1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ
KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Tên sáng kiến: Một số giải pháp giúp nâng cao chất lượng phân môn tập
làm văn lớp 5B ở trường TH&THCS Sơn Nguyên
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Đổi mới một số biện pháp rèn luyện kỹ năng làm văn nhằm nâng cao hiệu
quả giáo dục ở phân môn tập làm văn cho học sinh lớp 5B năm học 2019-2020
trường TH&THCS Sơn Nguyên.
3. Mô tả các giải pháp cũ thường làm:
Nếu trước trước đây dạy phần Tập làm văn miêu tả trong môn Tiếng việt lớp
5 theo đặc thù bộ môn một cách thông thường, thì vẫn giúp học sinh tiếp thu và hiểu
bài. Nhưng kết quả thực tế cho thấy tỉ lệ học sinh Khá - Giỏi không cao và tỉ lệ học
sinh trung bình cao, trong đó vẫn có học sinh xếp loại yếu, học sinh chưa hoàn
thành theo yêu cầu của chương trình.
Qua một thời gian giảng dạy phân mơn Tập làm văn theo chương trình sách
giáo khoa, tơi nhận thấy việc dạy và học phân mơn Tập làm văn có một số khó khăn
nhất định đó là:
- Đa số học sinh tỏ ra lúng túng khi làm bài, do vốn từ ngữ của các em còn
nhiều hạn chế, chưa biết cách mở rộng câu đúng thành câu hay.
- Các em chưa nắm chắc cách trình bày bài văn.
- Chưa biết cách sử dụng câu nêu ý chính bao trùm cho cả đoạn văn, cách
chuyển ý giữa các đoạn, làm cho các đoạn văn trong bài văn còn rời rạc và chưa
logic.
- Trong khi viết các em chưa biết cách sáng tạo và bộc lộ cảm xúc của mình.
- Một số em sử dụng biện pháp so sánh nhưng còn cứng nhắc.
Xuất phát từ những thực trạng trên bản thân tôi đã tìm tịi, mạnh dạn trao đổi
với giáo viên trong tổ chuyên môn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng dạy phân môn tập làm văn cho học sinh lớp 5B như sau “Một số giải pháp
giúp nâng cao chất lượng phân môn tập làm văn lớp 5B ở trường TH&THCS Sơn
Nguyên” năm học 2019-2020 để nghiên cứu.
4. Sự cần thiết áp dụng giải pháp sáng kiến:
Tập làm văn là một phân mơn mang tính tổng hợp và sáng tạo cao. Tổng hợp
các kiến thức, kĩ năng từ Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu,... để viết
nên một bài Tập làm văn.
Vì vậy để đổi mới phương pháp dạy mơn Tiếng Việt nói chung và phân mơn
Tập làm văn nói riêng một cách có hiệu quả, quan trọng nhất vẫn là những người
2
giáo viên biết nắm bắt thực tế đối tượng học sinh mình đang dạy, và từ đó linh hoạt
vận dụng phương pháp phù hợp để đạt hiệu quả cao trong mỗi giờ dạy. Đồng thời
địi hỏi giáo viên phải ln tìm tịi, có sáng kiến mới trong mỗi giờ dạy của mình, để
giúp các em học tập tốt hơn. Từ lâu tôi lấy quan niệm về sự đổi mới giáo dục của
nhà sư phạm nổi tiếng người Mĩ là J.Dewey làm phương châm cho mình trong
giảng dạy. Ơng quan niệm: “Học sinh là mặt trời xung quanh nó quy tụ mọi phương
diện giáo dục” và “Nói khơng phải là dạy học, nói ít hơn, chú ý nhiều đến việc tổ
chức hoạt động của học sinh”. Tư tưởng coi học sinh là trung tâm của J.Dewey là
muốn bổ sung nguồn kiến thức cho học sinh, dạy học không chỉ là truyền dạy một
khối kiến thức, mà phải chú ý phát triển kĩ năng cho người học là hấp dẫn, hứng thú
với vấn đề cần học. Trải qua nhiều năm công tác, từ trong thực tiễn giảng dạy, bản
thân tôi đã đúc kết cho mình một số kinh nghiệm về dạy học phân mơn Tập làm văn
lớp 5. Với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giáo dục
của nhà trường nói chung và chất lượng của học sinh trong việc học phân mơn Tập
làm văn nói riêng. Từ những kinh nghiệm được tích lũy trong thực tiễn đó, tơi xin
trình bày thành đề tài sáng kiến cụ thể là: “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt
phân môn Tập làm văn lớp 5B ở trường TH&THCS Sơn Nguyên”. Mặc dù chỉ là
sáng kiến của cá nhân, sau khi được áp dụng vào thực tế giảng dạy học sinh của lớp
mình phụ trách, đã đạt được một số kết quả tốt hơn.
5. Mục đích của giải pháp sáng kiến:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất một số biện pháp, qua việc đổi mới
phương pháp dạy phân môn Tập làm văn ở lớp 5B, nhằm giúp học sinh học Tập
làm văn một cách tốt hơn, từ đó khơi dậy khả năng, năng khiếu làm văn. Qua đó
góp phần giúp các em học tốt các mơn Tiếng việt nói riêng và các mơn học khác nói
chung. Đặc biệt giúp các em phát triển khả năng diễn đạt, dùng từ trong viết và nói.
6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:
Đề tài được áp dụng từ nữa cuối tháng 9 năm 2019 đến tháng 3 năm 2020 của
năm học học 2019-2020
7. Nội dung:
7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến:
Trong giới hạn và phạm vi của đề tài, để phù hợp với điều kiện học sinh lớp
mình, tơi mạnh dạn đề ra một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn Tập làm
văn lớp 5B ở trường TH&THCS Sơn Nguyên năm học 2019-2020 (lớp tôi chủ
nhiệm).
7.1.1. Yêu cầu đối với giáo viên:
Người Giáo viên có vai trị rất quan trọng và ảnh hưởng vô cùng to lớn đối
với học sinh vì họ là những người chủ đạo tổ chức việc học của học sinh, chính vì
thế bản thân người Giáo viên cần phải:
3
- Tạo động cơ học tập bền vững ở học sinh để cho các em có hứng thú, có
một nội lực thúc đẩy liên tục trong học tập nói chung và trong học tập mơn tập làm
văn nói riêng.
- Theo tôi, người giáo viên cần xác định rõ: vấn đề cơ bản đầu tiên trong công
tác bồi dưỡng học sinh giỏi không phải là cung cấp kiến thức, mà là xây dựng cho
các em một phương pháp học tập, cách tiếp cận và chiếm lĩnh kiến thức một cách
khoa học, từ đó các em có một nhãn quan biện chứng để học tốt không chỉ phân
môn tập làm văn mà cịn cả các mơn học khác thậm chí cả cách làm việc và suy
nghĩ.
- Luôn học hỏi đồng nghiệp và tự học để nâng cáo trình độ bản thân và nâng
cao tay nghề.
- Phải đầu tư thật kĩ bài dạy trước khi lên lớp.
- Phải hết sức nhạy bén và ứng xử kịp thời các tình huống phát sinh khi giảng
dạy bằng cách chú ý lắng nghe ý kiến của học sinh tìm ra ưu khuyết điểm chính của
học sinh để nhận xét tổ chức sửa chữa, góp ý đánh giá.
- Giáo viên cũng cần rèn cho học sinh kĩ năng nhận xét bài bạn để từ đó nhận
biết được những chỗ hay hoặc chưa hay khi làm bài của mình. Ví dụ: chỉ cần chỉ rõ
bài bạn hay là vì bạn biết dùng từ ngữ liên kết câu, bạn biết sử dụng các hình ảnh so
sánh, nhân hóa..., bạn biết lồng cảm xúc của mình vào bài viết và điều quan trọng là
giáo viên cần phải giúp học sinh chỉ rõ ra những từ ngữ, câu hay cho lớp tham khảo.
Điều này vừa động viên được những em làm bài hay, vừa khơi dậy cho học sinh
những ý tưởng, sáng tạo mới, học sinh cảm thấy có thêm nguồn động lựcđể thi đua
học tập, để bài của mình được cô và các bạn đọc trước lớp như vậy. Bên cạnh đó
những hạn chế trong bài của học sinh, giáo viên cũng cần tế nhị khi nhận xét. Tuyệt
đối không dùng những câu đại loại; ý nghèo nàn quá, bài đủ ý, bài yếu hoặc em
khơng có chuẩn bị bài sao ?...Điều đó sẽ làm cho các em như bị dội gáo nước lạnh
vào mặt. Người giáo viên cần thận trọng, trước tiên cần tìm cho bằng được những
ưu điểm trong bài làm của bé dù nó chỉ là nhỏ nhoi để tuyên dương trước lớp rồi từ
từ cho các em chỉnh sửa, bổ sung cho câu văn hay hơn, hoàn chỉnh hơn.
- Người giáo viên cần thay đổi nhiều hình thức học tập để tạo cơ hội cho
nhiều học sinh cùng được tham gia trình bày ý kiến của mình.
VD: Tổ chức học nhóm 4 để các em được nói cho nhau nghe ý kiến của mình
(vì có những em rất ngại nói trước lớp và ngại nói cho giáo viên nghe, trái lại khi
cùng tham gia vói các bạn mình thì các em rất tích cực). Trong lúc này giáo viên
cần đến tận nơi, từng bàn để lắng nghe và gợi ý, định hướng cho các em xây dựng
bài...Được tham gia phát biểu, dần dần những em nhút nhát sẽ cảm thấy mạnh dạn
và tự tin hơn khi đứng nói trước lớp. Bên cạnh đó phương tiện trực quan, các hình
thức tổ chức trị chơi, thi đua... cũng khơng kém phần lơi cuốn HS học tập tích cực
hơn.
- Khi chấm bài giáo viên cũng cần có sự nhận xét cụ thể về những lỗi sai của
học sinh để định hướng cho học sinh khắc phục trong lần sau.
4
- Nên tập cho các em có thói quen học tập các ý hay trong bài văn mẫu, đoạn
hay, bài làm hay của bạn, từ sách báo tham khảo và được tạo thói quen ghi chép lại
trong sổ tay văn học của mình.
7.1.2. Yêu cầu đối với học sinh:
- Hết sức chú ý nghe giảng, có sự chuẩn bị bài trước khi đến lớp.
- Cụ thể hoá những ý nghĩ chung của bạn thành ý riêng của mình bằng cách
tự lập một hệ thống dàn bài riêng của mình phù hợp với yêu cầu của đề.
- Mạnh dạn, tự tin phát biểu ý kiến để các bạn xây dựng cho mình.
- Tập cho mình có thói quen đọc sách báo hàng ngày để cập nhật thông tin bổ
sung cho bài làm của mình thêm sâu sắc hơn. Tuyệt đối tránh máy móc rập khn
theo bài mẫu.
7.1.3. u cầu đối với việc tổ chức giờ học cho học sinh:
Để tiến hành mỗi hoạt động trong từng tiết học có hiệu quả, giáo viên lần
lượt phải thực hiện linh hoạt các bước sau:
Cung cấp vốn từ ngữ cho học sinh:
Để học sinh học tốt phân môn Tập làm văn, trước hết thực hiện yêu cầu của
đề bài nào đó, qua đó giáo viên cần giúp hoc sinh hệ thống hóa các từ ngữ thuộc
chủ đề bài học, để học sinh có vốn từ ngữ khi vận dụng vào làm bài. Từ đó giúp các
em đỡ lúng túng khi sử dụng từ ngữ khi viết.
Ví dụ: Khi dạy bài Tập làm văn: Viết một đoạn văn tả cảnh sông nước (Tiếng
Việt 5- Tập 1- trang 74).
Giáo viên cần giúp học sinh hệ thống hóa các từ ngữ thuộc chủ đề sơng nước
như: lăn tăn; êm đềm; man mác; quanh co, xanh thẳm, lung linh…
Mở rộng câu đúng thành câu hay:
Do kĩ năng đặt câu của học sinh còn nhiều hạn chế, nên giáo viên cần giúp
cho các em ôn luyện cách đặt câu đúng, và biết cách mở rộng thành câu hay để sử
dụng trong bài văn.
Ví dụ: Khi dạy bài: Viết đoạn văn tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều)
trong vườn cây (hay trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy).
(Tiếng Việt 5- Tập 1- trang 22). Sau khi giúp học sinh xác định đề bài, giáo viên
cần giúp các em cách đặt câu đúng và từ câu đúng mở rộng thành câu hay vận dụng
vào bài làm.
+ Chẳng hạn: Mặt trời mọc (câu đúng). Mở rộng: “Ở chân trời phía Đơng,
ơng mặt trời từ từ dâng cao trên đỉnh núi”. Hoặc “Mặt trời vừa nhô lên khỏi rạng
tre, xua tan những đám sương mù dày đặc…”
+ Chim hót (câu đúng). Mở rộng: “Trong vịm lá xanh, con chim chào mào
hót líu lo như đón chào ngày mới”…
Tìm hiểu cấu tạo bài văn tả cảnh hoặc tả người;
- Từ một văn bản mẫu, giáo viên hướng dẫn học sinh xác định mở bài, thân
bài, kết bài của bài văn tả cảnh, tả người.
- Cho học sinh rút ra ghi nhớ về cấu tạo của bài văn tả cảnh, tả người.
5
- Sau đó lưu ý cho học sinh về cách trình bày bài văn sao cho tách bạch rõ 3
phần của một bài tập làm văn.
Phân tích các văn bản mẫu:
Với các văn bản mẫu, giáo viên hướng dẫn học sinh tập trung vào việc tìm
hiểu cái hay, cái đẹp trong bài văn. Đồng thời cũng chú tâm vào việc tìm hiểu cách
sử dụng các giác quan khi quan sát và cách chọn lọc chi tiết để tả. Ngoài ra cịn có
thể kết hợp với việc quan sát các cảnh vật thơng qua tranh, ảnh.
Ví dụ: Bài “Luyện tập tả cảnh” - Sách Tiếng Việt 5- Tập 1 – trang 14.
- Cho học sinh đọc bài văn “Buổi sớm trên cánh đồng”.
- Giáo viên hướng dẫn cho học sinh phân tích bài văn bằng các câu hỏi:
+ Tác giả tả những sự vật gì trong buổi sớm mùa thu?
+ Tác giả quan sát sự vật bằng những giác quan nào?
+ Tìm một chi tiết thể hiện sự quan sát tinh tế của tác giả.
- Sau khi tìm hiểu xong bài văn, giáo viên cần nhấn mạnh cho học sinh thấy
nghệ thuật quan sát và chọn lọc chi tiết tả cảnh của tác giả.
* Bài “Luyện tập tả cảnh” – Tiếng Việt 5- Tập 1- trang 21.
- Yêu cầu của bài này là học sinh phân tích hai văn bản “Rừng trưa” và
“Chiều tối” để thấy được những hình ảnh đẹp trong mỗi bài văn.
- Cách tiến hành bài này là:
+ Cho học sinh đọc lần lượt từng bài văn.
+ Giáo viên giới thiệu tranh ảnh về rừng tràm cho học sinh quan sát.
+ Cho học sinh nêu ý kiến về hình ảnh mà các em thích trong mỗi bài văn. Có
thể u cầu các em nêu lí do vì sao mình thích hình ảnh đó.
- Giáo viên cần tơn trọng ý kiến học sinh, đặc biệt khen ngợi những em tìm
được những hình ảnh đẹp.
- Sau cùng, giáo viên chốt lại những hình ảnh đẹp từng bài văn và hướng cho
học sinh đưa ra những hình ảnh đẹp vào bài văn miêu tả.
Quan sát lập dàn ý chi tiết:
Để làm tốt được bài văn miêu tả, giáo viên yêu cầu học sinh có sự chuẩn bị
bài trước khi đến lớp. Đó là nhắc các em quan sát kĩ cảnh vật, sự vật hoặc một
người nào đó trước khi vào học bài mới, điều này giáo viên nhắc nhở các em trong
phần dặn dò cuối buổi học. Bởi học sinh hay nghĩ rằng với cảnh vật quen thuộc
hàng ngày, thì khơng cần quan sát lại, điều này là hoàn toàn sai lầm. Sự tiếp xúc
hằng ngày chỉ cho ta nhận biết hời hợt, chung chung, chưa tồn diện. Có quan sát kĩ
nhiều mặt, nhiều lượt bằng nhiều giác quan thì mới có những hiểu biết đầy đủ,
phong phú và chính xác. Quan sát trực tiếp cịn cho ta cảm xúc “nóng hổi” để đưa
vào bài viết, tránh được sự tẻ nhạt.
Bên cạnh, giáo viên cần nhắc các em quan sát phải đi đơi với việc tìm từ ngữ
để diễn tả đúng và sinh động điều đã quan sát được.
Cân nhắc để lựa chọn được một thứ tự sắp xếp các chi tiết sẽ tả mà mình coi
là thích hợp hơn cả.
6
Khi vào học bài mới, giáo vên luôn luôn nhắc học sinh nhớ: Mỗi bài văn cần
có bố cục 3 phần: Mở bài, thân bài, kết bài. Với mỗi bài văn, công việc đầu tiên của
tôi là yêu cầu học sinh tìm hiểu đề bài, học sinh đọc kĩ đề bài nhiều lần rồi trả lời
các câu hỏi về vấn đề chính trong đề bài. Đề bài thuộc thể loại gì? Đề bài yêu cầu tả
gì?
Giáo viên gạch chân bằng phấn màu dưới các từ ngữ quan trọng để học sinh
chú ý. Nếu đối tượng miêu tả không thực tế và gần gũi với học sinh (Tả cảnh con
sông, tả cảnh ở cơng viên,…), thì giáo viên cần giới thiệu một số tranh ảnh minh
họa cho học sinh quan sát.
Hướng dẩn học sinh lập dàn ý từ những điều quan sát được.
Ví dụ: * Quan sát trường em. Từ những điều đã quan sát được, lập dàn ý cho
bài văn miêu tả ngôi trường (sách Tiếng Việt 5 - Tập 1 - Trang 43)
Trước khi hướng dẫn học sinh lập dàn ý, nhắc học sinh một số điểm lưu ý:
+ Có thể tả ngơi trường vào một thời điiểm nhất định (sáng, trưa, chiều mùa
đơng - mùa hè..). Cũng có thể tả ngôi trường với cảnh sắc thay đổi theo thời gian
(Từ sáng đến chiều, từ mùa xuân đến mùa hè).
+ Nên tả theo trình tự quan sát từ xa đến gần, từ ngoài vào trong… hoặc
ngược lại, tả gần đến xa, từ trong ra ngồi.
+ Ngơi trường nào cũng gắn với các hoạt động của thầy và trò.Tuy nhiên chỉ
nên tả lướt qua hoạt động này, để không biến bài văn tả cảnh thành bài văn tả cảnh
sinh hoạt.
Sau khi nêu một số điểm lưu ý để học sinh nhớ, giáo viên hướng dẫn học sinh
cách lập dàn bài.
- Giúp học sinh nắm yêu cầu của bài: Miêu tả ngơi trường.
- Nhắc học sinh: Dàn ý cũng cần có đủ ba phần: Mở bài, thân bài, kết bài.
- Phần mở bài cần giới thiệu bao quát:
+ Vị trí của ngôi trường: Ngôi trường nằm ở đâu? Quay mặt về hướng nào?
+ Nêu đặc điểm nổi bật của ngôi trường.
Phần thân bài gồm các ý: Tả từng phần của cảnh trường:
+ Cổng trường (cổng như thế nào? Bảng tên trường ra sao?)
+ Sân trường (Sân trường ra sao? Cột cờ, cây cối như thế nào?)
+ Lớp học (Các tòa nhà như thế nào? Các lớp học được trang trí ra sao?)
- Phần kết bài cần nêu cảm nghĩ của em về ngôi trường.
Như vậy, mỗi em mỗi ý, mỗi vẻ khác nhau nhưng đều đảm bảo đủ ý chính.
Chuyển một phần dàn ý thành đoạn văn:
Để học sinh diễn đạt bài văn của mình một cách sinh động, có nghệ thuật, các
em thường được trau dồi qua tiết học “Chuyển một phần dàn ý thành đoạn văn”.
- “Một phần của dàn ý” có thể là mở bài, kết bài, cũng có thể là một phần của
thân bài.
- Phần này, giáo viên cần nhắc nhở các em vận dụng cách mở rộng câu đúng
thành câu hay để đưa vào bài văn.
* Phần mở bài:
7
Các em có thể mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp, có em có thể mở bài chỉ bằng
một câu, nhưng cũng có em mở bài bằng cả một đoạn văn. Nhưng không ai được
tách rời nội dung đã xây dựng được. Ở đây, tùy nghệ thuật vào bài văn của mỗi em
mà giáo viên góp ý khơng nên gị bó áp đặt.
Ví dụ: Đề bài: “…Miêu tả một cảnh sông nước (Một vùng biển, một con
sông, một con suối hay một hồ nước) (Tiếng việt 5- Tập 1 - Trang 62).
- Có em mở bài thẳng ln vào đề: “Quê em có một con suối rất đẹp”.
- Có em mở bài rất sinh động: “Mỗi miền quê có một vẻ đẹp riêng. Q
hương tơi có một dịng suối hiền hịa quanh năm nước chảy”.
Nhờ khuyến khích học sinh diễn đạt phần mở bài bằng những cách khác
nhau, mà vẫn đảm bảo nội dung chính, các em đã viết được nhiều bài văn hay, có
tính nghệ thuật.
* Phần thân bài:
- Đa phần các em rơi vào tình trạng liệt kê các chi tiết của cảnh, hoặc của
người.
Ví dụ: Mẹ em có mái tóc dài, dáng người cao, hàm răng trắng,…Vì vậy giáo
viên cần lưu ý cách mở rộng câu đúng thành câu hay, để học sinh vận dụng thì bài
văn sẽ hay hơn.
- Điều quan trọng là lưu ý cho học sinh phải bám vào các chi tiết đã lập ở dàn
bài, để chuyển thành bài văn, đoạn văn. Tránh một số trường hợp học sinh viết bài
văn một cách ngẫu hứng, không bám theo dàn ý đã lập, làm cho bài văn có thể sẽ
mất đi tính lơgic hay tính cân đối, do khơng chủ động được thời gian.
* Phần kết bài:
Có nhiều cách kết bài khác nhau: kết bài mở rộng, kết bài không mở rộng,
nhưng tất cả đều phải xuất phát từ nội dung chính. Vì vậy, giáo viên cần giúp các
em nêu cảm xúc một cách chân thực, tránh sáo rỗng. Đồng thời mở rộng thêm về ý
thức, trách nhiệm giữ gìn đối với cảnh và nêu việc làm cụ thể để bày tỏ cảm xúc
chân thực.
Viết thành bài văn hoàn chỉnh:
Để giúp học sinh viết một bài văn hồn chỉnh, tơi tiến hành các bước:
+ Tập diễn đạt câu văn có hình ảnh và sử dụng một số biện pháp nghệ thuật
đã học.
- Để tiến hành, tôi gợi ý cho các em những câu hỏi dễ hiểu, dễ nhớ.
- Tôi luôn hướng dẫn các em biết cách lựa chọn chi tiết, diễn đạt bằng câu
văn có hình ảnh và sử dụng một số biện pháp tu từ đã học như: so sánh, nhân hóa…
trong các kiểu bài tập làm văn.
+ Tuy nhiên khi vận dụng những hình ảnh so sánh, nhân hóa đơi khi học sinh
dùng những hình ảnh chưa chính xác.
* Chẳng hạn với đề bài: “Tả một người thân trong gia đình em”. Có em chọn
tả chị gái của mình.Tơi hỏi:
+ Hình dáng (mái tóc, hàm răng, nước da…) của chị tả như thế nào?
- Học sinh nêu:
8
+ Mái tóc của chị đen và dài như những sợi dây.
+ Nước da của chị đen như mun.
+ Răng của chị rất trắng…
- Chính vì thế, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh biết cách dùng những
hình ảnh so sánh hợp lí hơn.
Ví dụ: Mái tóc của chị gái em đen và mượt mà như dòng suối xõa xuống
ngang vai. Mỗi khi chị cười để lộ hành răng trắng đều như hạt bắp. Chị em có làn
da ngăm đen nhưng trơng chị rất có dun.
- Tương tự, trong các đề bài khác giáo viên cũng nên hướng dẫn cho các em:
+ Cô hiền như cô Tấm trong truyện cổ tích.
+ Mái tóc của bà trắng như mái tóc của các diễn viên trong tuồng chèo.
- Ngoài ra, giáo viên nên kết hợp những câu hỏi gợi ý để giúp học sinh bổ
sung, sửa chữa các câu văn, đoạn văn chưa sử dụng biền pháp nghệ thuật.
Bộc lộ cảm xúc trong bài văn:
- Ngoài việc giúp học sinh sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong các câu
văn, giáo viên cần giúp học sinh biết bộc lộ cảm xúc trong bài văn. Bởi một bài văn
hay không thể thiếu được cảm xúc của người viết. Cảm xúc không chỉ bộc lộ ở phần
kết bài, mà còn cần thể hiện trong từng câu, từn đoạn của bài văn. Điều này chúng
ta cần gợi ý cho các em một cách cụ thể trong từng bài.
Ví dụ:
- Được sống với ơng bà em thấy như thế nào? (Bà gần gũi, chăm sóc em chu
đáo như một bà tiên hiền hậu, em luôn giúp bà làm mọi việc để bà đỡ vất vả).
- Được bà chăm sóc hằng ngày em nghĩ gì? (Tình cảm gần gũi thương yêu
của bà, như chắp cánh cho em vững bước trong cuộc đời)
Tương tự như vậy, tôi yêu cầu học sinh đưa ra những suy nghĩ, cảm xúc nhận
xét trước một sự vật, hay một hiện tượng bất kì. Bài văn của học sinh tránh được
những nhược điểm khô khan, liệt kê sự việc, mà ngược lại thể hiện cảm xúc dồi dào
của người viết.
Giáo viên chấm bài và trả bài viết
Chương trình Tập làm văn lớp 5 có 3 tiết trả bài tả cảnh, 3 tiết trả bài tả
người, 4 tiết trả bài kể chuyện, đồ vật, cây cối, con vật. Ta nhận thấy rằng có chấm
bài chu đáo thì mới có tiết trả bài đạt hiệu quả.
a. Chấm bài:
Khi chấm bài Tập làm văn cho học sinh, mỗi bài tôi đọc qua một lượt để có
cái nhìn chung về bố cục, về diễn đạt của học sinh, xem thử học sinh đã làm bài
đúng thể loại, nội dung và trọng tâm bài viết chưa. Tôi ghi ra sổ chấm bài những
chỗ hay, chưa hay hoặc sai những lỗi gì...của từng HS. Khi chấm điểm xong cho cả
lớp, tôi đánh giá chung kết quả bài làm của học sinh và rút ra những tiến bộ cần
phát huy, và những thiếu sót cần sửa chữa bổ sung để chuẩn bị cho tiết trả bài sắp
tới…..
b. Trả bài viết:
9
Nội dung, phương pháp lên lớp một tiết trả bài Tập làm văn viết lớp 5, có 3
hoạt động chính:
1. Nghe cô nhận xét chung về kết quả bài làm của lớp.
2. Chữa bài.
3. Đọc tham khảo các bài văn hay được cô giáo khen để học tập và rút kinh
nghiệm.
Để tiết trả bài viết đạt hiệu quả, giáo viên cần lấy thông tin từ bài viết của học
sinh (đã chấm và ghi ở sổ chấm bài) và thực hiện các hoạt động trả bài một cách bài
bản, có linh hoạt tuỳ theo tình hình chất lượng Tập làm văn của lớp.
Hoạt động 1: Nhận xét chung về bài làm của lớp gồm các bước sau:
Bước 1: Đánh giá việc nắm vững các yêu cầu của đề bài (ghi đề, học sinh đọc
đề bài, xác định 3 yêu cầu: thể loại, nội dung và trọng tâm). Đánh giá tình hình làm
bài của lớp về mặt nhận thức đề (số bài đã đạt 3 yêu cầu của đề, số bài chưa đạt
hoặc đạt chưa đủ 3 yêu cầu. Biểu dương cá nhân, cả lớp...).
Bước 2: Đánh giá về nội dung bài viết (cho học sinh nêu dàn ý chung của
kiểu bài tả cảnh,(tả người )… Đọc một vài đoạn văn đã chọn sẵn cho học sinh nghe
và nhận xét, cuối cùng giáo viên đánh giá chung về nội dung đoạn văn đó.
Hoạt động 2: Chữa bài: Nội dung và cách thức thực hiện sửa chữa lỗi diễn
đạt:
Việc sửa chữa lỗi diễn đạt dựa trên cơ sở bài làm của cả lớp mà trong quá
trình chấm bài, GV đã ghi ra các câu có vấn đề về ngữ pháp, các lỗi chính tả … Đến
lúc này GV tổ chức, hướng dẫn cho HS nhận xét, sửa chữa. Định hướng như vậy sẽ
giúp cho việc sửa chữa lỗi sát hợp và kịp thời uốn nắn kĩ năng diễn đạt cho lớp. Tuy
nhiên, sửa như vậy sẽ dẫn đến tình trạng nhàm chán trong HS vì tiết trả bài nào
cũng sửa chữa những lỗi đó.
Riêng tơi, ngay từ đầu năm học đã lên kế hoạch sửa lỗi diễn đạt cho lớp,
mỗi tiết trả bài viết tập trung sửa chữa cho một hoặc hai loại lỗi nào đó một cách
bền vững, tức là cần có trọng tâm sửa lỗi cho từng tiết.
* Hoạt động 2 này tiến hành theo 3 bước:
Bước 1: Tham gia chữa lỗi chung cho cả lớp:
Ví dụ: Tiết trả bài viết số 1(tả cảnh, tuần 5): Trọng tâm sửa lỗi là luyện từ câu và thực trạng viết câu.
Bước 2: Học sinh đọc lại bài làm của mình, chú ý những chỗ mực đỏ ghi lời
khen, chê của cơ giáo. (Ví dụ: câu hay, đoạn hay, hoặc lỗi dùng từ, lỗi viết câu, lỗi
chính tả…)
Bước 3: Học sinh tự chữa bài vào vở tập làm văn.
Hoạt động 3:
Đọc tham khảo một số đoạn, hoặc vài bài văn hay của một số em cho cả lớp
nghe để học tập và rút kinh nghiệm.
Tóm lại: Việc rèn luyện kĩ năng viết văn, các em không chỉ thực hiện ở cấp
Tiểu học hay Trung học mà việc viết văn nói riêng cũng như khả năng diễn thuyết,
trình bày ngơn ngữ cần phải được rèn luyện suốt đời, rèn luyện đến mức nhuần
10
nhuyễn thì mới có thể nâng cao chất lượng bộ mơn nói riêng và chất lượng giáo dục
nói chung. Qua đó giúp học sinh sử dụng từ ngữ trong sáng, lưu lót trong văn nói ở
cuộc sống sau này.
7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến:
Tôi tập trung vào việc đổi mới một số biện pháp rèn luyện kĩ năng tập làm
văn ở phân môn tập làm văn nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục ở môn Tiếng việt
cho học sinh lớp 5B trường TH&THCS Sơn Nguyên năm học 2019-2020.
7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến:
Kết quả sự tiến bộ của học sinh trong việc đánh giá thông qua kết quả phân
môn tập làm văn nói riêng cũng như mơn Tiếng việt được thể hiện qua bảng tổng
hợp chất lượng học tập của học sinh đầu năm và ở cuối học kỳ I:
(Có phụ lục bài kiểm tra kèm theo)
* Hiệu quả về kinh tế:
- Lớp 5B học kỳ I năm học 2019-2020:
Kết quả đánh giá xếp loại học kỳ I:
Kết quả đánh giá phân mơn tập làm
văn
KỲ XẾP T/SỐ
LOẠI
HS
T.tác
động
S.tác
động
H/
thànhtốt
Hồn
thành
Kết quả đánh giá mơn Tiếng việt
Chưa hồn
thành
H/
thànhtốt
Hồn
thành
Chưa hồn
thành
S/l
T/ lệ
S/l
T/ lệ
S/l
T/ lệ
S/l
T/ lệ
S/l
T/ lệ
S/l
T/ lệ
30
8
26,7
22
73,3
0
0,0
9
30,0
21
70,0
0
0,0
30
12
40,0
18
60,0
0
0,0
13
43,3
17
56,7
0
0,0
80
70
60
50
40
Hoàn thành tốt
Hoàn thành
30
Chưa hoàn thành
20
10
0
Trước tác động
Sau tác động
Biểu đồ thể hiện kết quả đánh giá xếp loại phân môn tập làm văn
11
70
60
50
Hoàn thành tốt
40
Hoàn thành
30
Chưa hoàn thành
20
10
0
Trước tác động
Sau tác động
Biểu đồ thể hiện kết quả đánh giá xếp loại học tập môn Tiếng việt
* Hiệu quả về xã hội:
Qua quá trình áp dụng các giải pháp trên, tơi thấy kĩ năng làm văn của học
sinh ngày càng có chuyển biến rõ rệt thể hiện sự tiến bộ trong phân môn tập làm
văn nói riêng và mơn Tiếng việt nói chung, ngồi ra học sinh cịn tiến bộ các mơn
học khác. Bên cạnh đó các em đã mạnh dạn xung phong đọc khả năng sử dụng ngôn
ngữ trong cuộc sống lưu lót, biết trình bày ý tưởng trước nhóm, tập thể,.... Nhiều em
bộc lộ năng khiếu viết văn. Với kết quả trên tơi sẽ duy trì và áp dụng vào giảng dạy
để cuối năm học chất lượng giáo dục học sinh lớp 5B sẽ nâng cao hơn nữa.
* Cam kết: Tôi cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật và không
sao chép hoặc vi phạm bản quyền.
Sơn Nguyên, ngày 20 tháng 3 năm 2020
XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ
Tác giả đề tài
12
8. Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) - Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 - Tập 1,
tập 2- Nhà xuất bản Giáo dục – Năm 2006
2. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) - Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 5 - Tập 1,
tập 2- Nhà xuất bản Giáo dục – Năm 2006
3. Những tài liệu liên quan đến việc dạy văn miêu tả Thế giới trong ta,
chuyên đề số: CĐ-TV 2005
4. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học lớp 5-Nhà xuất
bản Giáo dục – Năm 2009
5. Sách tham khảo: Một số biện pháp dạy học văn miêu tả ở Tiểu học- NXBTPHCM.Năm 2005
6. Sách tham khảo: Giúp em học giỏi Tập làm văn lớp 5 của Võ Thị Minh
Trang( tái bản lần thứ ba) – NXB – ĐH Quốc Gia Hà Nội.