch chuyển phân công lao động. Trong bối
cảnh sản xuất cơng nghiệp có thể loại ra hàng loạt nhân lực
thì thế mạnh nơng nghiệp của Việt Nam cịn rất thiếu và yếu.
Do đó cần có chính sách chuyển dịch lực lượng lao động từ
khối các ngành công nghiệp sang khối nông nghiệp làm bước
đệm cho ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp. Hơn nữa,
sự dịch chuyển này cịn có ý nghĩa trước nguy cơ về suy giảm
an ninh lương thực hiện nay cũng như trong tương lai.
Về mặt pháp lý, Việt Nam cần có những bước tiến rõ ràng
hơn và nhanh nhạy hơn nhằm đáp ứng được khả năng điều
phối các quan hệ xã hội phát sinh mới khi ứng dụng thành quả
của các công nghệ mới, đặc biệt là các nền tảng trí tuệ nhân tạo
và khơng gian ảo. Mặc dù Hiến pháp năm 2013 cùng một số
đạo luật cơ bản mới được ban hành đã trở thành những công cụ
pháp lý vững chắc cho nhu cầu bảo đảm các quyền con người
của các cá nhân và các nhóm, nhưng q trình thực hiện cho
đến nay vẫn còn nhiều bất cập và chậm trễ khiến cho thách
thức đối với việc cải cách pháp luật trong thời kỳ cách mạng
công nghiệp mới là rất lớn do những biến đổi được tạo ra rất
nhanh kèm theo những hệ quả rất rộng và khó khắc phục. Nếu
chúng ta vẫn giữ phương thức xây dựng chính sách, pháp luật
với những quy trình phức tạp như hiện nay thì chắc chắn sẽ
khó khắc phục được các hệ quả. Trong đó, cần đặc biệt ưu tiên
cho việc hồn thiện thể chế pháp lý ứng phó với những khác
biệt trong bảo đảm các quyền con người trên không gian mạng.
Như vậy, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và
sẽ tiếp tục có ảnh hưởng trực tiếp, rõ ràng, triệt để đến nhiều
vấn đề về quyền con người như tư cách chủ thể quyền, mối
344
PHÁP LUẬT TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP...
liên hệ giữa các chủ thể quyền, thách thức những quyền con
người hiện có và thậm chí địi hỏi những quyền con người mới
phải được ghi nhận. Trong bối cảnh đó, khung chính sách
quốc gia của Việt Nam mới chỉ chú trọng đến những tác động
về khoa học, kỹ thuật, công nghệ, kinh tế của cuộc cách mạng
này mà chưa thực sự nhìn nhận trực tiếp về tác động của
cuộc cách mạng đối với một số vấn đề về quyền con người.
Thực tế này đòi hỏi Đảng, Nhà nước Việt Nam cần thay đổi
cách tiếp cận về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư nói chung
và về bảo đảm quyền con người nói riêng. Từ đó, hướng tới
xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật đáp ứng được nhu
cầu mới của việc bảo đảm các quyền con người.
II. QUẢN TRỊ NHÀ NƯỚC TRONG BỐI CẢNH
CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ
Năng lực quản trị nhà nước/quốc gia (Governance) tiếp
tục được nâng cao nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của xã
hội hiện đại, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư. Cuộc cách mạng này đã và đang tác động
đến các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam theo
chiều thuận hay chiều nghịch khác nhau tuỳ thuộc vào mức
độ sẵn sàng về nguồn nhân lực, về cơ sở pháp lý, về hạ tầng,
về quyết tâm của Chính phủ, trình độ dân trí, v.v.. Thực tiễn
này đặt ra những yêu cầu mới đối với nâng cao năng lực
quản trị nhà nước ở Việt Nam, chính vì thế, Đại hội XIII của
Đảng đã xác định nội dung của một trong các chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 10 năm giai đoạn 2021 - 2030 là “Đổi
mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả, nhất là
Chương III: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN...
345
quản lý phát triển và quản lý xã hội”1. Đây là quan điểm chỉ
đạo quan trọng của Đảng nhằm nâng cao năng lực quản trị
nhà nước đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia hiện nay.
Như vậy, cần làm rõ các nội dung sau: Quản trị nhà nước
trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư: thực tiễn
và những vấn đề đặt ra ở Việt Nam; Quan điểm, giải pháp
nâng cao năng lực quản trị nhà nước ở Việt Nam đáp ứng yêu
cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
1. Các yêu cầu đối với quản trị nhà nước trong bối
cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Có nhiều quan niệm, cách hiểu khác nhau về quản trị
nhà nước. Có quan điểm cho rằng, quản trị nhà nước là quá
trình ra quyết định và thực hiện quyết định dựa trên sự
tham gia, trao đổi giữa các chủ thể khác nhau (chính phủ,
khu vực cơng, khu vực tư và các tổ chức xã hội) nhằm mục
đích nâng cao chất lượng dịch vụ2. Hay quản trị nhà nước
được hiểu là sự thiết lập các quy tắc cho việc hình thành các
quyết định tập thể, mà các chủ thể bao gồm những tác nhân
hay những tổ chức và khơng có những hệ thống kiểm sốt
chính thức có thể sắp đặt có tính bắt buộc cho mối quan hệ
giữa các tác nhân và tổ chức đó3. Theo Mark Bevir, khái niệm
__________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XIII, Sđd, t.II, tr. 81.
2. PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Hải: “Cải cách hành chính theo mơ
hình quản trị nhà nước”, Tạp chí Quản lý nhà nước, 2014, số 223, tr. 7.
3. Vasudha Chhotray and Gerry Stoker: Governance Theory and
Practice: A Cross - Disciplinary Approach, Published by Palgrave Macmillan,
2009, pp. 3.