Tải bản đầy đủ (.pdf) (14 trang)

2056230071 - Bùi Phương Nhi - Bài Cuối Kỳ.pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (455.32 KB, 14 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LƯU TRỮ HỌC – QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
------------------------------

BÀI THU HOẠCH CUỐI KỲ
ĐỀ TÀI: YẾU TỐ VĂN HÓA, TƯ TƯỞNG VÀ YẾU TỐ TÂM LÝ CÁ
NHÂN TRONG NHỮNG TRỞ NGẠI TÂM LÝ CƠ BẢN ĐỐI VỚI
NHỮNG NGƯỜI LÃNH ĐẠO LÀ PHỤ NỮ

Môn

:

Tâm Lý Học Quản Lý

Giảng viên hướng dẫn :

PGS.TS Ngô Minh Tuấn

Sinh viên thực hiện

:

Bùi Phương Nhi

Mã số sinh viên

:

2056230071



THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 06 NĂM 2022


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân Văn, Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa mơn học “Tâm lý
học quản lý” vào chương trình giảng dạy. Đặc biệt hơn hết, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc
đến giảng viên hướng dẫn – PGS.TS Ngơ Minh Tuấn đã nhiệt tình dạy dỗ, truyền đạt những
kiến thức, kinh nghiệm quý báu và giúp em có cái nhìn sâu sắc hơn về ngành học của mình.
Từ những kiến thức thầy truyền tải, em đã dần trả lời được những câu hỏi về ngành học
Quản trị văn phòng cũng như là ngành nghề tương lai của mình sau này. Thơng qua bài
thu hoạch này, em xin trình bày về chủ đề mà mình đã tiếp thu được trong suốt quá trình
học tập, cũng như là dành một sự quan tâm, hứng thú nhất định đối với chủ đề này.
Có lẽ kiến thức là vơ hạn và sự tiếp thu kiến thức của bản thân ln tồn tại những
hạn chế nhất định. Trong q trình thực hiện bài thu hoạch, bài làm của em không tránh
khỏi những thiếu sót và một số chỗ chưa thật sự chính xác. Kính mong thầy xem xét và góp
ý để bài làm của em có thể được hồn thiện hơn.
Sau cùng, em xin kính chúc thầy và gia đình thật nhiều sức khỏe. Chúc thầy hạnh
phúc và thành công hơn nữa trên con đường sự nghiệp giảng dạy của mình.


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.............................................................................................................................................. 1
CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ PHỤ NỮ LÀM LÃNH ĐẠO ............................................ 2
1.1 Trên thế giới: ..................................................................................................................................... 2
1.1.1

Trong lĩnh vực kinh doanh: ............................................................................................... 2


1.1.2

Trong lĩnh vực chính trị: .................................................................................................... 2

1.2 Tại Việt Nam: .................................................................................................................................... 2
1.2.1

Trong lĩnh vực kinh doanh: ............................................................................................... 3

1.2.2

Trong lĩnh vực chính trị: .................................................................................................... 3

CHƯƠNG II: YẾU TỐ VĂN HÓA, TƯ TƯỞNG VÀ YẾU TỐ TÂM LÝ CÁ NHÂN TRONG
NHỮNG TRỞ NGẠI TÂM LÝ CƠ BẢN ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI LÃNH ĐẠO LÀ PHỤ NỮ .... 4
2.1 Yếu tố văn hóa, tư tưởng: ................................................................................................................. 4
2.2 Yếu tố tâm lý cá nhân: ...................................................................................................................... 7
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP VÀ KẾT LUẬN ........................................................................................... 9
3.1 Giải pháp: .......................................................................................................................................... 9
3.2 Kết luận: .......................................................................................................................................... 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO: ....................................................................................................................... 11


LỜI MỞ ĐẦU
Trong xã hội hiện đại ngày nay, phụ nữ đang ngày càng thể hiện vị thế của bản thân
và ngày càng chiếm giữ những vị trí quản lý quan trọng trong các lĩnh vực của đời sống xã
hội. Song tỷ lệ phụ nữ nắm giữ cương vị lãnh đạo lại khá khiêm tốn so với nam giới. Mặt
khác, người phụ nữ cũng rất thiệt thòi trong việc thăng tiến và hưởng thụ các lợi ích từ hoạt
động quản lý. Điều này không chỉ tồn tại trong xã hội xưa mà còn ảnh hưởng trong cả xã
hội hiện đại ngày nay.

Khi nghiên cứu về tâm lý học quản lý, chúng ta cần chú trọng nghiên cứu đến người
lãnh đạo nữ, đặc biệt là những trở ngại tâm lý của họ. Một trong số những yếu tố ảnh hưởng
đến tâm lý của những người lãnh đạo nữ đáng kể đến đó chính là yếu tố văn hóa và yếu tố
tâm lý cá nhân. Đây đều là những yếu tố mang tính lịch sử và tính chủ quan, cần được quan
tâm, tìm hiểu khi nghiên cứu về người lãnh đạo, quản lý. Vì thế, em đã chọn đề tài “Yếu tố
văn hóa, tư tưởng và yếu tố tâm lý cá nhân trong những trở ngại tâm lý cơ bản đối với
những người lãnh đạo là phụ nữ” làm chủ đề cho bài thu hoạch.
Qua đề tài này, em mong muốn đưa đến một cái nhìn sâu sắc hơn về yếu tố văn hóa,
yếu tố tâm lý cá nhân có vai trị và tác động như thế nào đến những người lãnh đạo là phụ
nữ. Từ đó, đưa ra những giải pháp khắc phục những khó khăn, trở ngại về vấn đề này.

1


CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ PHỤ NỮ LÀM
LÃNH ĐẠO
1.1

Trên thế giới:

1.1.1 Trong lĩnh vực kinh doanh:
Trên thế giới, tỷ lệ phụ nữ nắm giữ các vị trí lãnh đạo cấp cao trong các doanh
nghiệp tầm trung trên toàn cầu đạt 31% dù cho đại dịch COVID-19 ảnh hưởng đến nền
kinh tế toàn thế giới, ghi nhận theo báo cáo thường niên về đề tài “Phụ nữ trong kinh doanh”
do Grant Thornton International phát hành.
Một kết quả đáng khích lệ khác là về các vai trò lãnh đạo mà phụ nữ đang đảm
nhiệm. Nghiên cứu của Grant Thornton International cho thấy số lượng phụ nữ đảm nhận
các vai trò trong C-suite cao hơn so với năm 2020, với tỷ lệ nữ Giám đốc điều hành (CEO)
tăng 6 điểm phần trăm lên 26%, nữ Giám đốc tài chính (CFO) tăng 6 điểm phần trăm lên
36% và nữ Giám đốc vận hành (COO) tăng 4 điểm phần trăm lên 22%. Tỷ lệ phụ nữ giữ

các vị trí cấp cao như quản trị nhân sự giảm nhẹ ở mức 38% (giảm 2 điểm phần trăm so
với năm 2020) và có xu hướng đi xuống kể từ năm 2019.
Trong khu vực ASEAN, tỷ lệ doanh nghiệp có ít nhất một phụ nữ làm quản lý cấp
cao là 94% và tỷ lệ nữ giữ các vị trí cấp cao là 28%. Tại khu vực Châu Á, tỷ lệ phụ nữ tham
gia vào ban lãnh đạo cấp cao của các doanh nghiệp thuộc nhóm khá cao trên thế giới.
1.1.2 Trong lĩnh vực chính trị:
Tính đến 01/01/2020, chỉ có 10 trong số 152 nguyên thủ quốc gia được bầu là phụ
nữ. Theo nghiên cứu 13/4/2020 của Cơ quan Liên hợp quốc và Liên minh Nghị viện thế
giới, tỷ lệ nữ bộ trưởng trên thế giới đang ở mức cao nhất so với các năm chiếm khoảng
21,3%.
1.2 Tại Việt Nam:

2


1.2.1 Trong lĩnh vực kinh doanh:
Việt Nam cao hơn mức trung bình tồn cầu với tỉ lệ 39% (tăng 6% so với năm 2020)
và xếp thứ 3 trên thế giới (trong số 29 quốc gia được khảo sát) - sau Philippines và Nam
Phi - ngang bằng với Brazil và Ấn Độ, và xếp thứ 2 ở Châu Á Thái Bình Dương sau
Philippines 48%.
Các vị trí hàng đầu thường được phụ nữ đảm nhận trong doanh nghiệp tại Việt Nam
năm 2021 là Giám đốc tài chính với tỉ lệ 60% (tăng từ 32% của năm 2020) đưa Việt Nam
đứng số 1 tại Châu Á Thái Bình Dương. Vị trí Giám đốc Nhân sự đứng thứ hai với 59%,
đây cũng là một vị trí rất phổ biến tại các khu vực cịn lại của Châu Á Thái Bình Dương.
Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong tỉ lệ phụ nữ giữ vị trí Giám đốc điều hành
với mức tăng từ 7% lên 20% vào năm 2021 (xếp thứ 7 trong khu vực Châu Á Thái Bình
Dương).
1.2.2 Trong lĩnh vực chính trị:
Hơn 30% đại biểu Quốc hội là nữ giới, cao hơn mức bình quân của khu vực; tỷ lệ
các bộ, cơ quan ngang bộ có lãnh đạo chủ chốt là nữ đạt 50%. Nhiệm kỳ khóa XIV có 132

nữ đại biểu Quốc hội (chiếm 26,88%). Nhiệm kỳ khóa XV có 151 nữ đại biểu Quốc hội
(chiếm 30,26%), trong đó có 36 nữ đại biểu Quốc hội chuyên trách ở Trung ương trong
tổng số 125 đại biểu hoạt động chuyên trách ở Trung ương (chiếm 28,8%).
Trong quá trình hoạt động Quốc hội, nhiều nữ đại biểu ngày càng trưởng thành, đảm
nhận những cương vị chủ chốt trong các cơ quan Đảng, Nhà nước. Điển hình có các đồng
chí giữ cương vị là Ủy viên Bộ Chính trị, lãnh đạo Quốc hội (nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV
có Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tịng
Thị Phóng)...

3


CHƯƠNG II: YẾU TỐ VĂN HÓA, TƯ TƯỞNG VÀ YẾU TỐ TÂM
LÝ CÁ NHÂN TRONG NHỮNG TRỞ NGẠI TÂM LÝ CƠ BẢN
ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI LÃNH ĐẠO LÀ PHỤ NỮ
Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, thực tế đã chứng minh cho thấy rằng
những nhà lãnh đạo nữ là những người hội tụ đầy đủ về cả nhan sắc, tầm nhìn, phẩm chất
lẫn cả năng lực để dẫn dắt một đội ngũ vững vàng trên con đường thành cơng. Tuy nhiên,
để đạt được điều đó, họ đã phải đối mặt và trải qua những khó khăn, trở ngại về mặt tâm
lý. Một trong số những yếu tố tác động đến trở ngại tâm lý của những nhà lãnh đạo nữ là
yếu tố văn hóa, tư tưởng và yếu tố tâm lý cá nhân sẽ được đi sâu vào phân tích dưới đây:
2.1 Yếu tố văn hóa, tư tưởng:
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng
tạo và tích lũy qua q trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên
và xã hội. Ví dụ như văn hóa Trống Đồng, văn hóa trọng tình trọng nghĩa, văn hóa thờ
cúng tổ tiên, áo dài truyền thống, các món ăn truyền thống…
Tư tưởng là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, là biểu hiện quan hệ của con người
với thế giới chung quanh. Ví dụ: tư tưởng chính trị dân chủ, tư tưởng đạo lý…
Riêng bài viết này, các yếu tố văn hóa, tư tưởng được đề cập đến như là những trở
ngại tâm lý của những lãnh đạo là phụ nữ như sau:

Thứ nhất, định kiến xã hội về người phụ nữ:
Nho giáo du nhập vào nước ta từ sớm và từng bước định hình lối sống sinh hoạt,
đạo đức, đối nhân xử thế trong xã hội Việt Nam. Nho giáo cung cấp các giá trị làm nền
tảng cho nền văn hóa Việt Nam với những nét truyền thống tốt đẹp về tư tưởng, đạo đức,
nếp sống như: trọng tình nghĩa, hiếu thảo, tôn sư trọng đạo, coi trọng nhân tài… Tuy nhiên
bên cạnh đó, vẫn cịn tồn tại những định kiến xã hội như tư tưởng trọng nam khinh nữ.
Thực chất, tư tưởng này đã hình thành từ rất lâu đời khi con người chế tạo các công cụ săn
4


bắt, làm nông, trồng trọt; đàn ông săn bắt, đàn bà hái lượm. Những công việc cần sức khỏe
nên người đàn ơng từ đó đã trở thành trụ cột chính trong gia đình.
Tư tưởng phong kiến Nho giáo và cả trong Kinh thánh đều đánh giá thấp vai trò của
người phụ nữ. Nho giáo cho rằng “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, ý chỉ sinh mười
người con gái cũng chưa được xem là có con nhưng chỉ sinh một người con trai thì đã được
xem là có con. Kinh thánh lại cho rằng Chúa tạo ra con người thì tạo ra đàn ơng trước
(Adam), sau đó phụ nữ được tạo ra từ rẻ xương sườn của người đàn ông. Điều này đã phản
ánh sự phụ thuộc của người phụ nữ vào người đàn ông, ý chỉ vị thế thấp kém của phụ nữ
so với nam giới.
Trong đời sống làng xã của xã hội xưa, người phụ nữ không được học tập, chỉ làm
những công việc nội trợ, chăm lo chồng con, phụ thuộc hoàn toàn vào người chồng “xuất
giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Trong những cuộc họp, phụ nữ khơng được ngồi vào manh
chiếu giữa đình, mà chỉ có nam giới được ngồi để bàn việc làng nước.
Đây dường như là những tư tưởng ăn sâu vào gốc rễ của người Việt, bắt đầu từ thời
đại phong kiến cho đến ngày nay. Mặc dù ở thời điểm hiện tại, đất nước hội nhập quốc tế,
nắm bắt những tiến bộ thời đại nhưng đâu đó vẫn cịn tồn tại vấn đề trọng nam khinh nữ.
Do những định kiến xã hội này áp đặt lên người phụ nữ nên số nữ giới giữ cương vị lãnh
đạo chiếm tỷ lệ khá khiêm tốn so với nam giới. Và nếu phụ nữ là người lãnh đạo thì mức
lương thưởng hoặc cơ hội thăng tiến cũng sẽ không cao bằng người lãnh đạo là nam. Đây
chính là một trong số những biểu hiện của yếu tố văn hóa, tư tưởng trở thành trở ngại tâm

lý trong việc trở thành lãnh đạo của người phụ nữ.
Thứ hai, tư tưởng sai lệch về vai trị và khả năng của phụ nữ:
Người ta ln tin rằng đàn ông với danh hiệu “phái mạnh” sẽ luôn làm những công
việc lớn lao, quan trọng và họ có trí tuệ, sức mạnh, sức bền bỉ, chịu đựng tốt hơn nữ giới.
Còn phụ nữ với danh hiệu “phái đẹp” hay “phái yếu” thường sẽ rất khó để được công nhận
tài năng, thành quả. Kết quả ghiên cứu của Deaux, Emswiller cho thấy khi những người
5


phụ nữ thành công trong quản lý, người ta thường cho rằng đó thuộc về yếu tố may mắn.
Trong khi đó thành cơng của những người đàn ơng được cho là do kỹ năng, trí tuệ của họ.
Tư tưởng mang tính định kiến tiếp theo là sự khác nhau thể hiện qua vai trò của nam
và nữ. So với nam giới, nữ giới có ảnh hưởng đến người khác ít hơn nhưng lại dễ bị ảnh
hưởng hơn. Sự khác biệt này làm cho phụ nữ ít trở thành người lãnh đạo hơn và khi trở
thành lãnh đạo thì việc thăng tiến cũng chậm và khó khăn hơn.
Theo nghiên cứu của trường đại học New South Wales xuất bản trên tạp chí Nature
Communications năm 2018, nhìn chung học sinh nữ có điểm số cao hơn học sinh nam
6,3%. Thế nhưng theo báo cáo mới nhất của Glassdoor, trong năm 2018, nữ giới bị trả
lương ít hơn nam giới trung bình từ 11,6 tới 22,3%.
Mức bình đẳng trong lương thưởng của nam giới so với nữ giới tại Việt Nam xếp
hạng 71 tồn thế giới, theo báo cáo khoảng cách giới tính toàn cầu của Diễn đàn kinh tế
thế giới năm 2018. Song song với đó, số lượng nữ lãnh đạo cấp cao trong các cơng ty, tổ
chức chính phủ Việt Nam chỉ xếp thứ 94 toàn cầu. Điều này chứng tỏ thị trường lao động
Việt vẫn có xu hướng ưa chuộng chọn nam giới để bổ nhiệm vào các vị trí cấp cao, nơi có
mức lương thưởng tốt hơn.
Chúng ta thường thấy phụ nữ được “đóng đinh” cho những cơng việc như lễ tân,
văn thư, thư ký hoặc các công việc dịch vụ khác, và nam giới lại được gán cho những công
việc như phi công, thợ điện, thợ mộc, thợ xây, cơng nhân khai thác khống sản,... Vì lý do
thể trạng hay giới tính mà những lựa chọn thường xuyên này đã dần trở thành một “nếp
nghĩ”. Và điều này dẫn đến kết quả là phụ nữ gặp nhiều khó khăn khi cố xâm nhập vào các

lĩnh vực mà nam giới thống trị, bao gồm cả vấn đề lương bổng. Trong khi đó, mặc dù có
một số lĩnh vực phụ nữ kiếm được nhiều tiền hơn nhưng nam giới lại có xu hướng nhận
lương cao hơn, thậm chí bao gồm cả những lĩnh vực phụ nữ chiếm ưu thế. Ví dụ, y tá nam
kiếm được nhiều hơn 10% so với y tá nữ, và người quản gia kiếm được nhiều hơn 30% so
với người giúp việc. Còn khi phụ nữ dám tham gia vào những lĩnh vực bị chi phối bởi nam
giới, thì mức lương của họ cũng giảm so với các nghề khác.
6


Một quan điểm sai lầm nữa là người vợ không thể thành đạt hơn người chồng. Từ
xưa cho đến nay, mọi người đều cho là bình thường, dễ chấp nhận khi mà người chồng giỏi
giang, thành đạt hơn người vợ. Nhưng ngược lại, nếu gia đình có vợ giỏi hơn, thành cơng
hơn chồng thì đó là điều bất bình thường. Người chồng sẽ cảm thấy mặc cảm, tự ti và dư
luận xã hội cũng sẽ cho đây là chuyện bất thường mà bàn tán. Khơng ít gia đình, khi người
vợ thành cơng trên con đường sự nghiệp thì hạnh phúc gia đình rạn nứt, hơn nhân đổ vỡ.
2.1

Yếu tố tâm lý cá nhân:

Đôi lúc, những trở ngại khi trở thành lãnh đạo của người phụ nữ không chỉ xuất phát
từ những yếu tố văn hóa, tư tưởng định kiến của xã hội, mà cịn có thể xuất phát từ chính
bản thân của phụ nữ. Mặc cảm, tự ti, tự nghi ngờ năng lực bản thân chính là một trong
những yếu tố tâm lý cá nhân.
Các đặc điểm trong tâm lý cá nhân bao gồm: xu hướng, tính khí, tính cách, nhu cầu,
năng lực, cảm xúc và tình cảm. Đây là những đặc điểm chỉ rõ con người về tâm lý khác
nhau, giúp phân biệt người này và người khác về mặt tâm lý. Những nghiên cứu đã chỉ ra
rằng trở ngại tâm lý khi phụ nữ làm lãnh đạo một phần xuất phát từ tâm lý cá nhân, trong
số đó có thể kể đến là:
Thứ nhất, mặc cảm, tự ti.
Mặc cảm tự ti này thể hiện ở chỗ người phụ nữ tự đánh giá thấp khả năng của mình,

thiếu tự tin vào chính bản thân mình. Điều này đã làm gia tăng những định kiến (vốn đã
tồn tại khá sâu sắc trong đời sống xã hội) về vai trò của người phụ nữ và tất yếu đã hạn chế
mức độ tham gia của phụ nữ vào hoạt động quản lí xã hội.
Nghiên cứu của Heilman, Simon, Repper (1987) đã đi đến những nhận định: Phụ
nữ chưa thực sự đánh giá đúng khả năng của mình. Những người lãnh đạo nữ thường có
quan niệm rằng khi mình được thăng tiến trong các cương vị quản lý là do sự ưu ái về giới
tính hơn là do năng lực và cống hiến của họ cho tổ chức. Những người phụ nữ thường có

7


đánh giá tiêu cực về các kỹ năng lãnh đạo của họ, ít có niềm tin về sự thành cơng của bản
thân, ít quan tâm đến việc trở thành người lãnh đạo hoặc thăng tiến.
Nghiên cứu của Ordway Tead cũng đi đến nhận định: Trong quan niệm truyền
thống, chính phụ nữ vẫn thường nghĩ về nam giới như những người lãnh đạo và họ nghi
ngờ khả năng quản lý của những người lãnh đạo cùng giới tính. Họ hay so sánh, bắt bẻ,
thiếu thông cảm trong việc xem xét những thiếu sót, sai lầm của những người lãnh đạo nữ.
Ở nước ta, một số nghiên cứu cũng chỉ ra mặc cảm, tự ti của phụ nữ về khả năng
quản lí của mình. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồ (2002) cho rằng: "Bản thân một số nữ
quản lý cũng có những suy nghĩ: nữ không nên làm quản lý, không nên ôm đồm nhiều việc
vừa mệt mà đôi khi thất bại cịn khơng ăn, khơng ngủ vì tiếc tiền và cơng sức. Phụ nữ muốn
trẻ trung, đẹp lâu thì khơng nên làm quản lý, nhất là quản lý doanh nghiệp".
Thứ hai, tâm lý an phận.
Bên cạnh công việc, người phụ nữ cịn có trách nhiệm cao cả đó là làm vợ và làm
mẹ. Trong đa số các gia đình Việt Nam, người đàn ơng chủ yếu là trụ cột gia đình, phụ nữ
thường phụ thuộc vào kinh tế của chồng nên họ mong muốn vợ của mình “an phận” ở nhà
để chăm lo nhà cửa, chồng con. Và từ xưa, khi nhắc đến công việc nội trợ, chăm lo nhà
cửa, con cái, người ta sẽ hiển nhiên mặc định đó là công việc phải làm của phụ nữ. Quan
điểm này đã tác động đến suy nghĩ và tâm lý của người phụ nữ rằng họ sẽ trở nên rất bận
rộn, ôm đồm nhiều giữa sự nghiệp và gia đình, chồng con. Chính vì thế đã hình thành nên

tâm lý an phận, không dám dấn thân vào công việc lãnh đạo của những người phụ nữ. Một
khi người phụ nữ trở thành nhà lãnh đạo, họ phải cố gắng, nỗ lực rất nhiều so với nam giới
để có thể cân bằng đồng thời giữa nhiều chức năng khác nhau.
Để duy trì được hạnh phúc gia đình, người phụ nữ khơng chỉ hồn thành cơng việc
quản lí, mà phải chăm lo tốt cho cơng việc gia đình. Sau đây là tâm sự của một số phụ nữ
làm lãnh đạo ngành dệt may ở Thành phố Hồ Chí Minh: “Đó là gia đình của mình, cơng
việc hiện tại của mình. Quan điểm của mình là "Tiên tề gia, hậu trị công ti...", "Phụ nữ làm
8


quản lí khác với đàn ơng, nếu họ khơng được ủng hộ từ phía gia đình sẽ khơng thể nào làm
tốt được", "Phụ nữ ai cũng vướng bận gia đình, người có chồng có con thì lo chồng, lo con,
người khơng có thì lo cho cha mẹ anh chị em. Do đó phụ nữ khơng dễ dàng gì khi làm quản
lí”... (Nguyễn Thị Hồ, 2002). Đây cũng chính là một trong những trở ngại hạn chế phụ nữ
tham gia vào các hoạt động quản lý xã hội từ xưa đến nay.

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP VÀ KẾT LUẬN
3.1 Giải pháp:
Thứ nhất, khơng ngừng hồn thiện bản thân.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, mọi thứ đều thay đổi một cách nhanh
chóng. Người phụ nữ nên khơng ngừng học hỏi, đầu tư cho bản thân, trau dồi các kỹ năng,
phẩm chất, đạo đức. Kiến thức tạo nên vẻ đẹp trí tuệ, có tri thức sẽ giúp chúng ta tự tin vào
bản thân, mạnh dạn đưa ra ý kiến, khẳng định năng lực và quyết tâm thực hiện mục tiêu
mình đề ra. Chứng tỏ với mọi người rằng phụ nữ làm lãnh đạo hoàn toàn dựa vào tài năng,
năng lực chứ khơng phải ưu ái dựa vào hình thức vẻ bề ngoài như những quan niệm xưa.
Mỗi nhà lãnh đạo nữ cần rèn dũa những kỹ năng để hoàn thiện bản thân mình hơn, như: kỹ
năng giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng làm chủ bản
thân…
Thứ hai, giữ gìn sức khỏe, giảm stress.
Việc quan trọng nhất của một nhà lãnh đạo trước hết là giữ gìn sức khỏe, giảm đến

mức thấp sự tiêu hao sức lực và căng thẳng tinh thần. Điều này địi hỏi nhà lãnh đạo nữ cần
phải sắp xếp cơng việc và nghỉ ngơi một cách hợp lý, khoa học.
Hạn chế những suy nghĩ tiêu cực mà thay vào đó hãy chăm sóc cho bản thân mình
nhiều hơn. Chia sẻ công việc với mọi người, dành thời gian để nghỉ ngơi và cân bằng cuộc
sống bên tình yêu, gia đình, con cái.

9


Thứ ba, quan tâm và giải quyết tốt chuyện gia đình.
Việc cân bằng giữa cơng việc quản lý và cơng việc gia đình là khơng hề dễ dàng.
Trong cuộc sống hàng ngày, người vợ cần phải khéo léo, tế nhị trong cách ứng xử với
chồng để không gây ra cảm giác mặc cảm, tự ti cho người chồng. Để làm được điều này,
đòi hỏi người phụ nữ cần phải thể hiện tốt giữa các vai trò người lãnh đạo, người vợ, người
mẹ, cần có sự cố gắng và quyết tâm rất lớn.
3.2 Kết luận:
Ngày nay, có khơng ít những người phụ nữ đang ngày càng thể hiện bản thân mình
và tỏa sáng trên thương trường. Họ đã chứng minh rằng những gì đàn ơng làm được thì
phụ nữ cũng có thể làm và từng ngày xóa bỏ những ranh giới và định kiến xã hội về nam
nữ. Nhưng bên cạnh đó, những rào cản, trở ngại về tâm lý vẫn còn tồn tại và hạn chế năng
lực cũng như sự tự tin của người phụ nữ. Để vượt qua những thách thức đó, người phụ nữ
cần phải đặt quyết tâm, sự cố gắng nhiều hơn nữa, tận dụng những ưu thế của bản thân, đặt
mục tiêu thăng tiến rõ ràng, thay đổi tư duy bắt kịp xu thế thời đại, ngày càng hoàn thiện
bản thân, khẳng định vị thế của mình. Mỗi một người phụ nữ đã là một bơng hoa xinh đẹp
vì vậy hãy là bơng hoa nở rực rỡ nhất, tỏa hương thơm nhất.

10


TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. PGS. TS. Vũ Dũng, Giáo trình tâm lý học quản lý, NXB ĐHSP, 2007.
2. Grant Thornton, Tỉ lệ phụ nữ giữ các vị trí lãnh đạo cấp cao vượt qua mốc quan
trọng 30% bất chấp đại dịch toàn cầu, 2021.

11



×