Phần CÚ PHÁP HỌC
NỘI DUNG MÔN HỌC
Bài 1: Sơ lược về lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt
Bài 2: Tổng quan về câu tiếng Việt
Bài 3: Các phương pháp phân tích câu tiếng Việt
Bài 4: Vận dụng ngữ pháp tiếng Việt
Tài liệu tham khảo
1. Diệp Quang Ban. (2005). Ngữ pháp tiếng Việt. Hà Nội: NXB
Giáo dục.
2. Diệp Quang Ban. (2009). Ngữ pháp Việt Nam. Hà Nội: NXB
Giáo dục.
3. Nguyễn Tài Cẩn. (1975). Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ. Hà
Nội: NXB Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, Hà Nội (Sách
được Nhà xuất bản Đại học Quốc gia (tái bản nhiều lần).
4. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) – Đoàn Thiện Thuật & Nguyễn
Minh Thuyết. (2011). Dẫn luận Ngôn ngữ học. Hà Nội: NXB Giáo
dục.
5. Cao Xuân Hạo. (1991). Tiếng Việt – Sơ thảo Ngữ pháp chức
năng. TP. Hồ Chí Minh: NXB KHXH.
6. Nguyễn Văn Hiệp. (2012). Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp.
Hà Nội: NXB Giáo dục.
7. Đỗ Thị Kim Liên. (1999). Ngữ pháp tiếng Việt. Hà Nội: NXB Giáo
dục.
8. Nguyễn Thị Lương. (2016). Câu tiếng Việt. Hà Nội: NXB Đại học
Sư phạm.
9. Hoàng Trọng Phiến. (1997). Ngữ pháp tiếng Việt - Câu. Hà Nội:
NXB ĐH và THCN.
10. Nguyễn Kim Thản. (2008). Cơ sở Ngữ pháp tiếng Việt. Hà Nội:
NXB. KHXH.
11. Tổ Ngôn ngữ học – Đại học Tổng hợp. (1961). Khái
luận Ngôn ngữ học. Hà Nội: NXB Giáo dục.
12. Ủy ban khoa học xã hội (1983). Ngữ pháp tiếng Việt.
Hà Nội: NXB KHXH.
BÀI 1:
Sơ lược về lịch sử
nghiên cứu cú pháp tiếng Việt
Căn cứ vào sự xuất hiện và tồn tại của những
khuynh hướng nổi trội cùng với những tác giả,
cơng trình tiêu biểu có thể chia lịch sử nghiên cứu
cú pháp tiếng Việt thành 3 giai đoạn:
(1)Trước năm 1945;
(2)Từ sau 1945 đến trước1990;
(3)Từ 1990 đến nay.
1.1. Trước năm 1945
Qua con mắt của các tác giả phương Tây làm từ
điển đối chiếu thì tiếng Việt có một số đặc điểm sau:
- Từ khơng biến đổi hình thái khi được sử dụng trong
câu, khơng có cơ sở (hình thái học) để xác định từ
loại và do đó có thể xem TV là một ngơn ngữ khơng
có từ loại;
- Trật tự từ trong câu đóng vai trị rất quan trọng,
quyết định đến việc hiểu nghĩa của câu.
-Trong “Từ điển Việt - Bồ - La (1651)” của A. De Rhodes,
ơng có viết:
+ Luật thứ nhất: Chủ từ phải đi trước động từ, bằng
khơng nó khơng cịn là chủ từ của động từ ấy nữa (…);
+ Luật thứ hai: Danh từ theo sau động từ là bổ sung của
động từ ấy (…);
+ Luật thứ ba: Trong 2 danh từ đặt liền nhau, thì tiếng
thứ hai chỉ gián tiếp.
(Dẫn theo Nguyễn Minh Thuyết)
- Những năm 40 của TK trước, các tài liệu liên quan
đến cú pháp TV hầu hết do các học giả nước ngoài
viết (P. G Vallot, R. Bulteau,…) thể hiện “cái nhìn
châu Âu”.
- Ngữ pháp TV lúc này mang tinh thần “dĩ Âu vi trung”.
Tiêu biểu: Các tác giả Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm
Duy Khiêm với “Việt Nam văn phạm” (1940): theo quan
điểm “từ bản vị”.
Ở giai đoạn trước 1945, các tác giả thường gò cấu
trúc câu tiếng Việt theo khuôn mẫu cấu trúc câu tiếng
Pháp.
Các tên gọi thành phần câu tiếng Việt chẳng qua là
sự sao phỏng tên gọi các thành phần câu tiếng Pháp.
Tiếng Pháp:
Sujet – chủ từ;
Verbe – động từ;
Complément – túc từ.
“Gọt chân cho vừa giày”
1.2. Từ sau 1945 đến trước 1990
Nghiên cứu cú pháp phát triển ở cả hai miền. Một số tác giả
tiêu biểu:
- Phan Khôi với “Việt ngữ nghiên cứu” (1955): Phan Khôi
phê phán khuynh hướng “từ bản vị” (theo NP phương Tây)
và khẳng định khuynh hướng “cú bản vị” qua việc tiếp nhận
cuốn “Tân ước quốc ngữ văn” của tác giả Trung Quốc là Lê
Cẩm Hy Sự chuyển đổi này là một bước ngoặt đáng ghi
nhận trong nghiên cứu cú pháp TV.
Phan Khơi cho rằng, với một thứ tiếng khơng có sự biến đổi hình thái từ như
TV mà theo “từ bản vị” “mà sách văn pháp lại cứ bắt đầu chia ra từ loại thì
thật xa với sự thật quá, nếu khơng nói là vơ lý”.
Tác giả đề nghĩ theo “cú bản vị”, tức “lấy tổ chức câu làm gốc, làm thành
phần chính trong sự dạy văn pháp. Bắt đầu từ câu ngắn đến câu dài, từ câu
đơn đến câu ghép,… Trong khi ấy mới tùy ở vị trí và chức năng của từng từ
mà quy nó vào loại nào và nhân đó mà nhìn rõ cơng dụng của nó”. Theo
khuynh hướng này cịn có Phan Ngọc, Nguyễn Lân,v.v..
Từ bản vị: chủ từ, động từ, túc từ,...
Cú bản vị: chủ ngữ, vị ngữ, bổ túc ngữ,...
Là bước ngoặt đáng ghi nhận trong phân tích cấu trúc câu tiếng Việt.
- Lê Văn Lý (1948,1968): Là người đầu tiên tuyên bố từ bỏ việc
đi theo ngôn ngữ châu Âu để nghiên cứu TV; cũng là người
đầu tiên mang phương pháp của ngôn ngữ học cấu trúc (theo
lối chức năng Praha) đến với lĩnh vực nghiên cứu cú pháp
(Trường phái này quan niệm ngơn ngữ như một hệ thống
chức năng có tính cấu trúc, là tư tưởng khoa học chủ đạo của
CLB Praha).
+ 1948: Lê Văn Lý viết “Le parler Vietnamien”
+ 1968: Lê Văn Lý với “Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam”: Đề cập
đến nhiều vấn đề NNH trên diện rộng, trong đó có vấn đề Âm vị
học, trình bày các từ loại, các hạng mục ngữ pháp, các kiểu
câu,…
Trung tâm Học liệu thuộc Bộ Giáo dục ở Sài gòn
năm 1968 đã chuyển dịch và ấn hành những
nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt chủ yếu từ trong
Luận án Tiến sĩ Quốc gia “Le Parler Vietnamien”
của Lê Văn Lý sang tiếng Việt mang tên là “Sơ thảo
ngữ pháp Việt Nam”.
+ Lê Văn Lý đề xuất tiêu chí “GIÁ TRỊ KẾT HỢP” (“khả năng
phối hợp”) để phân chia từ loại (“coi tiếng nào có thể đứng trước
hay đứng sau tiếng nào”);
+ Tác giả cũng dùng một số hư từ gọi là từ chứng thử đem kết
hợp với các từ TV để chia từ TV ra các loại: A, B, B’ và C (tương
đương: danh từ, động từ, tính từ và hư từ).
VD:
- AAAAAA: Sáng cháo gà tối cháo vịt
- AB: Nước chảy
- AB’: Nhà cao
- AC: Xe tơi
- ABB: Chó muốn chạy
- CCCCCCCCC: Dù sao chăng nữa cũng tại chúng mày cả
- …
*Về mặt phương pháp luận:
- Thời kỳ này nổi lên lý thuyết “từ tổ” (cụm từ), tiêu biểu là
Nguyễn Kim Thản. Ông cho rằng, cần phân biệt “thành
phần phụ” của câu với thành phần phụ của từ tổ:
+ định ngữ và bổ ngữ khơng có tư cách thành phần câu.
Chúng chỉ là thành phần phụ của các từ tổ danh từ (danh
ngữ) và từ tổ động từ (động ngữ) khi các từ tổ này tham gia
cấu tạo câu.
+ Chỉ thừa nhận “trạng ngữ và khởi ngữ” là thành phần phụ
đích thực của câu TV (không bị bao hàm trong các từ tổ đóng
vai trị Chủ ngữ - Vị ngữ trong câu).
Vấn đề câu đơn, câu ghép được nhìn nhận lại.
VD: Người tôi gặp hôm qua là nhà văn.
The person I met yesterday is a writer.
Câu đơn. Vì “tơi gặp hôm qua” được xem là thành tố
phụ của từ tổ danh từ “người”.
Về sau, vấn đề này còn được xem xét lại và thể hiện
qua sự phân biệt câu ghép, câu phức.