MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.......................................................................................................................1
NỘI DUNG...................................................................................................................1
I.
QUAN NIỆM CỦA V.I. LÊ –NIN VỀ HỆ TƯ TƯỞNG VÔ SẢN..................1
II. ĐẢNG NHÂN DÂN CÁCH MẠNG LÀO VẬN DỤNG PHÁT TRIỂN TƯ
TƯỞNG CỦA V.I. LÊ-NIN TRONG CÔNG CUỘC HIỆN NAY..........................9
1. Đảng Nhân dân Lào trong thời kì đấu tranh giải phóng dân tộc............10
2. Thành tựu của quá trình vận dụng hiện nay.............................................14
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC VẬN DỤNG
HỆ TƯ TƯỞNG VÔ SẢN.........................................................................................14
KẾT LUẬN.................................................................................................................18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................19
1
MỞ ĐẦU
Chun chính vơ sản là nội dung quan trọng trong di sản lý luận và thực tiễn
cách mạng của V.I. Lênin sau Cách mạng Tháng Mười. Đây là vấn đề cơ bản cần
giải quyết trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt ở những nước không
qua giai đoạn phát triển TBCN như Việt Nam. Tuy nhiên, trước đây do chúng ta
nhận thức chưa đầy đủ về vấn đề này nên vận dụng còn cực đoan, máy móc. Trong
tình hình mới hiện nay, cần tiếp tục nhận thức và vận dụng sáng tạo tư tưởng của
V.I. Lênin về chun chính vơ sản nhằm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, phát
huy dân chủ XHCN; thực hiện tốt liên minh công nông trên cơ sở đảm bảo lợi ích
của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội; phát triển lực lượng sản xuất, đổi mới cơ
chế quản lý nhằm tăng năng suất lao động. Để tìm hiểu kĩ hơn về vấn đề này tôi xin
chọn đề tài số 01: “Nội dung cơ bản của Hệ tư tưởng vô sản và sự vận dụng của
ĐNDCM Lào” để phân tích làm rõ vấn đề.
1
NỘI DUNG
I. QUAN NIỆM CỦA V.I. LÊ –NIN VỀ HỆ TƯ TƯỞNG VƠ SẢN
V.I. Lênin là học trị xuất sắc của C.Mác và Ph.Ăngghen, là lãnh tụ vĩ đại của
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Công lao to lớn của V.I. Lênin là tiếp
thu và phát triển sáng tạo những di sản lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen trong
điều kiện mới, đồng thời biến những di sản lý luận đó thành hiện thực cách mạng
XHCN ở nước Nga. Trong hệ thống lý luận đó, vấn đề chuyên chính vơ sản là một
trong những lý luận quan trọng nhất, nó được V.I. Lênin kế thừa, vận dụng và bổ
sung trong quá trình tổng kết thực tiễn cách mạng nước Nga. Nghiên cứu tư tưởng
của V.I. Lênin về chuyên chính vơ sản, có thể khái qt ở một số nội dung cơ bản
sau:
Một là, về tính tất yếu của chun chính vơ sản trong thời kỳ q độ. Sau
Cách mạng Tháng Mười, trên cơ sở phân tích đặc trưng kinh tế, chính trị của
thời kỳ quá độ ở nước Nga, V.I. Lênin đã nêu rõ quan điểm về tính tất yếu của
chun chính vơ sản.
Theo V.I. Lênin, cơ cấu kinh tế thời kỳ quá độ ở nước Nga Xô viết gồm 5
thành phần kinh tế, trong đó cịn: chủ nghĩa tư bản tư nhân và chủ nghĩa tư bản nhà
nước, tức là còn đối kháng giai cấp và đấu tranh giai cấp. Trong thời kỳ ấy, giai cấp
vô sản đã trở thành giai cấp thống trị, nắm chính quyền nhà nước, chi phối tư liệu
sản xuất chủ yếu, lãnh đạo các phần tử trung gian và giai cấp trung gian đang bấp
bênh chao đảo, trấn áp sự chống đối ngày càng quyết liệt của bọn bóc lột. Cịn giai
cấp bóc lột trong thời kỳ quá độ là giai cấp, về chính trị đã bị lật đổ, về kinh tế đã bị
tước đoạt tư liệu sản xuất chủ yếu. Chúng tuy “đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu
diệt... Chính vì chúng đã thất bại, nên sức phản kháng của chúng càng tăng lên, gấp
trăm, gấp nghìn lần. “Nghệ thuật” quản lý nhà nước, quân đội, kinh tế tạo cho
chúng một ưu thế rất và rất lớn, khiến cho tác dụng của chúng vô cùng to lớn hơn là
2
số lượng của chúng trong tồn thể dân số”. Cịn nông dân và những người tiểu tư
sản khác là người lao động lại là người tư hữu, địa vị kinh tế đó tất nhiên khiến cho
họ chao đảo giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản. Trên cơ sở phân tích như vậy,
V.I. Lênin đã chứng minh tính tất yếu của chun chính vơ sản trong thời kỳ quá
độ: “... chuyên chính của một giai cấp là tất yếu khơng những cho mọi xã hội có
giai cấp nói chung, không những cho giai cấp vô sản sau khi đã lật đổ giai cấp tư
sản, mà còn cho thời kỳ lịch sử từ chế độ tư bản chủ nghĩa đến “xã hội khơng có
giai cấp”, đến chế độ cộng sản chủ nghĩa”. Trong lời tựa tác phẩm: Người ta bịp
nhân dân bằng những khẩu hiệu tự do và bình đẳng, V.I. Lênin nói rõ thêm, chun
chính là tất yếu trong xã hội cịn tồn tại giai cấp. Chun chính vô sản là cuộc đấu
tranh giai cấp của giai cấp vô sản đã giành được thắng lợi, đã giành được chính
quyền chống lại giai cấp tư sản đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hoàn toàn.
Thực tiễn lịch sử xã hội loài người cũng đã chứng minh, mọi xã hội còn sự
phân chia giai cấp là còn tồn tại chuyên chính. Ở các nước TBCN hiện nay, mặc dù
tiềm lực kinh tế, chính trị của họ rất lớn, nhưng họ vẫn luôn thực hiện và thường
xuyên tăng cường chun chính của mình. Chẳng hạn, cùng với những thể chế dân
chủ vốn có, những thích nghi của nhà nước tư sản đã tạo cho nó một bộ mặt dân
chủ hơn, đỡ tàn bạo và hà khắc hơn so với mấy thập kỷ trước. Nếu vào những năm
1950 - 1960 và những năm đầu của thập kỷ 70, các nhà nước tư sản sẵn sàng đối
phó bằng bạo lực đối với phong trào giải phóng dân tộc (Cơng-gơ 1963), phong
trào dân chủ và XHCN (Chilê 1973) thì ngày nay, nhà nước tư sản cố tránh tình
trạng sử dụng bạo lực trực tiếp như vậy. Bên cạnh đó, các chương trình viện trợ
phát triển, viện trợ nhân đạo đã mang lại khơng ít những nét tiến bộ cho nhà nước
tư sản, kể cả dưới góc độ chính trị, kinh tế lẫn góc độ tâm lý, xã hội. Nhà nước tư
sản cũng đã thay đổi nhiều do áp lực của các phong trào dân chủ và độc lập dân
tộc. Tuy nhiên, nhà nước tư sản bao giờ cũng là công cụ để duy trì sự thống trị và
bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản, chống lại giai cấp vô sản và các tầng lớp nhân
3
dân lao động khác. Như V.I.Lênin đã từng khẳng định: “Những hình thức của nhà
nước tư sản thì hết sức khác nhau nhưng thực chất chỉ là một. Chung quy lại thì tất
cả những nhà nước ấy, vơ luận thế nào cũng tất nhiên phải là nền chuyên chính tư
sản”. Thực tế những năm gần đây chứng minh điều này, khi chính phủ các nước tư
bản đua nhau tăng chi phí cho quân đội, cho nền chuyên chính tư sản. Chẳng hạn,
chính quyền của Tổng thống Mỹ G.W.Busơ liên tục tăng ngân sách quốc phịng
(năm 2008, chi phí qn sự của Mỹ khoảng 716,5 tỷ USD, chiếm 1/2 chi phí quân
sự của toàn thế giới). Các nước Pháp, Đức, Nhật Bản... cũng nằm trong nhóm nước
có chi phí cho qn đội lớn nhất từ trước đến nay. Việc tăng chi phí cho qn đội
với mục đích gì? nếu khơng phải là tập trung cho chun chính tư sản? Điều đó cho
thấy, tồn tại chuyên chính trong nhà nước là tất yếu và việc tồn tại chun chính vơ
sản trong thời kỳ quá độ lên CNXH là một tất yếu khách quan.
Tuy nhiên, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, V.I. Lênin đã khẳng định: Xơ
viết là hình thức tốt nhất của chun chính vơ sản ở nước Nga. Đồng thời, Người
cũng nhắc nhở rằng, mỗi một dân tộc khi trải qua chế độ XHCN sẽ sáng tạo ra
những hình thức tổ chức nhà nước chun chính vơ sản thích hợp với đặc điểm của
dân tộc mình, “Vì nước ta là một nước tiểu tư sản và rất lạc hậu, cho nên nền
chun chính vơ sản ở Nga tất nhiên phải có một số đặc điểm khác với các nước
tiên tiến”. Do đó, việc tồn tại các hình thức chun chính vơ sản của mỗi dân tộc
khơng thể hồn tồn giống nhau. Những người cộng sản các nước phương Đông
không nên sao chép một cách máy móc kinh nghiệm của nước Nga mà phải nắm
vững đặc điểm của dân tộc mình để xác định hình thức cụ thể của cách mạng và
chính quyền nước mình.
Hai là, về thực chất và nhiệm vụ của chun chính vơ sản
Trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, V.I. Lênin lại có những định nghĩa
khác nhau về chun chính vơ sản. Do vậy, muốn nắm chính xác thực chất tư
tưởng của V.I. Lênin về chun chính vơ sản, khơng thể thốt ly hồn cảnh lịch sử
4
lúc bấy giờ, nếu khơng sẽ hiểu về chun chính vơ sản phiến diện, thậm chí có thể
làm cho tư tưởng chun chính vơ sản của V.I. Lênin tự mâu thuẫn nhau, trái
ngược nhau.
Những năm đầu Cách mạng Tháng Mười, V.I. Lênin đặc biệt nhấn mạnh tính
chất và chức năng trấn áp bằng bạo lực của chun chính vơ sản: “Chuyên chính là
một chính quyền dựa trực tiếp vào bạo lực và không bị một luật pháp nào hạn chế
cả”. V.I. Lênin khẳng định: “Chun chính vơ sản là một thuật ngữ khoa học quy
định giai cấp nào là giai cấp có tác dụng quyết định về mặt này, cũng như quy định
hình thức đặc thù của chính quyền nhà nước được gọi là chuyên chính, tức là: một
chính quyền không dựa vào luật pháp, không dựa vào các cuộc bầu cử, mà trực tiếp
dựa vào lực lượng vũ trang của bộ phận này hay bộ phận khác trong dân chúng. Ý
nghĩa và tác dụng của chun chính vơ sản là ở chỗ nào? Chính là ở chỗ đập tan sự
phản kháng của bọn tư bản!”. Cần nhấn mạnh chức năng bạo lực trong giai đoạn
này vì giai cấp bóc lột tuy đã bị lật đổ nhưng luôn nuôi hy vọng trở lại cầm quyền
và muốn biến hy vọng đó thành hoạt động lật đổ. Hơn nữa, khi một xã hội mới hình
thành, bên cạnh những nhân tố mới, tiến bộ, thì những tàn dư lạc hậu của xã hội cũ,
những phần tử hủ bại... vẫn chưa mất đi hẳn, chúng ẩn dật, chờ thời cơ để thực hiện
những hoạt động chống phá chính quyền cách mạng. Do đó, để bảo vệ chính quyền
Xơ viết non trẻ thì cần thực hiện chun chính vơ sản, thậm chí nếu cần thiết thì
phải có bàn tay sắt.
Sau này, trước sự cơng kích của bọn Cauxky và giai cấp tư sản coi chuyên
chính vơ sản và Chính quyền Xơ viết chỉ thuần túy là bạo lực, V.I. Lênin đã chỉ rõ,
thực chất của “Chun chính khơng phải chỉ có nghĩa là bạo lực” mà “chun
chính của giai cấp vơ sản nhất thiết phải đưa đến chỗ khơng những thay đổi hình
thức và những thiết chế dân chủ nói chung, mà chính là phải thay đổi chúng thế nào
để mở rộng nền dân chủ đến một mức độ chưa từng có trên thế giới cho những giai
cấp lao động bị chủ nghĩa tư bản áp bức”. Khẳng định điều này, V.I. Lênin đã cho
5
chúng ta thấy, trong cách mạng vô sản và sau Cách mạng Tháng Muời, do đất nước
còn nhiều các thế lực chống đối, phản động thì tất yếu phải sử dụng bạo lực. Nhưng
sau khi cách mạng đã thành công và đất nước dần đi vào ổn định thì thực hiện
chun chính vơ sản khơng chỉ là dùng bạo lực, không chỉ là sử dụng công cụ quân
đội, cảnh sát để trấn áp các thế lực phản động, mà quan trọng hơn là xây dựng
chính quyền, mở rộng dân chủ cho nhân dân lao động. Nói cách khác, chun chính
vơ sản trong thời kỳ quá độ là xây dựng chính quyền nhà nước dân chủ kiểu mới,
dân chủ thực chất hơn, tiến bộ hơn chính quyền chuyên chính tư sản, như V.I.
Lênin viết: “... nhà nước trong thời kỳ đó tất nhiên phải là một nhà nước dân chủ
kiểu mới (dân chủ đối với những người vơ sản và nói chung những người khơng có
của), và chun chính kiểu mới (chống giai cấp tư sản)”.
Trong khi phê phán Cauxky tán dương dân chủ tư sản, V.I. Lênin cho rằng,
dân chủ tư sản tuy là một bước tiến bộ lớn trong lịch sử so với chế độ phong kiến
thời trung cổ, nhưng dưới chế độ TBCN, nó ln ln là một thứ dân chủ hẹp hịi,
giả dối, lừa bịp; nó là thiên đường đối với người giàu, nhưng là cạm bẫy và sự bịp
bợm đối với người nghèo. Cịn chính quyền Xơ viết là một hình thức của dân chủ
vơ sản, “Chế độ dân chủ vô sản so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào, cũng dân
chủ hơn gấp triệu lần; Chính quyền Xơ viết so với nước cộng hịa tư sản dân chủ
nhất thì cũng dân chủ hơn gấp triệu lần”.
Mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp trong nước dần dần đi đến hịa dịu,
chính quyền Xô viết quyết định chuyển trọng tâm trấn áp, bạo lực của chun
chính vơ sản sang cải tạo xã hội và xây dựng kinh tế. Vì vậy, nội dung của chun
chính vơ sản cũng dần thay đổi. Thực chất của chun chính vơ sản trong giai đoạn
này là xóa bỏ chế độ tư hữu, xây dựng chế độ công hữu XHCN nhằm tăng năng
suất lao động, cải thiện đời sống của nhân dân, ổn định xã hội. Nhiệm vụ căn bản
mà chun chính vơ sản phải hồn thành, là cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng
quan hệ sản xuất mới XHCN: “Chun chính vơ sản... khơng phải chỉ là bạo lực
6
đối với bọn bóc lột, và cũng khơng phải chủ yếu là bạo lực. Cơ sở kinh tế của bạo
lực đó, cái bảo đảm sức sống và thắng lợi của nó chính là việc giai cấp vơ sản đưa
ra và thực hiện được kiểu tổ chức lao động xã hội cao hơn so với chủ nghĩa tư bản.
Đấy là thực chất của vấn đề. Đấy là nguồn sức mạnh, là điều bảo đảm cho thắng lợi
hoàn toàn và tất nhiên của chủ nghĩa cộng sản”.
Theo V.I. Lênin, CNXH được xây dựng trên cơ sở nền sản xuất lớn xã hội
hóa và lại phải phát triển sức sản xuất xã hội lên mức độ cao nhất. Điều này quyết
định chuyên chính vô sản không thể không coi việc tạo ra một năng suất lao động
cao, có tính tổ chức và tính kỷ luật cao. Đặc biệt ở nước Nga, một nước TBCN
chưa phát triển, lực lượng sản xuất tương đối lạc hậu, sức mạnh của thói quen sản
xuất nhỏ có ảnh hưởng rất lớn lại càng cần phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và
xây dựng quan hệ sản xuất XHCN phù hợp. Vì thế, sau khi Chính quyền Xơ viết
được củng cố thì việc phát triển sức sản xuất, nâng cao năng suất lao động, xây
dựng và tăng cường tính tổ chức, tính kỷ luật trở thành nhiệm vụ bức thiết. V.I.
Lênin chỉ rõ: “chun chính vơ sản hồn tồn khơng phải chỉ là lật đổ giai cấp tư
sản hay địa chủ, - công việc ấy đã được thực hiện trong tất cả các cuộc cách mạng,
- nền chuyên chính vơ sản của chúng ta là ở chỗ bảo đảm trật tự, kỷ luật, năng suất
lao động, sự kiểm kê và kiểm sốt, bảo đảm Chính quyền xơ-viết vơ sản, một chính
quyền vững chắc hơn, cứng rắn hơn chính quyền trước kia”. Theo V.I. Lênin,
nhiệm vụ trấn áp sự phản kháng của địa chủ và giai cấp tư sản tương đối dễ, bởi đối
với giai cấp vô sản và nhân dân lao động thì chống lại kẻ thù truyền kiếp đã bóc lột
áp bức họ là điều dễ hiểu. Điều này đã được thực tiễn sau Cách mạng Tháng Mười
thực hiện rồi. Nhưng việc hoàn thành nhiệm vụ tổ chức kinh tế, xây dựng quan hệ
kinh tế XHCN thì khó khăn hơn nhiều cả về thời gian và cơng sức. Trong hai
nhiệm vụ đó, nhiệm vụ thứ nhất tương đối nổi bật trong thời kỳ mới giành được
chính quyền, cịn khi chính quyền của giai cấp vơ sản được củng cố thì nhiệm vụ
thứ hai sẽ trở thành nhiệm vụ chủ yếu trong thời kỳ quá độ.
7
Ba là, về liên minh công nông trong nhà nước chun chính vơ sản
Ở Nga, giai cấp vơ sản chỉ là thiểu số, nông dân chiếm đại đa số trong dân
cư. Trước tình hình đó, xây dựng và duy trì khối liên minh cơng nơng là một nhiệm
vụ có ý nghĩa chiến lược của chun chính vơ sản. Theo V.I. Lênin, liên minh cơng
nơng có vững chắc hay khơng sẽ quyết định sự sống cịn của nhà nước chun
chính vơ sản. Người chỉ rõ: “chừng nào cách mạng chưa nổ ra ở các nước khác, thì
chỉ có thỏa thuận với nơng dân mới có thể cứu vãn được cuộc cách mạng xã hội
chủ nghĩa ở Nga”. Liên minh công nông là lực lượng chính, là trụ cột của Chính
quyền Xơ viết. Liên minh này sẽ đảm bảo cho Chính quyền Xơ viết hồn thành
nhiệm vụ cải tạo XHCN. Do đó, trong hồn cảnh nước Nga, “Chun chính vơ sản
là một hình thức đặc biệt của liên minh giai cấp giữa giai cấp vô sản, đội tiền phong
của những người lao động, với đông đảo những tầng lớp lao động không phải vơ
sản (tiểu tư sản, tiểu chủ, nơng dân, trí thức, .v.v.), hoặc với phần lớn những tầng
lớp đó, liên minh nhằm chống lại tư bản...”. Điều đó cho thấy, ngun tắc cao nhất
của chun chính vơ sản là giữ vững liên minh với giai cấp nông dân, giúp cho cho
giai cấp vơ sản có thể giữ vững quyền lãnh đạo và chính quyền nhà nước.
Qua tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của liên minh công nông, V.I. Lênin cho
rằng, cơ sở để thực hiện liên minh trong thời kỳ quá độ là kinh tế. Trong thời kỳ nội
chiến, sự hình thành bước đầu của liên minh cơng nơng là liên minh qn sự để bảo
vệ Chính quyền Xơ viết. Nhưng như thế chưa đủ, liên minh quân sự không thể
khơng kèm theo liên minh kinh tế. Khơng có cơ sở kinh tế, thì khơng thể tiếp tục
duy trì liên minh giữa giai cấp vô sản với nông dân cũng như các tầng lớp khác
trong xã hội. V.I. Lênin khẳng định: “trong thời kỳ quá độ này, trong một nước mà
nông dân chiếm đa số, chúng ta phải biết chuyển sang những biện pháp nhằm đảm
bảo những yêu cầu của nông dân về mặt kinh tế, biết tiến hành đến mức tối đa
những biện pháp để cải thiện tình cảnh kinh tế của nông dân”. Bởi, chỉ trên cơ sở
lợi ích kinh tế và tập quán của nông dân, mới nhận được sự ủng hộ từ nông dân và
8
bảo đảm được sự lãnh đạo của giai cấp vô sản đối với nông dân, dẫn dắt nông dân
đi theo con đường XHCN. Qua nhiều lần tìm tịi, khảo nghiệm, V.I. Lênin đã chọn
được con đường đúng đắn để xây dựng liên minh cơng nơng, đó chính là thực hiện
Chính sách kinh tế mới. Tất cả những điều đó cho thấy, cơ sở của liên minh chính
là lợi ích kinh tế, đây là mối liên hệ biện chứng, thống nhất với nhau, xét đến cùng
kinh tế ln quyết định chính trị. Khơng thể dùng bạo lực, sức mạnh hành chính
mệnh lệnh để giải quyết vấn đề liên minh giai cấp.
Bốn là, về Đảng Cộng sản trong chun chính vơ sản
Theo V.I. Lênin, Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo chun chính vơ sản.
Vì: “chỉ có một giai cấp nhất định - chính là cơng nhân thành thị và, nói chung,
công nhân nhà máy, công nhân công nghiệp - mới có khả năng lãnh đạo được tồn
thể quần chúng lao động và những người bị bóc lột trong cuộc đấu tranh để lật đổ
ách tư bản”. Hơn nữa, quần chúng lao động khơng phải vơ sản có tính chất hai mặt,
vừa là người lao động, lại vừa là người tư hữu. Mặc dù họ bị CNTB bóc lột cịn
nặng nề hơn cả giai cấp vô sản, nhưng họ không thể tự tiến hành đấu tranh để giải
phóng mình. Địa vị kinh tế của họ và sự trói buộc của truyền thống tư hữu làm cho
họ dễ nghiêng ngả, không thể thoát khỏi sự chi phối của tư tưởng tư sản. Nếu
khơng có sự lãnh đạo của giai cấp vơ sản, họ sẽ lùi bước, ngả theo giai cấp tư sản.
Vì vậy, V.I. Lênin nhấn mạnh chun chính vơ sản là chính quyền của một giai
cấp, là chính quyền độc quyền của giai cấp vô sản, phải do giai cấp vô sản lãnh
đạo.
V.I. Lênin cịn chỉ rõ, sự chun chính của giai cấp vơ sản khơng thể do tồn
bộ giai cấp đó thực hiện, chỉ có Đảng Cộng sản, đội tiên phong của giai cấp có khả
năng tập hợp lực lượng cách mạng mới có thể thực hiện được sự chuyên chính đó.
Bởi “Chỉ có đội tiên phong ấy mới có thể chống lại nổi những dao động tiểu tư sản
không thể tránh khỏi những quần chúng đó, chống lại nổi những truyền thống và
những sự tái phạm không thể tránh khỏi những bệnh hẹp hòi phường hội hoặc của
9
những thiên kiến phường hội trong giai cấp vô sản và lãnh đạo tất cả những hành
động liên hợp của tồn bộ giai cấp vơ sản, tức là lãnh đạo giai cấp đó về mặt chính
trị, và thơng qua giai cấp đó mà lãnh đạo tất cả quần chúng lao động. Nếu khơng
thế, thì khơng thể thực hiện chun chính vơ sản được”. Do đó, Đảng là lực lượng
lãnh đạo cao nhất của chun chính vơ sản, lãnh đạo tồn bộ cơng tác chính trị,
kinh tế của đất nước. Sau này, trước tình trạng khơng phân biệt Đảng với chính
quyền, Đảng làm thay chính quyền, V.I. Lênin đã chỉ rõ nhiệm vụ của Đảng, là
“lãnh đạo chung công tác của tất cả các cơ quan nhà nước gộp chung lại, mà khơng
can thiệp một cách q thường xun, khơng chính quy và thường là nhỏ nhặt, như
hiện nay”. Luận chứng của V.I. Lênin về lực lượng lãnh đạo và phương thức lãnh
đạo của chun chính vơ sản là một đóng góp mới cho lý luận chun chính vơ sản
của chủ nghĩa Mác.
II. ĐẢNG NHÂN DÂN CÁCH MẠNG LÀO VẬN DỤNG PHÁT
TRIỂN TƯ TƯỞNG CỦA V.I. LÊ-NIN TRONG CÔNG CUỘC HIỆN NAY
1. Đảng Nhân dân Lào trong thời kì đấu tranh giải phóng dân tộc
Sau thất bại tại Điện Biên Phủ (7-5-1954), khơng cịn con đường nào khác,
ngày 21-7-1954, thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ - cam kết tôn trọng
độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương. Đối
với Lào, “Pathét Lào là lực lượng chính trị độc lập, hợp pháp, có qn đội, có vùng
tập kết là tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Phong Xa Lỳ...”. Tuy nhiên, cuộc sống hịa bình
mà nhân dân các bộ tộc Lào được hưởng thật ngắn ngủi. Ngay sau khi thực dân
Pháp thất bại tại Đông Dương, đế quốc Mỹ đã nhanh chóng thế chân Pháp nhảy
vào xâm lược khu vực này bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới, tiến hành những
chiến lược chiến tranh tàn bạo nhất trong lịch sử lồi người. Nhân dân Đơng Dương
nói chung và nhân dân các bộ tộc Lào nói riêng từ đây đứng trước nhiều khó khăn,
thử thách, phải tiến hành cuộc chiến tranh chống lại một đội quân xâm lược có tiềm
lực kinh tế và quân sự mạnh nhất lúc bấy giờ.
10
Là một dân tộc có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, ngay khi đế
quốc Mỹ tiến hành chiến tranh xâm lược Lào, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Đông Dương, nhân dân các bộ tộc Lào đã kiên cường đấu tranh vì sự sinh tồn của
dân tộc. Nhưng trước sức mạnh quân sự vượt trội của địch, cuộc đấu tranh chống
xâm lược của nhân dân Lào và nhân dân ba nước Đông Dương gặp muôn vàn trở
ngại. Trước yêu cầu mới của cách mạng, nhằm lãnh đạo nhân dân các bộ tộc Lào
tiến lên giành thắng lợi cuối cùng, đòi hỏi khách quan của lịch sử lúc bấy giờ là
phải thành lập một Đảng riêng của dân tộc Lào để lãnh đạo cuộc đấu tranh của
nhân dân Lào. Trên tinh thần đó, thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ II của Đảng
Cộng sản Đông Dương, các đảng viên cộng sản Lào sau một thời gian chuẩn bị đã
tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc để thành lập đảng cách mạng của mình.
Đại hội họp từ ngày 22-3 đến ngày 6-4-1955 tại tỉnh Hủa Phăn với sự tham
dự của 20 đại biểu chính thức, thay mặt cho gần 400 đảng viên trong cả nước. Đại
hội đã thơng qua báo cáo về xây dựng Đảng, nhất trí lấy tên Đảng là Đảng Nhân
dân Lào; thông qua các chính sách cơ bản, cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng và
bầu đồng chí Cay-xỏn Phơm-vi-hản là Tổng Bí thư. Sự kiện này “đánh dấu bước
phát triển mới và bước ngoặt hết sức quan trọng trong lịch sử cách mạng Lào”.
Ra đời trong điều kiện chiến tranh vô cùng ác liệt là một thử thách không
nhỏ đối với Đảng Nhân dân Lào. Nhưng “lửa thử vàng, gian nan thử sức”, trong
gian khổ khó khăn, bản lĩnh của Đảng Nhân dân Lào lại được khẳng định hơn bao
giờ hết. Dưới sự lãnh đạo của tập thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng đứng đầu là
đồng chí Tổng Bí thư Cay-xỏn Phơm-vi-hản, nhân dân Lào đã tiến hành đấu tranh
đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, bảo vệ hai tỉnh tập kết và phát triển lực lượng
cách mạng trong thời kỳ mới. Tháng 8-1955, Ban chỉ đạo Trung ương Đảng Nhân
dân Lào ra Nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ mới, chủ trương: “Động viên toàn
dân kết hợp nổi dậy đấu tranh đánh bại bọn xâm lược Mỹ và tay sai làm cho nước
Lào trở thành nước hịa bình, trung lập, độc lập, dân chủ, thống nhất và thịnh
11
vượng, đưa cách mạng Lào tiến lên một cách vững chắc”. Dưới ánh sáng của Nghị
quyết Đảng Nhân dân Lào, toàn thể dân tộc Lào đã đoàn kết, sát cánh cùng nhau
đấu tranh chống đế quốc xâm lược và bè lũ tay sai của chúng. Kết quả là đến năm
1957, Chính phủ Liên hiệp được thành lập.
Song song với việc lãnh đạo nhân dân các bộ tộc Lào tiến hành cuộc cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trong những năm này, công tác xây dựng Đảng
cũng luôn được Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Lào quan tâm. Với
chủ trương tập trung sức mạnh toàn dân cho cuộc kháng chiến, Đảng Nhân dân Lào
đã lựa chọn những phần tử ưu tú nhất trong các tổ chức quần chúng tổ chức kết nạp
vào Đảng. Tất cả đảng viên đứng trong hàng ngũ của Đảng luôn trung thành tuyệt
đối với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, hết mình phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng
của dân tộc, vì cuộc sống tự do, yên bình của nhân dân. Từ chủ trương đúng đắn
mà Đảng Nhân dân Lào đề ra, tính đến cuối năm 1957, số đảng viên của Đảng
Nhân dân Lào là 1.500 đồng chí, sinh hoạt trong 578 chi bộ, trong đó có 510 chi bộ
ở nơng thơn. Hệ thống tổ chức của Đảng hình thành ở khắp 12 tỉnh trong cả
nước. Ở mọi nơi, đảng viên luôn là những lá cờ đầu trong mọi công việc, là những
tấm gương điển hình trong nhiệm vụ đấu tranh với địch, giữ đất, giành dân, đưa
phong trào cách mạng ở các địa phương khơng ngừng phát triển, dần hịa nhịp vào
dịng chảy chung của cách mạng cả nước.
Do phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân, tranh thủ được sự ủng
hộ, giúp đỡ của bè bạn quốc tế, đặc biệt là của nhân dân Việt Nam, Đảng Nhân dân
Lào đã đưa cách mạng Lào tiến lên một cách vững chắc. Chiến thắng trong các
chiến dịch giải phóng Sầm Nưa (tháng 9-1960), Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng
(tháng 1-1961), Nậm Thà (năm 1962), đường số 8, đường số 12 (năm 1963), Nậm
Bạc (năm 1968), Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng (năm 1964, 1969, 1970, 1972),
Đường 9 - Nam Lào (năm 1971) v.v.. là những minh chứng sống động nhất về
đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng Nhân dân Lào trong sự nghiệp kháng chiến
12
chống Mỹ của nhân dân các bộ tộc Lào. Với những thắng lợi vang dội này, chiến
lược “Chiến tranh đặc biệt” và chiến lược “Chiến tranh đặc biệt tăng cường” của
Mỹ ở Lào đã bị phá sản hoàn toàn. Đây là những mốc lịch sử quan trọng đánh dấu
sự phát triển vượt bậc của cách mạng Lào và đó cũng là sự cáo chung về sự thất bại
của cuộc chiến tranh phi nghĩa mà đế quốc Mỹ gây ra đối với nhân dân Lào.
Giữa lúc cuộc đấu tranh của nhân dân các bộ tộc Lào liên tiếp giành những
thắng lợi quan trọng, thì một sự kiện có ý nghĩa chính trị đặc biệt đã diễn ra, đó là
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng Nhân dân Lào. Ngày 3-2-1972, Đại
hội khai mạc tại Viêng Xay (Hủa Phăn). Tham dự Đại hội có 125 đại biểu thay mặt
cho 2 vạn đảng viên trong cả nước. Đại hội đã quyết định đổi tên Đảng Nhân dân
Lào thành Đảng Nhân dân cách mạng Lào; đã thông qua Điều lệ Đảng sửa đổi; bầu
Ban Chấp hành Trung ương Khóa II của Đảng gồm 23 ủy viên chính thức và 6 ủy
viên dự khuyết, đồng chí Cay-xỏn Phơm-vi-hản tiếp tục được bầu làm Tổng Bí thư.
Đại hội II đánh dấu bước phát triển, trưởng thành của Đảng Nhân dân cách mạng
Lào trong việc xây dựng đảng Mác - Lê-nin kiểu mới. “Đại hội nói lên quyết tâm
hồn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, chuẩn bị mọi điều
kiện cần thiết để tiến lên chủ nghĩa xã hội”.
Đại hội II của Đảng Nhân dân cách mạng Lào diễn ra đúng vào lúc cuộc
kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ba nước Đơng Dương nói chung và nhân dân
các bộ tộc Lào nói riêng bước vào giai đoạn cuối. Thành công của Đại hội đã cổ vũ
mạnh mẽ nhân dân ba nước Đông Dương tiến lên giành những thắng lợi cuối cùng.
Đối với cách mạng Lào, triển khai Nghị quyết Đại hội, toàn thể nhân dân Lào trên
dưới một lịng đồn kết bên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, kiên quyết đứng lên
đấu tranh mạnh mẽ, trực diện với địch. Trong năm 1972, quân dân Hạ Lào đã liên
tiếp đánh bại cuộc hành quân “Xỏn Xây”, “Phạ Ngừm” và “Xỉng Đâm” của địch.
Từ ngày 10-8 đến 15-11-1972, quân dân Thượng Lào đánh bại hai đợt tấn công của
hàng chục tiểu đồn bộ binh được khơng lực Hoa Kỳ yểm trợ vào khu vực Cánh
13
đồng Chum - Xiêng Khoảng v.v.. Thắng lợi của nhân dân Lào cùng với thắng lợi
của nhân dân Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (tháng 121972), đã đẩy Mỹ phải phá thế đường cùng, buộc phải ký Hiệp định Pa-ri (tháng 11973) về Việt Nam và Hiệp định Viêng Chăn (tháng 2-1973) về Lào. Mùa xuân
1975, sau thắng lợi của cách mạng Cam-pu-chia và Việt Nam, Đảng Nhân dân cách
mạng Lào đã lãnh đạo toàn dân đấu tranh giành chính quyền bằng ba địn chiến
lược và mũi đấu tranh pháp lý, kết quả đã giành được thắng lợi trọn vẹn. Từ ngày 1
đến 2-2-1975, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Lào diễn ra tại thủ đơ Viêngchăn. Đại hội chấp nhận việc thối vị của nhà vua, quyết định giải thể Chính phủ
liên hiệp lâm thời và Hội đồng quốc gia chính trị liên hiệp, tuyên bố xóa bỏ chế độ
quân chủ, thành lập chế độ cộng hòa dân chủ nhân dân, quy định quốc huy, quốc
kỳ, quốc ca và ngơn ngữ chính thức; quyết định thành lập Hội đồng Nhân dân Tối
cao và Chính phủ Cộng hịa dân chủ nhân dân Lào. Đồng chí Xu-pha-nu-vơng
được bầu làm Chủ tịch nước kiêm Chủ tịch Hội Đồng Nhân dân Tối cao. Đồng chí
Cay-xỏn Phơm-vi-hản được bầu làm Thủ tướng nước Cộng hòa dân chủ nhân dân
(CHDCND) Lào. Đất nước Lào bước sang một giai đoạn mới. Đảng Nhân dân cách
mạng Lào đã hoàn thành sứ mệnh vơ cùng khó khăn gian khổ nhưng cũng đầy vinh
quang của mình, đó là lãnh đạo tồn thể dân tộc Lào thực hiện thắng lợi cuộc cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
2. Thành tựu của quá trình vận dụng hiện nay
65 năm qua, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào,
nhân dân Lào anh em đã vượt qua mn vàn khó khăn, thử thách, giành được
những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân
tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đặc biệt, sau 35 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Nhân dân Cách
mạng Lào khởi xướng và lãnh đạo, nhân dân Lào anh em đã giành được những
thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử: chính trị-xã hội ổn định, kinh tế tăng
14
trưởng liên tục, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện; quốc phòng-an
ninh được giữ vững, quan hệ đối ngoại được mở rộng, vai trò và vị thế của Đảng
Nhân dân Cách mạng Lào và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ngày càng
được nâng cao trên trường quốc tế.
Những thành tựu của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào khơng chỉ có ý nghĩa
sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Lào mà còn là
nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trong
công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC VẬN
DỤNG HỆ TƯ TƯỞNG VƠ SẢN
Nâng cao trình độ lý luận Mác – Lê nin, trình độ nắm vững đường lối
chính sách cho cán bộ, đảng viên.
Nhiệm vụ cách mạng rất nặng nề và phức tạp, nhưng trình độ lý luận và
chính trị của cán bộ,đảng viên chưa thật sự đáp ứng được u cầu. Chính vì vậy, có
nơi, có lúc nảy sinh những quan điểm, tư tưởng khơng phù hợp với đường lối,
chính sách của Đảng. Điều đó đã cản trở bước tiến của cách mạng va ảnh hưởng tới
việc nâng cao tính giai cấp, tính tiên phong của Đảng.
Nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viên trước hết là bộ phận cán bộ
lãnh đạo chủ chốt, là vấn đề hết sức quan trọng. Đội ngũ cán bộ này nắm được chủ
nghĩa Mác - Lê nin và biến vận dụng sáng tạo vào thực tiễn sẽ góp phần quan trọng
vào sự nghiệp cách mạng của Đảng.
Phải làm cho các bộ, đảng viên nắm vững những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác - Lê nin, hiểu rõ thực chất và nội dung của những nguyên lý đó và biết
vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, chứ không phải giáo dục một cách giáo điều, sách
vở.
15
Phải giáo dục một cách có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lê nin, đồng thời phải
chú trọng thông qua việc giáo dục đường lối, chính sách để nâng cao trình độ lý
luận cho cán bộ, đảng viên.
Tổng kết cơng tác là một biện pháp để nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ.
Cần phải hết sức coi trọng biện pháp này vì nó là phương pháp vừa kết hợp lý luận
với thực tiễn, dùng lý luận phân tích thực tiễn và từ thực tiễn mà rút ra lý luận.
- Đi đơi với việc nâng cao trình độ lý luận Mác – Lê nin phải hết sức chú
trọng giáo dục cho cán bộ, đảng viên nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, vì
nó là lý luận Mác – Lê nin áp dụng vào thực tiễn nước ta. Phải làm cho cán bộ đảng
viên nắm vững những quan điểm của Đảng trong đường lối chính sách của Đảng,
nhất là các đường lối chống Mỹ, cứu nước, đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc, đường lối quốc tế, đường lối xây dựng Đảng.
- Nâng cao tinh thần độc lập tự chủ của cán bộ, đảng viên, đứng vững trên
lập trường của Đảng ta, suy nghĩ và hành động theo đường lối của Đảng. Khắc
phục tư tưởng tự ti, bắt chước mù quáng. Đồng thời, giáo dục chủ nghĩa đế quốc vơ
sản, chăm lo tăng cường đồn kết quốc tế.
- Việc học tập và nâng cao trình độ lý luận Mác – Lê nin là một vấn đề thuộc
về sinh mạng của Đảng, vì vậy, muốn học tập tốt, mỗi cán bộ, đảng viên phải có
thái độ đúng, phải hết sức coi trọng vấn đề này. Phải kiên quyết khắc phục quan
điểm không đúng: chỉ chú ý học tập chuyên môn, nghiệp vụ, coi thường việc học
tập lý luận, đường lối, chính sách của Đảng.
Ra sức nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng.
Việc giáo dục và nâng cao nhiệt tình và ý chí phấn đấu, phẩm chất, đạo đức
cách mạng không những quan trọng đối với giai đoạn chống Mỹ cứu nước hiện nay
mà cịn có ý nghĩa rất quan trọng sau khi hịa bình được lập lại. Nếu không sẽ nảy
sinh tư tưởng nghỉ ngơi, tư tưởng hưởng lạc, dễ dẫn đến chỗ sa đọa biến chất.
16
Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, việc giáo dục và nâng cao phẩm chất, đạo đức
cách mạng phải nhằm làm cho cán bộ, đảng viên:
- Tuyệt đối trung thành và dốc hết sức cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp
và lợi ích của quần chúng. Ln ln có tinh thần cách mạng tiến công cao, tinh
thần cách mạng triệt để: khơng lùi bước trước khó khăn, khơng ngại hi sinh gian
khổ, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ trong mọi tình huống, quyết tâm xây dựng chủ
nghĩa xã hội thể hiện ở chỗ thực hiện tốt ba cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất,
cách mạng kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa. Mặt khác, phải giáo dục và
nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng cho cán bộ đảng viên.
- Có ý thức tổ chức và kỷ luật cao: nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chính
sách của Đảng và Chính phủ, có ý thức giữ gìn và củng cố sự đồn kết, thống nhất
trong Đảng, khơng gây chia rẽ, bè phái. Đồng thời, phải nâng cao ý thức quý trọng
và bảo vệ của công, không tham ô lãng phí tài sản của nhà nước và tập thể, gương
mẫu trong lao động và sản xuất và có nếp sống giản dị, trong sạch, lành mạnh. - Có
ý thức tập thể và dân chủ cao: luôn tôn trọng tập thể, tơn trọng đồng chí, khơng đặt
mình lên trên tập thể, lắng nghe ý kiến của các đồng chí và quần chúng.
- Có ý thức tơn trọng và phatshuy quyền làm chủ tập thể của quần chúng,
một lòng một dạ phục vụ quần chúng, lắng nghe ý kiến và học hỏi quần chúng, đi
sâu đi sát vào quần chúng. Chống quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng.
Nâng cao trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật và nghiệp vụ cho cán bộ,
đảng viên.
Trong giai đoạn hiện nay, đây là một yêu cầu rất lớn. công tác tư tưởng phải
đảm bảo tốt vấn đề này.
- Phải làm cho cán bộ đảng viên nhận rõ: khơng có văn hóa và khoa học, kỹ
thuật thì khơng thể xây dựng thành cơng chủ nghĩa xã hội được. Phải làm cho cán
bộ đảng viên vừa có phẩm chất chính trị vững vàng, vừa có trình độ chun mơn
nghiệp vụ và năng lực quản lý kinh tế khá. Phải làm cho mọi đảng viên tích cực
17
nâng cao trình độ văn hóa, hăng hái tiến cơng vào khoa học kỹ thuật, đi sâu nghiên
cứu để nắm vững chuyên môn, nghiệp vụ. Chống lối lãnh đạo chỉ động viên chính
trị chung chung chống bệnh lười học tập, lười nghiên cứu và suy nghĩ.
- Phải tổ chức tốt việc bồi dưỡng và nâng cao trình độ về các mặt nói trên
cho cán bộ đảng viên.
Kiên quyết khắc phục tư tưởng không vô sản, chủ yếu là tư tưởng hữu
khuynh và chủ nghĩa cá nhân.
- Tư tưởng không vô sản, nhất là tư tưởng hữu khuynh và chủ nghĩa cá nhân
hiện nay đang là cản trở chính cho việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng.
Nó đang phá hoại sự đồn kết, nhất trí và làm giảm ý chí chiến đâu của cán bộ đảng
viên.
- Tư tưởng hữu khuynh đang tồn tại khá phổ biến ở các cấp, các ngành. Nó
thể hiện rõ nét trong khi thực hiện các đuờng lối lớn của Đảng: đường lối chống
Mỹ, cứu nước, đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong công tác xây dựng Đảng
cũng như các công tác khác của Đảng.
Muốn khắc phục tư tưởng hữu khuynh phải làm rõ:
- Những biểu hiện của tư tưởng hữu khuynh, nguyên nhân và tác hại của nó.
- Phải đấu tranh liên tục, kiên trì, khơng ngừng nghỉ, khơng nơ là.
- Khi chống hữu phải phòng tả Chủ nghĩa cá nhân hiện nay biểu hiện chủ yếu
ở mấy mặt:
- Ngại khó, ngại khổ, sợ hy sinh.
- Tự tư, tự lợi: lợi dụng, tham ô, ăn cắp của Nhà nước và của tập thể, nhất là
trong các ngành, các đơn vị có quan hệ đến tiền, hàng hóa, vật tư.
- Ý thức tổ chức kỷ luật lỏng lẻo
- Hủ hóa, sinh hoạt bê tha, sa đọa.
Muốn khắc phục chủ nghĩa cá nhân có kết quả, phải chú ý giáo dục nhân
sinh, và phẩm chất, đạo đức cách mạng, đẩy mạnh phê bình, tự phê bình, cải tiến và
18
nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và phải làm tốt công tác quản lý đảng viên.
Phải hết sức coi trọng việc kiểm tra giữ gìn phẩm chất và đạo đức cách mạng của
cán bộ, đảng viên và có thái độ đúng mức, kịp thời với những cán bộ, đảng viên có
khuyết điểm, sai lầm nặng nhưng khơng chịu sửa chữa. - chống tư tưởng hữu
khuynh và chủ nghĩa cá nhân là trọng tâm, đồng thời phải chống ảnh hưởng của
chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa giáo điều, biệt phái, và các tàn dư tư tưởng không vô
sản khác.
KẾT LUẬN
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là nền tảng tư tưởng để Đảng Nhân dân cách mạng
Lào vận dụng, phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam. Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử mà Đảng và nhân dân ta
đạt được qua hơn 30 năm đổi mới thể hiện sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo của
Đảng; đồng thời, cũng góp phần bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện mới. Vì thời gian có hạn bài làm khơng tránh khỏi thiếu sót
mong thầy/cơ nhận nhận xét, đóng góp ý kiến để em có thể nhận thức vấn đề một
cách chính xác nhận.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. V.I.Lênin: Toàn tập, t.39, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.319, 310, 1516, 17, 16, 25.
2. C.Mác và Ph.Ăngghen: Tồn tập, t.22, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1995, tr.346.
3. V.I.Lênin: Toàn tập, t. 33, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, tr.43-44, 44, 43,
97.
4. ĐCSCN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng
Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.61.
19