BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
---------- ----------
NGUYỄN QUỐC VIỆT
THÀNH PHẦN SÂU HẠI LÚA, DIỄN BIẾN MẬT ĐỘ SÂU HẠI
CHÍNH TRONG HỆ THỐNG CANH TÁC LÚA CẢI TIẾN SRI
VỤ MÙA NĂM 2014 TI HUYN NAM TRC, TNH NAM NH
Luận văn thạc sĩ
Hà Néi, 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
---------- ----------
NGUYỄN QUỐC VIỆT
THÀNH PHẦN SÂU HẠI LÚA, DIỄN BIẾN MẬT ĐỘ SÂU HẠI CHÍNH
TRONG HỆ THỐNG CANH TÁC LÚA CẢI TIẾN SRI
VỤ MÙA NĂM 2014 TẠI HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
CHUYÊN NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT
MÃ SỐ : 60.62.01.12
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN ĐÌNH CHIẾN
Hµ Néi, 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng,
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực
và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ cơng trình nào khác.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các
thơng tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Nguyễn Quốc Việt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
LỜI CẢM ƠN
Để bản luận văn được hoàn thành tốt, trong suốt thời gian thực tập, nghiên
cứu, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các Giáo viên hướng
dẫn, của các tập thể, cá nhân, sự động viên của gia đình và bạn bè.
Trước tiên tơi xin bày tỏ lịng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS. TS. Trần
Đình Chiến - Học viện Nơng nghiệp Việt Nam đã dành cho tôi sự chỉ dẫn và giúp
đỡ tận tình trong suốt thời gian thực tập và nghiên cứu hồn thành đề tài.
Tơi xin cảm ơn sự giúp đỡ của tập thể các thầy, cô giáo bộ môn Côn trùng
– Khoa Nông học – Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Lãnh đạo và các đồng
nghiệp trong Chi cục BVTV tỉnh Nam Định đã tạo điều kiện giúp đỡ tơi trong
q trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng tơi xin bày tỏ lịng biết ơn của mình đến tất cả bạn bè, người
thân và gia đình đã ln động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành
bản luận văn này.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Quốc Việt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục chữ viết tắt
vi
Danh mục bảng
vii
Danh mục hình
ix
MỞ ĐẦU
1
1
Tính cấp thiết của đề tài
1
2
Mục đích, yêu cầu của đề tài
2
3
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
4
1.1
Cơ sở khoa học của đề tài
4
1.2
Tình hình nghiên cứu ngoài nước
5
1.2.1
Nghiên cứu về thành phần sâu hại lúa
5
1.2.2
Những nghiên cứu về sâu hại chính trên lúa
6
1.3
Tình hình nghiên cứu trong nước
13
1.3.1
Nghiên cứu về thành phần sâu hại lúa
13
1.3.2
Nghiên cứu về sâu hại chính
14
1.4
Các nghiên cứu ứng dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến ở ngoài
nước và trong nước
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
21
24
2.1
Đối tượng nghiên cứu
24
2.2
Vật liệu nghiên cứu
24
2.3
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
24
2.4
Nội dung nghiên cứu
24
2.5
Phương pháp nghiên cứu
25
2.5.1
Phương pháp điều tra thành phần sâu hại lúa và thiên địch
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
25
Page iii
2.5.2
Phương pháp điều tra diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ, rầy
nâu, sâu đục thân 2 chấm và thiên địch trên ruộng lúa ứng dụng
SRI và ruộng nông dân
26
2.5.3
Các chỉ tiêu theo dõi
27
2.5.4
Phương pháp bố trí ruộng canh tác lúa cải tiến SRI và ruộng
nông dân
2.5.5
27
Khảo sát hiệu lực một số thuốc hóa học phịng trừ sâu cuốn lá
nhỏ, sâu đục thân 2 chấm, rầy nâu của một số loại thuốc tại tại
huyện Nam Trực, Nam Định
2.5.6
31
Phương pháp tính các chỉ tiêu cấu thành năng suất và đánh giá
hiệu quả kinh tế
2.6
36
Phương pháp xử lý số liệu
37
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1
38
Tình hình sản xuất lúa vụ mùa 2014 và kết quả ứng dụng từng
phần hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI tại huyện Nam Trực, tỉnh
Nam Định
3.2
38
Thành phần sâu hại lúa vụ mùa 2014 tại Nam Mỹ, Nam Trực,
Nam Định
3.3
39
Thành phần thiên địch của sâu hại lúa vụ mùa 2014 tại xã Nam
Mỹ huyện Nam Trực tỉnh Nam Định
3.4
42
Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ C. medinalis trên ruộng lúa
ứng dụng SRI và ruộng nông dân vụ mùa 2014 tại xã Nam Mỹ,
Nam Trực, Nam Định
3.5
47
Diễn biến mật độ rầy nâu Nilaparvata lugens trên ruộng lúa ứng
dụng SRI và ruộng nông dân vụ mùa 2014 tại Nam Mỹ, Nam
Trực, Nam Định
3.6
48
Diễn biến mật độ sâu đục thân 2 chấm S. incertulas trên ruộng lúa ứng
dụng SRI và ruộng nông dân vụ mùa 2014 tại Nam Mỹ, Nam
Trực, Nam Định
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
49
Page iv
3.7
Diễn biến mật độ thiên địch của sâu hại chính (nhện lớn bắt mồi,
bọ rùa đỏ, bọ xít mù xanh và bọ ba khoang) trên ruộng lúa ứng
dụng SRI và ruộng nông dân vụ mùa 2014 tại xã Nam Mỹ, Nam
Trực, Nam Định
3.8
51
Hiệu lực phịng trừ sâu hại chính của một số loại thuốc hoá học
trong vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định
54
Hiệu lực phòng trừ của một số loại thuốc hoá học đối với sâu cuốn
3.8.1
lá nhỏ C. medinalis vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định
54
Hiệu lực phịng trừ của một số loại thuốc hố học đối với sâu
3.8.2
đục thân 2 chấm S. incertulas vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam
Định
56
Hiệu lực phòng trừ của một số loại thuốc hoá học đối với rầy
3.8.3
nâu N. lugens hại lúa vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định
3.9
59
Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất trên ruộng ứng dụng
SRI và ruộng nông dân vụ mùa 2014 tại Nam Mỹ, Nam Trực,
Nam Định
3.10
61
Hạch toán hiệu quả kinh tế trên ruộng lúa ứng dụng SRI và ruộng
nông dân vụ mùa 2014 tại Nam Mỹ, Nam Trực, Nam Định
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
62
64
1
Kết luận
64
2
Kiến nghị
65
TÀI LIỆU THAM KHẢO
66
PHỤ LỤC
71
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt, ký hiệu
Diễn giải chữ viết tắt, ký hiệu
1.
BVTV
Bảo vệ thực vật
2.
Bộ Nông nghiệp và PTNT
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
3.
C. medinalis
Cnaphalacrocis medinalis
4.
IRRI
5.
IPM
6.
ND
Nông dân
7.
NSC
Ngày sau cấy
8.
NSLT
Năng suất lý thuyết
9.
NXB
Nhà xuất bản
10.
N. lugens
Nilaparvata lugens
11.
S. incertulas
Scirpophaga incertulas
12.
SRI
13.
TLH
Tỷ lệ hại
14.
o
Nhiệt độ (độ C)
C
International rice research institute
(Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế)
Integrated pest management
(Quản lý dịch hại tổng hợp)
System of rice intensification
(Hệ thống canh tác lúa cải tiến)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
2.1
Mật độ cấy, lượng phân bón, số lần sử dụng thuốc BVTV
2.2
Quy trình bón phân trên ruộng lúa ứng dụng SRI và ruộng nông dân
3.1
Ứng dụng từng phần mơ hình SRI vụ mùa 2014 tại huyện Nam
29
Trực, tỉnh Nam Định
3.2
38
Thành phần sâu hại lúa vụ mùa 2014 tại Nam Mỹ, Nam Trực, Nam
Định
3.3
40
Thành phần thiên địch của sâu hại lúa vụ mùa 2014 tại Nam Mỹ,
Nam Trực, Nam Định
3.4
44
Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ C. medinalis trên ruộng lúa ứng
dụng SRI và ruộng nông dân vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định
3.5
47
Diễn biến mật độ rầy nâu Nilaparvata lugens trên ruộng lúa ứng
dụng SRI và ruộng nông dân vụ mùa 2014 tại Nam Mỹ, Nam Trực,
Nam Định
3.6
49
Diễn biến mật độ sâu đục thân 2 chấm S.incertulas trên ruộng lúa
ứng dụng SRI và ruộng nông dân vụ mùa 2014 tại Nam Mỹ, Nam
Trực, Nam Định
3.7
50
Diễn biến mật độ thiên địch của sâu hại chính trên ruộng lúa ứng
dụng SRI và ruộng nông dân vụ mùa 2014 tại xã Nam Mỹ, Nam
Trực, Nam Định
3.8
52
Hiệu lực phòng trừ của một số loại thuốc hoá học đối với sâu cuốn
lá nhỏ C. medinalis vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định
3.9
55
Hiệu lực phòng trừ của một số loại thuốc hoá học đối với sâu đục
thân 2 chấm S. incertulas vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định
3.10
57
Năng suất lúa thí nghiệm 4 loại thuốc hố học phịng trừ sâu đục
thân 2 chấm S. incertulas vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định
3.11
59
Hiệu lực phòng trừ của một số loại thuốc hoá học đối với rầy nâu
N. lugens hại lúa vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
60
Page vii
3.12
Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất trên ruộng ứng dụng SRI
và ruộng nông dân vụ mùa 2014 tại Nam Mỹ, Nam Trực, Nam Định
3.13
61
Hạch toán hiệu quả kinh tế trên ruộng lúa ứng dụng SRI và ruộng
nông dân vụ mùa năm 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
62
Page viii
DANH MỤC HÌNH
STT
Tên hình
Trang
3.1.
Ổ sâu non mới nở sâu đục thân 2 chấm (Scirpophaga incertulas Walker)
41
3.2.
Trưởng thành sâu đục thân 2 chấm (Scirpophaga incertulas Walker)
41
3.3.
Sâu non sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee)
41
3.4.
Trưởng thành sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee)
41
3.5.
Bọ xít dài (Leptocorisa acuta Thunb)
41
3.6.
Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal)
41
3.7.
Bọ rùa đỏ (Micrarpis discolor Fabr)
45
3.8.
Chuồn chuồn kim xanh (Agriocnemis femina Brauer)
45
3.9.
Nhện linh miêu (Oxyopes javanus Thorell)
45
3.10.
Nhện sói vân đinh ba (Lycosa pseudoannulata Boes. et Strand)
45
3.11.
Nhện lưới tròn (Araneus inustus Koch)
45
3.12.
Bọ cánh cộc (Paederus fuscipes Curt)
45
3.13.
Hiệu lực phòng trừ của một số loại thuốc hoá học đối với sâu cuốn lá
nhỏ C. medinalis vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định
3.14.
55
Hiệu lực phịng trừ của một số loại thuốc hố học đối với sâu đục thân
2 chấm S. incertulas vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định
3.15.
57
Hiệu lực phòng trừ của một số loại thuốc hoá học đối với rầy nâu N.
lugens hại lúa vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
60
Page ix
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là cái nôi của nền văn minh lúa nước, hạt gạo gắn liền với sự phát
triển dân tộc và việc sản xuất lúa gạo cho đến nay vẫn là một hoạt động kinh tế
đứng hàng đầu. Năm 2012, sản lượng lúa của Việt Nam đạt hơn 43,7 triệu tấn, tăng
thêm 1,26 triệu tấn so với năm 2011 và đã xuất khẩu trên 7 triệu tấn gạo, là nước
đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo (Tổng cục Thống kê, 2012). Với những
chính sách phát triển phù hợp cùng với việc áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ
thuật, chỉ trong vòng 2 thập kỷ, từ một nước thiếu lương thực, Việt Nam đã trở
thành một trong những nước dẫn đầu thế giới về xuất khẩu gạo.
Nam Trực là một huyện nông nghiệp của tỉnh Nam Định thuộc đồng bằng
sông Hồng, với tổng diện tích canh tác lúa hàng năm khoảng 19 nghìn ha. Trong
những năm qua, sản xuất nơng nghiệp của huyện có nhiều biến đổi lớn cùng với sự
biến đổi chung của tỉnh, nhất là sản xuất lúa. Huyện Nam Trực đã chuyển dịch cơ cấu
cây trồng, áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất. Ngoài những thành tựu
sử dụng giống mới, thâm canh cao, những thành tựu trong công tác bảo vệ thực vật
cũng đóng vai trị quan trọng trong việc nâng cao chất lượng và sản lượng lúa.
Những năm gần đây, tình hình sâu bệnh hại trên cây lúa ngày càng diễn biến
phức tạp, xu hướng gia tăng và có nguy cơ bùng phát thành dịch hại nguy hiểm trên
diện rộng. Trong thời gian dài, việc sử dụng giống dễ nhiễm sâu bệnh, tập quán
canh tác cấy quá dầy, lạm dụng phân bón vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật,... đã làm
tăng chi phí sản xuất, phá vỡ cân bằng sinh thái, làm bùng phát một số loài thứ yếu,
ảnh hưởng xấu đến môi trường, sức khoẻ cộng đồng. Trong thời gian tới, lúa vẫn là
cây lương thực quan trọng. Vì vậy mà thâm canh lúa là rất cần thiết, song việc thâm
canh vừa phải đảm bảo tăng năng suất, vừa phải có hiệu quả bền vững.
Từ năm 2003 đến nay, với sự tài trợ của Chương trình IPM quốc gia, Cục
Bảo vệ thực vật (BVTV) đã kết hợp với các nhà khoa học của Viện Nơng hố-Thổ
nhưỡng, Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) cùng nông dân và cán bộ bảo vệ
thực vật của 12 tỉnh phía Bắc triển khai nhiều chương trình thực nghiệm đồng
ruộng có sự tham gia của nơng dân để khẳng định khả năng ứng dụng hệ thống
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
của biện pháp canh tác tổng hợp đối với lúa cấy để có “cây lúa khoẻ” giảm nguy
cơ gây hại của sâu bệnh, ảnh hưởng của ngoại cảnh, tiến tới một nền sản xuất lúa
theo hướng bền vững, an toàn và hiệu quả, trong đó chú trọng đến kỹ thuật sử
dụng phân bón hợp lý, hiệu quả; kỹ thuật cấy mạ non với mật độ phù hợp và kỹ
thuật tưới nước khơ ướt xen kẽ để làm thơng thống đất định kỳ. Hệ thống canh
tác lúa nói trên gọi là hệ thống canh tác lúa cải tiến (system of
rice
intensification-SRI). Hệ thống SRI đã được triển khai và thực hiện thành cơng ở
một số tỉnh phía Bắc, ứng dụng của hệ thống canh tác lúa cải tiến đã được Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận năm 2007 và được triển khai tới
hầu hết các tỉnh phía Bắc. Một số địa phương đi đầu trong việc áp dụng SRI là
Hà Tây (cũ), Hải Dương, Hà Nội, Nam Định... Năm 2005, hệ thống canh tác lúa
cải tiến được áp dụng trên quy mô 2 đến 5 ha trên một điểm tại 14 tỉnh trên cả
nước, năm 2006 có 17 tỉnh với 3450 nông dân tham gia (Cục BVTV, 2006).
Hệ thống canh tác lúa cải tiến bước đầu cho kết quả: lượng thóc giống giảm
70% so với ruộng của nơng dân, lượng phân đạm giảm 20% đến 25%, năng suất
tăng bình quân từ 9% đến 15%. Do cây lúa khoẻ nên khả năng kháng sâu bệnh tốt
làm giảm lượng thuốc phòng chống sâu bệnh, một số mơ hình đã khơng sử dụng
thuốc phòng trừ sâu bệnh lúa vẫn cho năng suất cao và chất lượng tốt.
Kết quả bước đầu ứng dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến cho thấy hệ thống
kỹ thuật này thực sự có ý nghĩa trong canh tác lúa bền vững nhưng việc nghiên cứu
thành phần sâu hại lúa trên ruộng SRI so với ruộng nông dân tại Nam Trực, Nam
Định vẫn còn rất hạn chế. Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự nhất trí của Bộ
môn Côn trùng, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS.
Trần Đình Chiến, chúng tơi thực hiện đề tài: “Thành phần sâu hại lúa, diễn biến
mật độ sâu hại chính trong hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI vụ mùa năm 2014
tại huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định”.
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích của đề tài
Trên cơ sở nắm được thành phần sâu hại lúa vụ mùa năm 2014, xác định
được tình hình phát sinh gây hại của lồi sâu hại chính cũng như thiên địch của
Học viện Nơng nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
chúng trên hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI tại huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định,
từ đó đề xuất biện pháp phòng chống đạt hiệu quả kinh tế và môi trường.
2.2. Yêu cầu của đề tài
Điều tra thành phần sâu hại lúa và thiên địch của sâu hại chính trên hệ thống
canh tác lúa cải tiến theo SRI vụ mùa năm 2014 tại xã Nam Mỹ huyện Nam Trực,
tỉnh Nam Định.
Theo dõi diễn biến mật độ sâu hại chính và thiên địch của sâu hại chính trên
hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI vụ mùa năm 2014 tại huyện Nam Trực, tỉnh
Nam Định.
Tiến hành khảo sát một số loại thuốc bảo vệ thực vật đối với sâu cuốn lá nhỏ,
sâu đục thân 2 chấm và rầy nâu trên các giống lúa phổ biến tại huyện Nam Trực,
tỉnh Nam Định.
Đánh giá hiệu quả kinh tế của sản xuất lúa theo hệ thống SRI tại xã Nam Mỹ
huyện Nam Trực tỉnh Nam Định.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là những dẫn liệu về thành phần sâu hại,
những lồi sâu hại chính trên lúa, diễn biến mật độ, mức độ gây hại của các loài sâu
hại chính cũng như thiên địch của chúng trên hệ thống canh tác lúa cải tiến. Đánh
giá hiệu lực của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đối với sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục
thân 2 chấm và rầy nâu trên các giống lúa phổ biến tại Nam Trực, Nam Định và
hiệu quả kinh tế của sản xuất lúa theo hệ thống canh tác lúa cải tiến tại xã Nam Mỹ
huyện Nam Trực tỉnh Nam Định.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả điều tra nghiên cứu về thành phần sâu hại, những lồi sâu hại
chính trên lúa, diễn biến mật độ, mức độ gây hại của các loài sâu hại chính cũng
như thiên địch của chúng trên hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI từ đó đề xuất biện
pháp phịng chống đạt hiệu quả kinh tế và mơi trường.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Trong sản xuất nơng nghiệp ngồi vấn đề nâng cao hiệu quả kinh tế thì việc
xây dựng hệ thống canh tác bền vững có ý nghĩa vơ cùng quan trọng nhằm duy trì
cân bằng hệ sinh thái, nâng cao đa dạng sinh học. Trong sinh quần đồng ruộng luôn
luôn có sự đồng hành của thiên địch và dịch hại tạo nên mạng lưới thức ăn khép kín.
Khi mật độ thiên địch giảm, mật độ dịch hại gia tăng về số lượng trong thời gian
ngắn, sẽ gây bộc phát ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp. Để duy trì
mật độ chủng quần dịch hại ở mức dưới ngưỡng kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất
nông nghiệp con người khơng ngừng hồn thiện hệ thống canh tác phù hợp với điều
kiện tự nhiên, xã hội của từng vùng. Với mục tiêu là duy trì điểu khiển hệ sinh thái
hợp lý theo hướng có lợi cho con người, trong sinh quần đồng ruộng ln có sự góp
mặt của thiên địch, dịch hại. Vì vậy hiểu biết về hệ sinh thái đồng ruộng sẽ là cơ sở
khoa học cho việc xây dựng các biện pháp thâm canh, bảo vệ cây lúa tránh tổn thất
do dịch hại gây ra, bảo vệ mơi sinh và góp phần giữ cân bằng hệ sinh thái.
Trong sản xuất lúa ở Việt Nam nói chung, ở đồng bằng Bắc Bộ nói riêng bà con
nơng dân vẫn cịn tập qn đầu tư q mức về phân hố học, lượng giống và thuốc bảo
vệ thực vật. Việc bón phân đạm quá mức và cấy dầy là nguyên nhân chính làm cho cây
lúa yếu, dễ bị sâu bệnh tấn công, gây hại dẫn tới phải sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực
vật. Như vậy đầu tư sản xuất không dựa trên cơ sở sinh lý sinh thái cây trồng đã dẫn tới
hiệu quả sản xuất không cao. Mặt khác sử dụng hố chất nhiều (thuốc trừ sâu và phân
vơ cơ...) cịn gây ơ nhiễm mơi trường, ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người. Nhằm
tìm ra giải pháp khắc phục tình trạng trên, từ năm 2003 chương trình IPM Việt Nam đã
giới thiệu hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI). SRI được nhiều nông dân tự nguyện và
nhiệt tình hưởng ứng. SRI góp phần giải quyết những vấn đề trong sản xuất lúa gạo là
chi phí sản xuất cao và thu nhập của người trồng lúa còn thấp. Chỉ cần người nông dân
thay đổi cách nghĩ, cách làm thì đều áp dụng hệ thống SRI được trong sản xuất lúa gạo
(Cục BVTV, 2007). Việc áp dụng hệ thống SRI giúp nâng cao nhận thức cho người
nông dân về sâu bệnh hại, mối quan hệ với sinh vật khác và môi trường cũng như hiểu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
biết về hệ sinh thái đồng ruộng để từ đó thực hiện tốt chương trình IPM cộng đồng.
Từ những cơ sở khoa học trên với mục đích tìm hiểu nghiên cứu mối quan hệ
giữa cây lúa với sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu và sâu đục thân 2 chấm và thiên địch của
chúng để từ đó đề xuất một số cải tiến trong biện pháp phòng trừ, nhằm làm giảm
thiệt hại do các lồi sâu hại này gây ra, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản
phẩm, đưa ngành nông nghiệp nước nhà tiến tới một nền nông nghiệp bền vững góp
phần đảm bảo chương trình an ninh lương thực quốc gia.
1.2. Tình hình nghiên cứu ngồi nước
1.2.1. Nghiên cứu về thành phần sâu hại lúa
Theo Dale (1994) trên thế giới đã ghi nhận được hơn 800 loài sâu hại lúa.
Theo Chiu (1980), trên cây lúa ở Trung Quốc đã phát hiện được hơn 200 loài sâu
hại. Các nước trồng lúa Đơng Nam Á có khoảng hơn 100 lồi sâu hại lúa đã được
phát hiện. Tuy nhiên trong số đó chỉ có số ít lồi gây hại nặng cho cây lúa, cịn đa
số khơng gây hại hoặc ít gây hại.
Số lồi gây hại giữa các vùng khơng giống nhau. Các nước trồng lúa khác
nhau thì lồi sâu hại chính cũng khác nhau. Ở châu Á có tới 20 lồi sâu hại chính, ở
châu Úc chỉ có 9 lồi; châu Mỹ là 13 lồi và châu Phi có 15 lồi. Đa số các lồi cịn
lại ít gây hại hoặc gây hại khơng đáng kể (Kiritani, 1979; CABI, 2006).
Chỉ tính riêng nhóm đục thân trên thế giới đã phát hiện được khoảng 35 loài sâu
đục thân hại lúa thuộc họ Ngài sáng (Pyralidae, Lepidoptera), 10 loài họ Ngài đêm
(Noctuidae, Lepiddoptera) và 5 loài ruồi thuộc họ Diopsidae (bộ Diptera, giống Diopsis)
gây hại trên lúa, đưa tổng số loài sâu đục thân lên con số 50 lồi (CABI, 2006).
Ở Ấn Độ có 4 lồi sâu hại chính đó là sâu đục thân 2 chấm, rầy nâu, rầy xanh
đuôi đen và sâu năn, ở Trung Quốc có 7 lồi gây hại chính là: Sâu đục thân 2 chấm,
sâu đục thân 5 vạch, sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu, rầy xanh đuôi đen, sâu năn và bọ trĩ
(Chiu, 1980). Ở Nhật Bản có các loài sâu đục thân 2 chấm, sâu đục thân 5 vạch, rầy
nâu, rầy xanh đuôi đen … (Karitani, 1979). Số lượng các lồi sâu gây hại chính phụ
thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của cây lúa, ở giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng có
khoảng 22 lồi, giai đoạn làm địng đến trỗ khoảng 8 lồi và giai đoạn chín chỉ có 3
- 4 lồi (CABI, 2006).
Học viện Nơng nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
1.2.2. Những nghiên cứu về sâu hại chính trên lúa
Theo nghiên cứu của Kemueller (1983) (dẫn theo Bộ môn côn trùng, 2006)
cho thấy trên ruộng lúa vùng nhiệt đới có trên 50 lồi sâu hại trong đó có các lồi
chính bao gồm: sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân 2 chấm, rầy nâu, rầy lưng trắng, ngoài
khả năng gây hại trực tiếp, các lồi chích hút cịn là mơi giới truyền bệnh nguy hiểm.
1.2.2.1. Nghiên cứu về sâu cuốn lá nhỏ hại lúa Cnaphalocrocis medinalis Guenee
Sâu cuốn lá nhỏ Cnaphalocrocis medinalis (Guenee) (Crambidae:
Lepidoptera). Tên gọi khác: Cnaphalocerus medinalis, Salbia medinalis Guenée
1854, Botys rutilalis Walker 1859, Botys iolealis Walker 1859, Cnaphalocrocis
jolinalis Lederer 1863, Botys acerrimalis Walker 1865, Marasmia medinalis
castensziana Rothschild, Botys fasciculatalis Walker, Botys nurscialis Walker,
Cnaphalocrocis iolealis Walker (Wikipedia, 2014a).
a) Phân bố địa lý và phạm vi ký chủ
Sâu cuốn lá nhỏ là một trong những lồi sâu hại lúa chính ở nhiều vùng trồng
lúa trên thế giới, loài Cnaphalocrocis medinalis Guenee có phân bố rộng. Hầu hết
các nước ở châu Á đều xuất hiện lồi sâu hại này, điển hình là Thái Lan, Ấn Độ,
Trung Quốc, Apganixtan, Bangladesh, Brunây, Butan…Ở châu Đại Dương, sâu
cuốn lá nhỏ gây hại ở quần đảo Xamoa, đảo Carolin…Ký chủ chính của sâu cuốn lá
nhỏ là cây lúa. Chúng cịn gây hại trên lúa mì, cao lương, đại mạch, cỏ lá tre, cỏ
môi, cỏ lồng vực, cỏ gà nước, cỏ bấc…. (Barrion et al., 1991; Yin et al., 2005; Xu
et al., 2007; Padmavathi et al., 2013).
b) Đặc điểm sinh thái
Ở các nước vùng Á nhiệt đới và châu Á, sâu cuốn lá nhỏ phát sinh quanh
năm nhưng phát triển mạnh trong mùa mưa. Các nước có mùa đơng lạnh sâu cuốn
lá nhỏ phát sinh từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm. Trưởng thành sâu cuốn lá nhỏ
cũng di chuyển theo mùa từ Trung Quốc đến Nhật Bản và Triều Tiên giống như rầy
nâu và rầy lưng trắng (Dale, 1994; CABI, 2006).
Mật độ cấy ảnh hưởng đến số lượng sâu cuốn lá nhỏ, mật độ cấy dầy thường
có mật độ sâu cuốn nhỏ cao hơn mật độ cấy thưa. Bón kali hợp lý có tác dụng làm
giảm thiệt hại của sâu cuốn lá nhỏ. Bón phân đạm với lượng 30, 60, 90, 120 và 150
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
kg/ha cho giống lúa ngắn ngày kết quả tỷ lệ lá hại tăng theo lượng đạm bón. Ở vùng
Đơng Nam Á chưa có giống nào chống chịu được sâu cuốn lá nhỏ. Sản lượng của
cây lúa sẽ bị giảm nhiều nhất nếu bị sâu cuốn lá nhỏ gây hại vào giai đoạn lúa trỗ,
mức thiệt hại trung bình ở giai đoạn lúa đẻ nhánh và hại nhẹ nhất ở giai đoạn lúa
chín sữa (CABI, 2006; Xu et al., 2007, 2010).
c) Thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ
Thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ rất đa dạng và phong phú, chúng có vai trị
rất quan trọng trong việc làm giảm mật độ sâu cuốn lá nhỏ. Loài ong Trichogramma
japonicum Aslimead tại Quảng Đông, Trung Quốc đã được sử dụng để diệt trứng
sâu cuốn lá nhỏ, làm giảm tỷ lệ lá lúa bị sâu hại là 92,8% so với đối chứng. Lượng
ong thả là 15 vạn con/ha nếu mật độ là 5 trứng/khóm, có thể thả liên tục 3 - 4 lần
cách nhau 1 - 2 ngày. Ong Apanteles cypris cũng là lồi ong kí sinh chun tính trên
sâu non tuổi nhỏ rất phổ biến tại Trung Quốc. Ở Nhật Bản, loài Trathala
flavoobitalis có thể giết chết sâu non từ 34 -54% trong giai đoạn cuối tháng 6 đầu
tháng 7, tính trung bình suốt vụ tỷ lệ này là 12%. Có 2 lồi ong kí sinh là Itoplectis
narangae và Brachymeria excarinata kí sinh nhộng vào cuối tháng 10, tỷ lệ kí sinh
là 11 - 31% (Barrion et al., 1991; CABI, 2006).
Tại Philippines có 83 lồi bắt mồi ăn thịt, 55 lồi kí sinh và 6 lồi nấm tấn
cơng các giai đoạn phát dục của sâu cuốn lá nhỏ. Tuy nhiên các loài bắt mồi ăn thịt
là quan trọng nhất. Những loài bắt mồi ăn thịt thuộc giống Grylidae gồm Metioche
và Anaxipha ăn trứng và Ophionea spp. ăn sâu non. Các lồi kí sinh quan trọng gồm
Copidosomopsis nacoleiae, Cotesia angustibasis, Cardiochiles philippensis và
Macrocentrus cnaphalocrocis (Barrion et al., 1991; CABI, 2006).
d) Biện pháp phòng chống
Biện pháp canh tác: Một số dòng lúa biến đổi gen có chứa độc tố từ vi
khuẩn Bacillus thuringiensis đã được chứng minh là có khả năng kháng C.
medinalis. Tại IRRI, hơn 115 dòng trong tổng số 17,914 giống đã được sàng lọc
cho thấy chúng kháng hoặc kháng vừa với sâu cuốn lá nhỏ C. medinalis. Việc bố
trí trong cơ cấu tỷ lệ hợp lý các giống kháng là những giải pháp tích cực nhằm
giảm áp lực sâu cuốn lá nhỏ đồng thời tăng tính đa dạng sinh học trên đồng ruộng,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
trên cơ sở đó hạn chế thiệt hại do lồi sâu này gây ra (CABI, 2006; Patel, 2009;
Xu et al., 2010). Diệt ký chủ quanh bờ ruộng, theo nghiên cứu của nhiều tác giả,
cỏ bấc, cỏ mần trầu, lá tre, lúa chét là nơi di trú chủ yếu của sâu cuốn lá, vệ sinh
đồng ruộng tiêu diệt ký chủ là biện pháp tốt nhất hạn chế sâu cuốn lá nhỏ cư trú
gây hại cho vụ sau. Mật độ cấy rộng hơn và sử dụng ít đạm hơn sẽ làm giảm tỷ lệ
nhiễm sâu cuốn lá nhỏ trên đồng ruộng. Bón phân hợp lý, bón cân đối NPK, tránh
bón đạm muộn và bón nặng đạm (Matteson, 2000; CABI, 2006; Patel, 2009).
Biện pháp hóa học: Việc sử dụng thuốc hố học trong phịng trừ sâu hại nói
chung và sâu cuốn lá nhỏ nói riêng địi hỏi rất thận trọng bởi những tác động tiêu
cực của chúng với quần thể thiên địch, môi trường sinh thái và sức khoẻ con
người. Theo Endo et al. (1987) nông dân sử dụng tới 40% số lần phun thuốc để trừ
sâu cuốn lá nhỏ, trong điều kiện nghiên cứu khi nông dân không phun giai đoạn
đầu vụ thì khơng làm thiệt hại kinh tế, tăng thu nhập từ 15 - 30% và tiết kiệm
được chi phí thuốc trừ sâu. Việc phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ bằng biện pháp hoá
học ở giai đoạn đầu vụ là việc khơng nên làm. Nhiều cơng trình nghiên cứu khoa
học đã khẳng định rằng đã có nhiều giống lúa mới có khả năng tự đền bù thiệt hại
nên việc sử dụng thuốc hố học khơng cịn là vấn đề cần thiết để quản lý loài sâu
hại này (CABI, 2006; Zheng et al., 2011).
Thuốc hóa học được sử dụng có hiệu quả để trừ sâu cuốn lá nhỏ có nguồn
gốc từ tebufenozide, hexaflumuron, abamectin, emamectin benzoate, and spinosad
(Zheng et al., 2011). Thuốc trừ sâu có nguồn gốc vi sinh và thảo mộc được chú
trọng, dầu hạt Neem được sử dụng có hiệu quả để trừ sâu cuốn lá nhỏ như Bacillus
thuringiensis Berliner (Kandibane et al., 2010; Zheng et al., 2011).
1.2.2.2. Nghiên cứu về sâu đục thân 2 chấm Scirpophaga incertulas (Walk.)
Sâu đục thân 2 chấm Scirpophaga incertulas (Walk.), họ ngài sáng Pyralidae,
bộ cánh vẩy Lepidoptera. Tên gọi khác: Catagela admotella Walker, 1863;
Schoenobius punctellus Zeller, 1863; Schoenobius minutellus Zeller, 1863;
Tipanaea bipunctifera Walker, 1863; Chilo gratiosellus Walker, 1864; Schoenobius
bipunctifer ab. quadripunctellifera Strand, 1918 (Wikipedia, 2014b).
a) Phân bố địa lý và phạm vi ký chủ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
Sâu đục thân 2 chấm phân bố ở hầu hết các nước trồng lúa của châu Á như
Philippines, Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản,…. Sâu đục thân 2 chấm là
lồi đơn thực tính chỉ gây hại trên cây lúa (Dale, 1994; Rahmana et al., 2004;
CABI, 2006; Chakraborty, 2011). Sâu đục thân 2 chấm S. incertulas có khả năng
gây thiệt hại năng suất lúa từ 10-15% có khi tới 60% khi bùng phát thành dịch
(Abro et al., 2013).
b) Đặc điểm sinh thái
Việc sử dụng phân bón khơng hợp lý đặc biệt là đạm sẽ tác động lớn đến mật
độ sâu đục thân hại lúa. Các giống lúa mới được lai tạo có năng suất cao, đẻ khoẻ,
chịu phân thu hút nhiều trưởng thành đến đẻ trứng hơn và có mật độ sâu cao hơn
các giống khác. Sản lượng của cây lúa sẽ bị giảm nhiều nhất nếu bị sâu đục thân 2
chấm gây hại vào giai đoạn lúa trỗ, mức thiệt hại trung bình ở giai đoạn lúa đẻ
nhánh và hại nhẹ nhất ở giai đoạn lúa chín sữa (Rahmana et al., 2004; Basanth et
al., 2013; Soomro et al., 2013).
c) Thiên địch của sâu đục thân lúa
Sâu đục thân 2 chấm cũng có nhiều thiên địch, đặc biệt là trứng của chúng bị
ký sinh với tỷ lệ khá cao bởi một số lồi ong. Trong đó lồi ong Tetrastichus
Schoenobii là đóng vai trị quan trọng nhất (CABI, 2006).
Các lồi sâu đục thân lúa bị trên dưới 100 loài thiên địch hạn chế số
lượng, trong đó chủ yếu là các ký sinh (CABI, 2006). Số lượng loài thiên địch
của các sâu đục thân lúa đã phát hiện được ở Philippine và Thái Lan tương ứng
là 40 và 37 loài. Sâu đục thân năm vạch Chilo suppressalis và sâu đục thân 2
chấm Scirpophaga incertulas ở trên thế giới (tương ứng) đã ghi nhận được 73 và
56 loài ký sinh. Con số này ở Ấn Độ tương ứng là 19 và 56 loài; ở Philippines là
21 và 17 loài. Trung Quốc nếu tính cả các lồi bắt mồi và gây bệnh thì sâu đục
thân 2 chấm Scirpophaga incertulas có 113 lồi thiên địch (dẫn theo Phạm Văn
Lầm, 2002).
d) Biện pháp phòng chống
Biện pháp canh tác: Thời vụ sớm với các giống lúa ngắn ngày có thể tránh
được sự gây hại bởi lứa 2 của sâu đục thân 2 chấm S. incertulas Walker. Làm ngập
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
nước ruộng vào mùa xuân ở vùng Quảng Châu (Trung Quốc) có hiệu quả diệt trừ sâu
đục thân 2 chấm (Chiu, 1980). Bón phân hợp lý cũng có tác dụng làm hạn chế mức
độ gây hại của sâu đục thân 2 chấm. Cây lúa được bón nhiều phân đạm sẽ hấp dẫn
trưởng thành cái loài sâu đục thân 2 chấm đến đẻ trứng, bón phân chứa silic, kali sẽ
làm tăng tính chống chịu sâu đục thân của cây lúa (Dale, 1994; CABI, 2006).
Sử dụng giống kháng chống sâu hại: Việc lai tạo giống kháng sâu đục thân 2
chấm được bắt đầu ở Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) từ năm 1972 như giống
lúa IR36, IR40, IR50, IR54, cho đến hiện nay nhiều giống lúa đã được chọn tạo
(CABI, 2006; Soomro et al., 2013). Kết quả nghiên cứu cho thấy tính kháng sâu đục
thân 2 chấm của các giống lúa chỉ đạt mức trung bình, nghiên cứu chuyển gen Bt
vào cây lúa để chống lại sâu đục thân vì vi khuẩn Bacilus thuringiensis (Bt) có chứa
độc tố giết sâu, đặc biệt các loại sâu thuộc bộ cánh vảy cũng đã được áp dụng. Việc
sử dụng giống lúa chuyển gen Bt đó có hiệu quả tốt trong việc phịng chống sâu đục
thân (CABI, 2006; Soomro et al., 2013).
Biện pháp sinh học: Thành phần thiên địch của nhóm sâu đục thân lúa khá
phong phú, nhưng có ít lồi quan trọng. Số lượng lồi thiên địch của nhóm sâu đục
thân lúa đó được phát hiện ở Philippines và Thái Lan tương ứng là 40 và 37 loài. Riêng
ký sinh của sâu đục thân 5 vạch Chilo suppressalis và sâu đục thân 2 chấm S.
incertulas Walker ở trên thế giới ghi nhận được 73 và 56 loài (CABI, 2006). So với
các loài bắt mồi, các loài ký sinh được đánh giá là quan trọng hơn. Trong đó, các lồi
ký sinh trứng được đánh giá là quan trọng nhất. Các loài ký sinh trứng sâu đục thân là
các loài ong ký sinh thuộc giống Telenomus, Tetrastichus, Trichogramma. Biện pháp
sử dụng ong mắt đỏ trừ sâu hại lúa cũng được nghiên cứu nhiều ở Trung Quốc và Ấn
Độ để trừ sâu cuốn lá nhỏ và sâu đục thân. Tại Karnataka (Ấn Độ) đã nghiên cứu thả
ong mắt đỏ Trichogramma japonicum định kỳ một tuần một lần để trừ sâu cuốn lá nhỏ
và sâu đục thân 2 chấm. Các lồi bắt mồi ăn thịt cũng đóng vai trò khá quan trọng trong
tiêu diệt sâu đục thân lúa ở các pha phát dục khác nhau. Một cá thể nhện sói Pardosa
pseudoannulata một ngày có thể tiêu diệt hàng trăm sâu non đục thân lúa, đồng thời nó
tấn cơng cả pha trưởng thành của các loài sâu đục thân (CABI, 2006).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
Biện pháp hóa học: Biện pháp hóa học rất quan trọng trong các biện pháp
phịng chống sâu hại lúa nói chung và sâu đục thân lúa nói riêng. Tuy vậy, ngày nay
việc sử dụng thuốc hóa học trừ sâu hại lúa cần phải được cân nhắc thận trọng. Theo
Chiu (1980), việc dùng thuốc hóa học phải được dựa trên cơ sở dự báo quần thể sâu
hại lúa, thiên địch của chúng, giai đoạn sinh trưởng của cây lúa. Xu hướng sử dụng
những thuốc trừ sâu có phổ hẹp ít hoặc khơng ảnh hưởng đến thiên địch và các lồi
sinh vật khác (Abro et al., 2013). Theo Abro et al. (2013), Chatterjee và Mondal
(2014) thuốc hóa học có hiệu lực cao trong phòng trừ sâu đục thân Scirpophaga
incertulas là Cartap hydrochloride, Carbofuran, Fipronil, Azadirachtin, Spinosad và
Phosphamidon. Thuốc trừ sâu có nguồn gốc vi sinh, các chế phẩm vi sinh
Beauveria bassiana, etarhizium anisopliae, Bacillus thuringiensis cũng có hiệu lực
cao trong phịng trừ sâu đục thân S. incertulas (Chatterjee và Mondal, 2014).
Việc sử dụng thuốc trừ sâu đục thân lúa phải chọn thời điểm đúng là rất quan
trọng, phải dùng thuốc có tính chọn lọc đối với sâu đục thân nói chung và sâu đục
thân 2 chấm nói riêng. Phun thuốc nước để trừ sâu đục thân thường cho hiệu quả
cao hơn phun thuốc bột. Dùng thuốc viên rắc để trừ sâu đục thân lúa tốt hơn so với
phun thuốc nước và thuốc bột. Kết hợp sử dụng thuốc hóa học trừ sâu với các biện
pháp khác cũng được khuyến cáo trong phòng trừ sâu đục thân 2 chấm (CABI,
2006; Abro et al., 2013; Chatterjee và Mondal, 2014).
1.2.2.3. Nghiên cứu về rầy nâu hại lúa Nilaparvata lugens (Stal)
Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal (Delphacidae: Hemiptera). Tên gọi khác:
Nilaparvata sordescens Muir, 1922; Delphacodes sordescens Muir, 1919;
Delphacodes parysatis Muir, 1917; Delphacodes anderita MMuir, 1917;
Delphacodes ordovis Muir, 1917; Delphax ordovix Kirkaldy, 1907; Delphax
parysatis Kirkaldy, 1907; Dicranotropis anderida Kirkaldy, 1907; Kalpa aculeata
Distant, 1906; Nilaparvata greeni Distant, 1906; Liburnia sordescens Melichar,
1903; Delphax sordescens De Motschulsky, 1863; Delphax lugens Stål, 1854
(CABI, 2006; Wikipedia, 2014c).
a) Phân bố địa lý và phạm vi ký chủ
Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal) được biết đến như một lồi sâu hại lúa từ
Học viện Nơng nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
rất lâu. Và nó trở thành sâu hại nguy hiểm ở các nước trồng lúa từ nửa sau thế kỷ
20. Rầy nâu có phân bố rộng ở các vùng trồng lúa nước như ở miền Nam, đông
Nam và Đông châu Á, những đảo phía nam Thái Bình Dương và ở Australia. Ngồi
ra, cịn thấy ở châu Phi, châu Mỹ (vùng nhiệt đới) (Preap et al., 2001b; Yin et al.,
2005; CABI, 2006; Jena và Kim, 2010; Hu et al., 2010; Gurr et al., 2011).
Cây lúa là cây ký chủ quan trọng nhất của rầy nâu, ngồi ra người ta cịn tìm
thấy rầy nâu trên các cây trồng khác và cỏ dại. Ở Nhật Bản đã ghi nhận có 29 lồi
thực vật là ký chủ phụ của rầy nâu nhưng ký chủ quan trọng là lúa dại (Ozya
peremis, O. glaberim và O. breviligulata), cỏ môi (Leersia henxadra),…. (CABI,
2006; Jena và Kim, 2010; Hu et al., 2010; Gurr et al., 2011)
b) Đặc điểm sinh thái
Ở vùng nhiệt đới châu Á, rầy nâu phát triển quanh năm nhưng một năm
thường có hai đỉnh cao về mật độ quần thể tương ứng với hai vụ lúa chính, mỗi vụ
có một đỉnh cao. Trong một vụ lúa rầy nâu có thể hồn thành từ 2 - 8 lứa nhưng
thực tế ở phía Nam Nhật Bản có 5 lứa rầy nâu/vụ. Trên những giống lúa có thời
gian sinh trưởng trung bình thường có 3 lứa rầy/vụ (Dale, 1994). Sự phát triển quần
thể rầy nâu phụ thuộc chặt chẽ vào nhiệt độ và ẩm độ. Nhiệt độ cao mật độ rầy nâu
cao và ngược lại. Ở nhiệt độ 28 - 300C và ẩm độ 70 - 80% quần thể rầy nâu đạt cao
nhất (Dale, 1994; CABI, 2006).
Việc gieo cấy những giống lúa mới có năng suất cao có tương quan rõ rệt tới
sự phát triển của rầy nâu. Những giống lúa thấp cây, đẻ nhiều, lá thẳng đứng tạo
điều kiện cho rầy nâu phát triển, cấy nhiều vụ lúa trong năm, cấy dầy, gieo vãi với
mật độ cao, bón nhiều đạm, bón phân khơng cân đối tạo điều kiện cho rầy nâu phát
triển thành dịch (CABI, 2006).
c) Thiên địch của rầy nâu hại lúa
Thành phần thiên địch của rầy nâu đã phát hiện rất phong phú. Tuy nhiên số lồi
thiên địch có thể gây tác động ảnh hưởng rõ rệt đến số lượng rầy nâu thì lại khơng
nhiều. Những lồi như vậy ở Thái Lan có khoảng 10-17 lồi, ở Ấn Độ có hơn 20 lồi, ở
Hàn Quốc có 14 lồi bắt mồi, ở Malaixia có 16 lồi. Nhiều nước ở vùng trồng lúa
Đơng Nam Á có 14 lồi, đó là các lồi bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis, nhện
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
sói vân đinh ba Pardosa pseudoannulata, bọ xít nước Microvelia douglasi, bọ rùa 8
chấm Harmonia octomaculata, bọ cánh cứng ngắn Paederus fuscipes, nhện lớn chân
dài hàm to Tetrragnatha spp., nhện linh miêu Oxyopes spp., nhện Araneus inustus, các
ong ký sinh trứng Oligosita yasusmatsui, Anagrus spp.,Gonatoceru spp., các ong ngoại
ký sinh Pseudogonatopus spp., Haplogonatopus apicalis, ruồi ký sinh Tomosvaryaella
spp. (CABI, 2006; Preap et al., 2001b; Prayana et al., 2013).
d) Biện pháp phòng chống
Biện pháp canh tác: Sử dụng các giống lúa kháng chống rầy. Bón phân hợp lý
cũng có tác dụng làm hạn chế mức độ gây hại của rầy nâu, bón phân chứa silic, kali sẽ
làm tăng tính chống chịu rầy nâu của cây lúa (CABI, 2006; Preap et al., 2001a).
Biện pháp sinh học: Thành phần thiên địch của nhóm rầy nâu khá phong phú,
nhưng có ít lồi quan trọng. Các loài ký sinh rầy nâu là các loài ong ký sinh thuộc
giống Telenomus, Tetrastichus, Trichogramma. Các loài bắt mồi ăn thịt cũng đóng
vai trị khá quan trọng trong tiêu diệt rầy nâu hại lúa ở các pha phát dục khác nhau.
Bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis, nhện sói vân đinh ba Pardosa
pseudoannulata, nhện Araneus inustus có hiệu quả trong phòng chống rầy nâu hại
lúa (Gurr et al., 2011; Prayana et al., 2013).
Biện pháp hóa học: Theo Chen et al. (2013) thuốc Virtako có hiệu lực cao
trong phịng trừ rầy nâu hại lúa. Biện pháp phòng trừ tổng hợp áp dụng đối với rầy
nâu hại lúa (Matteson, 2000; Prayana et al., 2013).
1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.3.1. Nghiên cứu về thành phần sâu hại lúa
Ở Việt Nam, thành phần sâu hại lúa và các đối tượng gây hại chính trên cây
lúa được đề cập đến trong Giáo trình cơn trùng Nông nghiệp (Bộ môn côn trùng,
2006) và trong những nghiên cứu của Cục BVTV (1995), Nguyễn Văn Đĩnh (2004),
Trung tâm BVTV phía Bắc (2006).
Thành phần sâu hại lúa ở Việt Nam cịn được một số tác giả khác cơng bố,
trong đó có cơng trình nghiên cứu của Phạm Văn Lầm (2000) tổng hợp tất cả các
tài liệu đã công bố và chỉ ra rằng ở Việt Nam có 133 lồi cơn trùng và nhện nhỏ
(thuộc 90 giống, 33 họ của 8 bộ côn trùng và nhện nhỏ) gây hại trên cây lúa.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
Trong tổng số 133 lồi đó chỉ có khoảng trên 40 loài thường xuyên xuất hiện trên
cây lúa và chỉ một số lồi gây hại chính là rầy nâu, rầy lưng trắng, sâu đục thân 2
chấm, sâu cuốn lá nhỏ, bọ xít dài, bọ trĩ, sâu năn, v.v. (Phạm Văn Lầm, 2000;
Phạm Bình Quyền, 2002).
Đến năm 2004 tại Việt Nam, tổng số lồi cơn trùng có mặt trên lúa là 461
lồi, trong đó 100 lồi gây hại song các đối tượng gây hại chủ yếu khoảng 20 loài
như: sâu đục thân lúa, sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu…Chúng gây hại với mật độ cao trên
diện tích rộng phân bố khắp các tỉnh trong phạm vi cả nước đã làm ảnh hưởng
nghiêm trọng đến năng suất và sản lượng lúa (Bộ mơn cơn trùng, 2006).
1.3.2. Nghiên cứu về sâu hại chính
1.3.2.1. Nghiên cứu về sâu cuốn lá nhỏ Cnaphalocrocis medinalis Guenee
a) Phân bố và thiệt hại do sâu cuốn lá nhỏ gây ra
Sâu cuốn lá nhỏ xuất hiện ở các vùng trồng lúa trong cả nước. Ở Việt Nam,
sâu cuốn lá nhỏ là loài sâu hại thứ yếu trong những năm 60 của thập kỷ trước,
nhưng từ thập kỷ 70 sâu cuốn lá nhỏ trở thành một dịch hại, trong những năm 1990
- 1994 sâu cuốn lá nhỏ đứng ở hàng thứ hai nguy hại sau rầy nâu. Trên đồng ruộng
sâu cuốn lá nhỏ gây hại từ giai đoạn mạ đến giai đoạn lúa trỗ, nặng nhất ở giai đoạn
đòng - trỗ. Năm 1990 - 1991 dịch sâu cuốn lá nhỏ gây hại nặng trên cả nước, năm
2001 sâu cuốn lá nhỏ gây hại 855.000 ha lúa ở các tỉnh phía Bắc, diện tích nhiễm và
nhiễm nặng do sâu cuốn lá nhỏ liên tục tăng và tăng ở mức cao, từ năm 1999 đến
năm 2003 là cao nhất trong cả nước lên tới 938.643 ha, trong đó diện tích bị hại
nặng là 182.950 ha, diện tích mất trắng là 272 ha, năm 2002 diện tích lúa nhiễm sâu
cuốn lá nhỏ ở các tỉnh miền Bắc là 748.904 ha trong đó diện tích nhiễm nặng là
270.362 ha (Cục BVTV, 2005). Riêng vụ mùa 2003 sâu cuốn lá nhỏ có mật độ rất
cao, diện phân bố rộng, diện tích do sâu cuốn lá nhỏ gây hại ở 26 tỉnh phía Bắc lên
tới 412.146 ha, nặng 226.754 ha, năm 2005 diện tích do sâu cuốn lá nhỏ gây hại có
xu hướng giảm hơn năm trước. Vụ xuân 2006 sâu cuốn lá nhỏ gây hại ở mức bình
thường nhưng có diện tích nhiễm và mật độ sâu cao hơn vụ xuân năm trước (Cục
BVTV, 2006, 2007).
Sâu cuốn lá nhỏ là loài đa thực gây hại trên nhiều cây trồng nông nghiệp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14