MÔN: TRỌNG TÀI QUỐC TẾ
I.
KHÁI NIỆM TRỌNG TÀI QUỐC TẾ
1. KHÁI NIỆM TRỌNG TÀI QUỐC TẾ
- Trọng tài quốc tế tương tự như tranh tụng tại Tòa án quốc gia nhưng thay vì
diễn ra tại TAQG, nó diễn ra trước các thẩm phán tư nhân được gọi là TTV.
Đây là 1 phát triển giải quyết tranh chấp quốc tế được thương lượng, trung
lập, ràng buộc, riêng tư và đảm bảo thường nhiều hơn và ít tốn kém hơn so
với tố tụng trong nước. Khác với các quy định của TAQG, các quy định của
TTQT có thể được tơn trọng ở hầu hết các QG trên thế giới, khiến TTQT trở
thành cơ chế hàng đầu để giải quyết tranh chấp quốc tế.
- TP tư với TP công khác nhau ở điểm gì? TP tư giải quyết các lĩnh vực
trong đời sống kinh doanh, tự do, tổ chức cịn TP cơng là cơ quan công
quyền, nhân danh nhà nước.
- Vậy: TTQT là Cơ quan hoặc phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ
các quan hệ pháp luật thuộc lĩnh vực điều chỉnh của CPQT - TPQT (PCA)
hoặc TPQT (TTTM) và pháp luật cho phép đc giải quyết = trọng tài hoặc;
- TTQT là cơ quan tư pháp (Tư là gắn liền với Tp tư), có nhiệm vụ xx các vụ
kiện giữa các QG (or có YTNN), phán quyết của TTQT là chung thẩm các
bên phải thực thi.
- PCA khơng có cơ quan thi hành:
● Đây chính là lỗ hổng của PLQT
● QT khơng có cục thi hành án
● QG có cục thi hành án dân sự công nhận cho thi hành phán quyết của trọng
tài nước ngoài.
Hoặc: TTQT là 1 pthuc giải quyết tranh chấp mà sự bắt đầu của nó dựa trên sự
thỏa thuận của các bên tham gia tranh chấp nhằm giải quyết tranh chấp có YTNN
hay yếu tố QT bởi 1 hội đồng trọng tài gồm 1 hoặc 1 số TTV, trên cơ sở trình tự,
thủ tục do các bên tranh chấp thỏa thuận chọn ra.
- Chung thẩm là gì?
+ Là thuật ngữ dùng để chỉ trường hợp TA xx hoặc ra quyết định giải quyết vụ
án đã qua 2 cấp xx giải quyết (Tức là đã giải quyết theo thủ tục PT).
+ Khi HĐTT đã ra phán quyết trọng tài thì các bên khơng thể tiếp tục thưa
kiện ra tòa án, trừ trường hợp 1 bên gửi yêu cầu TA xx việc hủy phán quyết
trọng tài theo các căn cứ được quy định tại điều 68 Luật TTTM 2010.
2. ƯU ĐIỂM CỦA TTQT.
- TTQT có thể giải quyết tranh chấp nhanh hơn so với tố tụng tịa án truyền
thống vì phán quyết của TT chỉ giới hạn trong TH nhất định.
- Chi phí TTQT có thể rẻ hơn so với tố tụng trọng tài truyền thống.
- TTQT có thể mang lại chất lượng xx tốt hơn vì nhiều TAQG bị q tải,
khơng phải lúc nào các TP cũng có đủ thời gian để đưa ra các quyết định
pháp lý có chất lượng.
- Khách hàng có thể đóng vai trị tích cực trong việc lựa chọn 1 TTV là
chuyên gia trong lĩnh vực về TTQT chứ không phải là 1 chuyên gia chung
chung như nhiều TAQG.
- TTQT rất linh hoạt và các bên tranh chấp riêng lẻ đóng vai trị quan trọng
trong việc lựa chọn thủ tục phù hợp nhất để giải quyết tranh chấp quốc tế
của họ, quy định có hay khơng bao gồm các thủ tục như xuất trình tài liệu.
- TTQT có thể được bảo mât, điều này rất hữu ích nếu các bên muốn tiếp tục
mối quan hệ kinh doanh hoặc tránh dư luận tiêu cực.
- TTQT là chung lập. Điều này rất quan trọng đối với các giao dịch xuyên
biên giới vì nó loại bỏ khả năng tạo ra lợi thế sân trong 1 bên.
- Ở 1 số quốc gia, các TP quốc gia khơng thực thi 1 cách độc lập. Trong đó
TTQT quy định phải đưa ra 1 cách độc lập hoặc nó có thể được thi hành.
- Tại sao lại có vấn đề công nhận và cho thi hành phán quyết?
TTNN sử dụng pháp luật nước ngoài ( phán quyết trọng tài nước nào thì sử dụng
luật nước đó, có hiệu lực trên phạm vi lãnh thổ của QG đó, khơng có hiệu lực trên
quốc gia khác do đó phải cơng nhận và cho thi hành phán quyết tại lãnh thổ QG
khác thì phán quyết đó mới có hiệu lực. Vì chủ quyền lãnh thổ quốc gia là bất khả
xâm phạm).
- Trong một số trường hợp nhất định, chẳng hạn như tranh chấp giữa nhà đầu
tư và nhà nước hoặc chính phủ, TTQT là phương tiện duy nhất bảo vệ pháp
luật cho hành vi xâm phạm quyền hợp pháp.
- Luật sư TTQT hỗ trợ khách hàng của họ đáp ứng yêu cầu của họ, chuẩn bị
kiến thức và lập luận cơ bản trước TTV. Hầu hết các LS TTQT đều có hiểu
biết về văn hóa nước ngồi và làm việc trên cơ sở nhiều luật nước ngồi
khác. Kĩ năng ngơn ngữ là rất quan trọng trong trọng tài QT cũng như hiểu
được những khác biệt đáng kể về thủ tục với kiện tụng truyền thống.
- Ưu điểm giải quyết tranh chấp bằng TA so với TT:
Giải quyết tranh chấp bằng TA có các khó khăn: Thủ tục trọng tài của TANN phải
mời luật sư, chuyên môn của LS, thủ tục TT và q trình giải quyết tranh chấp =
ngơn ngữ quốc gia nơi có TA, dịch chứng cứ, thuê phiên dịch, khó cho phiên dịch
và các thuật ngữ thương mại và kĩ thuật, nhiều cấp xét xử, thời gian và chi phí,
năng lực Thẩm phán giải quyết phát sinh từ tranh chấp thương mại quốc tế.
- Điều kiện để tranh chấp được giải quyết = trọng tài:
+ Nếu các bên có thỏa thuận trọng tài, tố tụng trọng tài có thể lập trước hoặc
sau khi xảy ra tranh chấp.
+ TH 1 bên tham gia TTTT biết cá nhân chết hoặc mất năng lực hành vi dân
sự, TTTT vẫn có hiệu lực đối với người thừa kế hoặc người đại diện theo
pháp luật của người đó, trừ TH các bên có thỏa thuận khác.
+ TH 1 bên tham gia TTTT là tổ chức phải chấm dứt hoạt động, phá sản, giải
thể, hợp nhất, sát nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức, TTTT vẫn
cịn hiệu lực đối với tổ chức tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của tổ chức đó, trừ
TH các bên có thỏa thuận khác.
+ Dù trong TH nào thì thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực, trừ TH các bên có
thỏa thuận khác.
4. LƯỢC SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TTQT.
IV. TRỌNG TÀI VIÊN
1. KN
- TTV là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện do pl quy định được các bên tranh
chấp lựa chọn hoặc được chỉ định để GQTC theo thủ tục trọng tài được pháp
luật quy định (ví dụ như luật TTTM).
2. NGUYÊN TẮC TTV
- Nguyên tắc thỏa thuận trọng tài
- Ttv độc lập, vô tư, khách quan
- Ttv phải căn cứ vào quy định của pl
- Ttv phải tôn trọng sự thỏa thuận của các bên
- Nguyên tắc giải quyết 1 lần. (phán quyết đó là chung thẩm, trừ th vơ hiệu, có
thể vơ hiệu 1 phần hoặc vơ hiệu tồn bộ).
BÀI GIẢNG: THẨM QUYỀN CỦA TTQT
- Có thể hiểu “Thẩm quyền” là tổng thể các quyền và nghĩa vụ được trao cho
các chủ thể nhất định để áp dụng giải quyết các vấn đề cụ thể nào đó trong
phạm vi quản lý của họ.
- Theo pl VN thuật ngữ “thẩm quyền” thường được sử dụng như: “thẩm
quyền xx, thẩm quyền điều tra, cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm
quyền, cấp có thẩm quyền, thẩm quyền của TAND, thẩm quyền của
VKSND, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài, …”
I.
KHÁI QUÁT VỀ THẨM QUYỀN CỦA TTQT
1. CƠ SỞ PHÁP LÝ HÌNH THÀNH
- Bắt nguồn từ sự thỏa thuận của các bên, khơng có tranh chấp trọng tài sẽ
khơng có trọng tài. Đó là ngun tắc “hịn đá tảng” của trọng tài nói chung,
TTQT nói riêng.
- Tuy nhiên, cũng có ngoại lệ của nguyên tắc này. Một số điều ước quy định
bắt buộc tranh chấp giữa các bên khơng có liên quan đều phải giải quyết
bằng trọng tài dù có TTQT hay khơng.
- Thẩm quyền của trọng tài còn bị ảnh hưởng bởi phạm vi các tranh chấp mà
nó được phép giải quyết (hay cịn gọi là khả năng trọng tài). TT có thể bị
giới hạn phạm vi xx trong những quan hệ hợp đồng, cũng có thể khơng bị
giới hạn dù có hợp đồng hay khơng.
- Ví dụ các quy tắc trọng tài UNCITRAL đã giới hạn thẩm quyền của trọng tài
trong phạm vi các quan hệ hợp đồng, việc sủ dụng bộ quy tắc này đối với
những tranh chấp ngoài hợp đồng là khơng được phép. Trong khi đó các
qtac trọng tài LCIA (TA trọng tài qte London) và ICC (phòng thương mại
qte) cho phép TTQT giải quyết các tranh chấp cho dù có HĐ hay khơng có
HĐ.
- Khả năng trọng tài cịn liên quan tới việc xđịnh thẩm quyền của TT đối với
các tranh chấp phát sinh từ những lĩnh vực nào? Ngày này, pl hầu hết các qg
đều mở rộng thẩm quyền của trọng tài, theo đó cho phép TT có khả năng
giải quyết không chỉ tranh chấp thương mại mà cịn các tranh chấp lao động,
Ds khác.
- Tóm lại: Có thể nói rằng, TTQT chỉ có thẩm quyền hợp pháp để GQTC nếu
có 1 TTTT hợp pháp được làm bởi các bên tranh chấp (trừ th ngoại lệ).
TTTT phải là biểu hiện của sự thống nhất ý chí giữa các bên tranh chấp chứ
không phải là sự biểu hiện của ý chí đơn phương.
2. PHẠM VI TRANH CHẤP THUỘC THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT
CỦA TTQT.
- Phạm vi thẩm quyền trọng tài trong pháp luật trọng tài Hồng Kông và quy
tắc trọng tài UNCITRAL quy định trọng tài chỉ giải quyết tranh chấp khi có
phát sinh từ HĐ tức là những tranh chấp ngoài HĐ trọng tài sẽ không được
phép giải quyết.
- Liệu TT có thẩm quyền giải quyết mọi tranh chấp phát sinh từ các lĩnh
vực khác nhau hay không?
Ngày nay, đa số các quốc gia đều mở rộng thẩm quyền của trọng tài, cho
phép các trọng tài có khả năng giải quyết khơng chỉ tranh chấp thương
mại mà cịn các tranh chấp lao động, dân sự khác.
- Việc mở rộng thẩm quyền trọng tài cũng có giới hạn, khi nhà nước cần can
thiệp trực tiếp vào các tranh chấp, khi không chỉ liên quan đến quyền lợi cá
nhân đương sự mà còn liên quan tới quyền lợi của bên thứ 3 hoặc lợi ích
cơng cộng.
- VD: K2 điều 1030 Luật TT Đức 1998 quy định: “Một TTTT liên quan tới
những tranh chấp về sự tồn tại của 1 HĐ cho thuê nhà để ở trong phạm vi
nước Đức sẽ bị vô hiệu”.
II.
THỎA THUẬN TRỌNG TÀI
1. KHÁI NIỆM THỎA THUẬN TTQT
- Là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết tranh chấp có thể phát sinh
hoặc đã phát sinh.
- Tranh chấp TT có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong
hđồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng.
- Thỏa thuận trọng tài phải đc xác lập bằng văn bản.
- Các hình thức thỏa thuận sau đây cũng đcl xác lập dưới dạng văn bản:
+ Trọng tài được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex,
thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pl.
+ Hoặc thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên.
- TT đc LS, công chức viên hoặc tranh chấp có thẩm quyền ghi chép lại văn
bản theo yêu cầu của các bên.
- Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến 1 VB có thể hiện TTTT như HĐ,
chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác.
- Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại
của thỏa thuận do 1 bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.
Trọng tài được xác nhận trong văn bản hoặc 1 điều khoản trong HĐ.
Đặc điểm của thỏa thuận trọng tài:
- Thỏa thuận trọng tài là 1 thỏa thuận tức là thể hiện sự thống nhất ý chí của
các bên về việc giải quyết tranh chấp = TT.
- Về hình thức thể hiện, TTTT hầu hết = VB, nhằm giảm thiểu rủi ro cho các
bên trong việc chứng minh có thỏa thuận khi có tranh chấp xảy ra, có giá trị
chứng cứ cho việc các bên muốn giải quyết tranh chấp = TT (có thể bằng lời
nói, hành vi khác, tuy nhiên chứa nhiều rủi ro).
- Về cách thỏa thuận TT, theo k2, điều 3 Luật TTTM 2010 quy định thì
thỏa thuận TTTM có 2 cách là:
+ Thỏa thuận đc lập trc khi phát sinh tranh chấp thương mại
+ Và sau khi phát sinh tranh chấp thương mại.
- Về nội dung, TTTT phải được đảm bảo tính rõ ràng, sự chính xác của thỏa
thuận trọng tài nhằm dễ dàng xác định được thẩm quyền xét xử của Hội
đồng trọng tài, cụ thể.
- TTTT có hiệu lực với Hợp đồng, dù thỏa thuận đc thể hiện dưới 1 điều
khoản của HĐ or dưới hình thức văn bản riêng.
⇨ Như vậy, việc thỏa thuận trọng tài TM là việc quan trọng và trước tiên
để phát sinh thẩm quyền giải quyết của TTTM.
TÓM LẠI: Thỏa thuận trọng tài được xem là vấn đề then chốt và có vai
trị quyết định đối với việc áp dụng phương thức GQTC=TT. Với nội dung
chính là sự thỏa thuận của các bên về luật tố tụng và đặt nền tảng cho sự
hình thành và thực thi tồn bộ tiến trình trọng tài.
Do vậy, hiệu quả hoạt động tố tụng trọng tài phụ thuộc 1 phần lớn và nội
dung của thỏa thuận trọng tài.
2. Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài quốc tế.
Để có hiệu lực :
- Đk về năng lực chủ thể: Người kí kết thỏa thuận trọng tài phải có
NLHVDS đầy đủ.
(NL chủ thể là vde đầu tiên mà các bên cần quan tâm khi tiến hành phán TTTT
vì nếu 1 bên khơng có NL chủ thể sẽ khiến điều khoản này vô hiệu).
- Điều kiện về thẩm quyền của trọng tài: Khơng phải mọi tranh chấp đều
có thể đc giải quyết bằng TT, ngay cả khi giữa các bên tranh chấp thỏa
mãn điều kiện về sự tự nguyện. Đó là khi pháp luật nơi diễn ra trọng tài
không cho phép giải quyết loại tranh chấp đó thơng qua hình thức trọng tài.
- Điều kiện về ý chí tự nguyện của chủ thể: Trên cơ sở thống nhất ý chí, các
bên thỏa thuận về các yếu tố liên quan đến quá trình giải quyết tranh chấp:
Tổ chức trọng tài, hình thức trọng tài, ngôn ngữ, đặc điểm và các nội dung
khác phù hợp với lợi ích của các bên. TTTT sẽ khơng có gtri pháp lý nếu nó
khơng phải là kết quả của sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể hoặc là sự áp
đặt ý chí của bất kì cơ quan, tổ chức, cá nhân nào.
-
Điều kiện về hình thức của TTTT: Đây là 1 đk cơ bản của TTTT, nó là sự
thể hiện ý chí ra bên ngồi sự thống nhất ý chí của các bên tham gia quan hệ
TM. Trong Luật TTTM 2010 quy định: TTTT phải đc thể hiện dưới dạng
VB, nó tạo ra sự tin tưởng giữa các bên, đồng thời là cơ sở ràng buộc
trách nhiệm của các bên khi xảy ra tranh chấp.
- Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài:
+ HL của TTTT độc lập với HL của HĐ chính
+ HL của TTTT độc lập với các chủ thể có liên quan
+ HL của TTTT khi có sự thay đổi của 1 bên
TTTT có hiệu lực (CƯ Newyork 1958)
Các điều kiện:
- TT đó đc lập thành VB
- TT về những tranh chấp đang tồn tại hoặc có thể phát sinh trong tương lai
- Những tranh chấp này phát sinh từ 1 QHPL xác định, dù có phải quan hệ
HĐ hay không, và
- Chúng liên quan đến 1 vấn đề có thể được giải quyết bằng trọng tài
Điểm lưu ý khi soạn thỏa thuận trọng tài:
- Đơn giản và chính xác
- Hình thức trọng tài (vụ việc, quy chế)
- Số lượng TTV
- Địa điểm tiến hành trọng tài
- Luật áp dụng cho nội dung vụ tranh chấp
- Ngôn ngữ trọng tài.
Thỏa thuận trọng tài vô hiệu trong các trường hợp:
- Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của trọng
tài
- Người xác lập thỏa thuận trọng tài khơng có thẩm quyền theo quy định của
pháp luật
- Người xác lập TTTT khơng có đầy đủ NLHVDS theo quy định của BLDS
- Hình thức của TTTT khơng phù hợp với quy định
- 1 trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong quá trình xác lập TTTT
và có yêu cầu tuyên bố TTTT đó là vô hiệu
- TTTT vi phạm điều cấm của PL.
● TTV trọng tài vụ việc mà các bên đã có thỏa thuận lựa chọn từ chối hoặc
trung tâm trọng tài từ chối việc chỉ định trọng tài viên và các bên khơng
có thỏa thuận trọng tài thay thế.
● Các bên có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại 1 trung tâm trọng tài
nhưng lại thỏa thuận áp dụng quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài khác
mà điều lệ của trung tâm trọng tài các bên chọn ko cho phép các bên
không thỏa thuận được về việc lựa chọn quy tắc tố tụng trọng tài thay thế.
● Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có điều kiện về thỏa
thuận trọng tài được ghi nhận trong các điều khoản chung về cung cấp
hàng hóa dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn nhưng khi phát sinh tranh
chấp do người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn trọng tài giải quyết tranh
chấp.
VẤN ĐỀ 3: TỐ TỤNG TRỌNG TÀI QUỐC TẾ
I.
KHỞI KIỆN, THÔNG BÁO ĐƠN KHỞI KIỆN, TỰ BẢO VỆ ,
KIỆN LẠI
1. Khởi kiện
- Nguyên đơn phải làm đơn khởi kiện gửi đến Trung tâm TT. Trường hợp vụ
tranh chấp được giải quyết = TT ad hoc, NĐ phải làm đơn khởi kiện gửi cho
bị đơn.
- Đơn khởi kiện trước tiên phải được nguyên đơn gửi tới tổ chức trọng tài đó
và phải có nội dung phù hợp với quy định về nội dung đơn kiện của tổ chức
trọng tài đó.
Mẫu đơn khởi kiện của các tổ chức trọng tài của mỗi quốc gia là khác
nhau, có thể có các nội dung cơ bản:
- Ngày tháng năm làm đơn kk, tên tổ chức trọng tài gửi đơn khởi kiện.
- Tên, địa chỉ, quốc tịch của các bên khởi kiện.
- Tóm tắt nội dung tranh chấp giữa các bên và yêu cầu cụ thể cần giải quyết.
- Cơ sở pháp lý để khởi kiện
- Trị giá của tranh chấp
- TTV đc nguyên đơn chỉ định hoặc yêu cầu của nguyên đơn về việc tổ chức
TT chỉ định TTV cho mình.
- Người đại diện theo pl or đại diện theo ủy quyền trong TH NĐ là tổ chức.
Người đại diện theo ủy quyền trong TH NĐ là cá nhân.
- Việc rút lại đơn yêu cầu kk chỉ cần 1 xác nhận bằng vb gửi đến trung tâm
TT.
- Việc bổ sung yêu cầu tại phòng họp giải quyết tranh chấp có thể đc chấp
nhận nếu:
+ Việc bổ sung yêu cầu đc thực hiện trước thời điểm kết thúc phiên họp
giải quyết tranh chấp cuối cùng
+ Việc bổ sung yêu cầu này nằm trong thẩm quyền giải quyết của TT và
việc bổ sung yêu cầu này không bị lạm dụng nhằm mục đích gây kk, trì
hỗn việc ra phán quyết trọng tài.
LƯU Ý: Pháp luật trọng tài trên thế giới đều cho phép các bên tranh chấp
đc tự mình hoặc ủy quyền cho người khác gia tố tụng tt. các bên tranh
chấp cũng có quyền thay đổi nội dung đơn kiện trong quá trình trọng tài,
trừ khi hội đồng trọng tài cho rằng những thay đổi đó đã quá muộn để giải
quyết trong tồn bộ tiến trình giải quyết vụ việc.
Thủ tục thay đổi TTV:
- Người có yêu cầu phải làm đơn khởi kiện bằng văn bản và trong đó cần nêu
rõ trường hợp và lý do thay đổi TTV.
- Trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, Chánh án TAND
cấp tỉnh có thẩm quyền phân công 1 Thẩm phán thực hiện thay đổi TTV. TA
có thẩm quyền thơng báo ngay cho các bên liên quan về việc thụ lý đơn yêu
cầu và Thẩm phán được phân cơng giải quyết cơng việc.
- TTV có thể thay đổi
- Thời hạn 7 ngày làm việc tính từ ngày được phân công, TP xét đơn yêu cầu
thay đổi TTV mà không phải mở phiên họp để xét đơn yêu cầu, không phải
triệu tập các bên tranh chấp.
- Khi xét đơn yêu cầu, TP căn cứ vào các quy định pháp luật, danh sách các
TTV của các tổ chức trọng tài hoạt động tại VN và các tài liệu, chứng cứ
kèm theo để xem xét, quyết định TTV có thuộc trường hợp bị thay đổi hay
không.
- Trường hợp yêu cầu thay đổi là có căn cứ thì tùy trường hợp mà thẩm phán
căn cứ quy định tương ứng để ra quyết định thay đổi TTV.
- Trường hợp không chấp nhận yêu cầu thay đổi TTV thì TP sẽ ra quyết định
bằng VB và nêu rõ lý do việc không chấp nhận yêu cầu.
III.
ĐẶC ĐIỂM VÀ NGÔN NGỮ GIẢI QUYẾT TRANH CHÁP
TRONG TRỌNG TÀI QUỐC TẾ.
1. Đặc điểm giải quyết tranh chấp trong TTQT.
- Lựa chọn đặc điểm giải quyết tranh chấp là một trong các nội dung cơ bản
của 1 thỏa thuận trọng tài để xác định những ưu tiên quan trọng khi tiến
hành đàm phán, thương lượng.
- Đặc điểm GQTC là nơi HĐTT tiến hành GQTC theo sự thỏa thuận lựa chọn
của các bên hoặc do HĐTT quyết định nếu các bên khơng có thỏa thuận.
Nếu đặc điểm GQTC được thành lập trên lãnh thổ VN thì phán quyết phải
được coi là tuyên tại VN mà không phụ thuộc vào nơi HĐTT tiến hành
phiên họp để ra phán quyết đó.
- Ví dụ: Điều 11 Luật trọng tài TM 2010 quy định:
Điều 11. Địa điểm giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
1. Các bên có quyền thỏa thuận địa điểm giải quyết tranh chấp; trường hợp
khơng có thoả thuận thì Hội đồng trọng tài quyết định. Địa điểm giải quyết
tranh chấp có thể ở trong lãnh thổ Việt Nam hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam.
2. Trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác, Hội đồng trọng tài có thể tiến
hành phiên họp tại địa điểm được xem là thích hợp cho việc trao đổi ý kiến
giữa các thành viên của Hội đồng trọng tài, việc lấy lời khai của người làm
chứng, tham vấn ý kiến các chuyên gia hoặc tiến hành việc giám định hàng
hoá, tài sản hoặc tài liệu khác.
Hoặc điều 20 Luật mẫu UNCITRAL 2006 quy định:
Điều 20. Nơi tiến hành trọng tài
1. Các bên được tự do thoả thuận nơi tiến hành trọng tài. Nếu các bên khơng
có thoả thuận thì nơi tiến hành trọng tài do Hội đồng trọng tài quyết định căn
cứ vào các tình tiết của vụ việc, có tính đến sự thuận tiện cho các bên.
2. Bất kể quy định tại khoản 1 Điều này, Hội đồng trọng tài có thể, trừ trường
hợp các bên có thoả thuận khác, tổ chức họp tại bất kỳ địa điểm nào mà mình
cho là phù hợp để lấy ý kiến của các thành viên của Hội đồng trọng tài, lấy lời
khai của người làm chứng, lấy ý kiến của giám định viên, chuyên gia, lấy lời
khai của các bên, kiểm tra hàng hoá, tài sản, giấy tờ, tài liệu khác.
- Hoặc điều 20 Luật TT Ai Cập 1994 quy định: “Các bên tgia TT về địa điểm
trọng tài ngồi Ai Cập. Trong trường hợp các bên khơng tham gia, HĐTT sẽ
các định nơi TT đc tranh chấp, có xem xét tới hoàn cảnh của vụ việc và sự
thuận tiện cho các bên, điều này không làm ảnh hưởng tới quyền lực của HĐTT
trong việc nhóm họp ở bất kì nơi nào đc xem là phù hợp cho việc kiểm sốt bất
kì giai đoạn tố tụng TT nào, như: Mở phiên xx các bên, xem xét các tài liệu, xác
minh tài sản hoặc tiền mặt, tranh chấp thảo luận giữa các bên TTV.
Hoặc Điều 16 quy tắc trọng tài của TA TTQT London: “Các bên có thể thỏa
thuận bằng VB về địa điểm của TT. Nếu các bên không thỏa thuận, địa điểm
trọng tài sẽ là London, Trừ khi TA TTQT London cân nhắc đến mọi hoàn cảnh
và sau khi đã trao cho các bên 1 cơ hội đưa ra ý kiến bằng VB rằng địa điểm
trọng tài ở nơi khác sẽ phù hợp hơn.
KL: Vậy pl của các quốc gia và quốc tế đều quy định việc chọn địa điểm là
do các bên có quyền thỏa thuận, trong TH khơng có thỏa thuận thì HĐTT
quyết định. Địa điểm GQTC có thể ở trong lãnh thổ hoặc ngồi lãnh thổ
quốc gia.
2. Ngôn ngữ GQTC trong TTQT.
- Ngôn ngữ giải quyết tranh chấp trong TTQT là ngôn ngữ mà HĐTT cũng
như các bên tranh chấp phải sử dụng trong toàn bộ quá trình giải quyết tranh
chấp bao gồm: Tố tụng trọng tài, các văn bản, tài liệu, chứng cứ, … Được sử
dụng trong quá trình xét xử trọng tài.
- Việc xác định ngôn ngữ GQTC trong tọng tài cần đảm bảo tôn trọng quyền
tự định đoạt của các bên cũng như đảm bảo sự thuận lợi cho các bên tranh
chấp.
- Trong TTQT ngôn ngữ cơ bản là quan trọng, là ngôn ngữ được các bên
tranh chấp đều cho là thuận tiện.
- Ví dụ: Điều 10 Luật TTTM 2010:
Điều 10. Ngôn ngữ
1. Đối với tranh chấp khơng có yếu tố nước ngồi, ngơn ngữ sử dụng trong tố
tụng trọng tài là tiếng Việt, trừ trường hợp tranh chấp mà ít nhất một bên là
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trường hợp bên tranh chấp khơng sử
dụng được tiếng Việt thì được chọn người phiên dịch ra tiếng Việt.
2. Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngồi, tranh chấp mà ít nhất một bên là
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi, ngơn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng
tài do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên khơng có thỏa thuận thì ngôn
ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài do Hội đồng trọng tài quyết định.
- Tạm kết:
● Pháp luật trọng tài trên thế giới gần như đều cho phép các bên tranh
chấp thỏa thuận về ngôn ngữ và số lượng ngơn ngữ trong q trình
trọng tài đồng thời chỉ rõ phạm vi sử dụng ngôn ngữ trọng tài.
● Nếu các bên tranh chấp vì lý do nào đó khơng thỏa thuận được ngơn
ngữ trọng tài thì HĐTT sẽ quyết định.
● Quy tắc tố tụng của 1 số tranh chấp trọng tài trên thế giới có thể hạn
chế số lượng ngơn ngữ có thể được sử dụng.
● Nếu tranh chấp khơng có YTNN, thì ngơn ngữ sử dụng trong tố tụng
trọng tài là tiếng việt, việc hai bên thỏa thuận sử dụng tiếng anh khi giải
quyết tranh chấp thì điều khoản này sẽ vơ hiệu. (Sẽ vơ hiệu nếu điều đó
trái với quy định của pl)
IV.
NGHIÊN CỨU HỒ SƠ, XÁC MINH VỤ VIỆC VÀ THU THẬP
CHỨNG CỨ.
- Kể từ khi thụ lý điều kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp, HĐTT có nhiệm vụ
nghiên cứu hồ sơ vụ việc, HĐTT có quyền gặp, trao đổi với các bên tranh
chấp về vấn đề liên quan, chưa rõ. Việc gặp, trao đổi cần công khai, minh
bạch nhằm đảm bảo tính khách quan của trọng tài trong nghiên cứu hồ sơ,
xác minh sự việc (nguyên đơn và bị đơn có trách nhiệm cung cấp. )
- Thường thì HĐTT thơng báo cho các bên về việc sẽ tiếp xúc trao đổi với bên
nào đó hoặc mời các bên cùng tham gia buổi gặp mặt và trao đổi đó.
- Trọng tài chỉ giải quyết trong phạm vi chứng cứ đã có, trừ khi tình tiết vụ
việc phức tạp mà trọng tài phải yêu cầu các bên làm rõ thêm hoặc phải tự
mình thu thập chứng cứ thêm hoặc phải làm rõ hơn vấn đề trên cơ sở tham
vấn ý kiến của chuyên gia.
- Tham vấn hay tư vấn chuyên gia về ý kiến, quan điểm của họ 1 cách khách
quan (có thể: Hội thảo, mời chuyên gia, nhà khoa học để nghe ý kiến, quan
điểm).
- VD: Điều 26 Luật mẫu UNCITRAL 1985 sửa đổi bổ sung 2006
Điều 26. Chuyên gia được Hội đồng trọng tài chỉ định
1. Nếu các bên không có thoả thuận khác, Hội đồng trọng tài:
a) Có thể chỉ định một hoặc một số chuyên gia lập báo cáo cho Hội đồng trọng
tài về những vấn đề cụ thể do Hội đồng trọng tài xác định;
b) có thể yêu cầu một bên cung cấp cho chun gia mọi thơng tin thích hợp,
xuất trình hoặc cho chuyên gia tiếp cận mọi giấy tờ, tài liệu, hàng hóa hoặc tài
sản liên quan khác để chuyên gia xem xét.
2. Trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác, theo yêu cầu của một bên hoặc
nếu Hội đồng trọng tài thấy cần thiết thì sau khi giải trình báo cáo bằng lời
hoặc nộp báo cáo bằng văn bản, chuyên gia được tham dự phiên họp giải quyết
tranh chấp. Tại phiên họp này, các bên có quyền đặt câu hỏi cho chuyên gia và
có quyền mời các chuyên gia đến với tư cách người làm chứng để trình bày về
những vấn đề có tranh chấp.
- K3 điều 24 Luật mẫu UNCITRAL 1985 sửa đổi bổ sung 2006
“Tất cả các luận cứ bảo vệ, giấy tờ, tài liệu hoặc thông tin mà một bên cung
cấp cho Hội đồng trọng tài phải được gửi cho bên kia. Mọi báo cáo của chuyên
gia hoặc tài liệu được xuất trình làm chứng cứ mà Hội đồng trọng tài dựa vào
để ra quyết định giải quyết tranh chấp cũng phải được gửi cho các bên.”
Điều 45 Luật TTTM 2010 quy định về Thẩm quyền xác minh sự việc của
Hội đồng trọng tài như sau: “Trong q trình giải quyết tranh chấp, Hội đồng
trọng tài có quyền gặp hoặc trao đổi với các bên với sự có mặt của bên kia
bằng các hình thức thích hợp để làm sáng tỏ các vấn đề có liên quan đến vụ
tranh chấp. Hội đồng trọng tài có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của một hoặc
các bên tìm hiểu sự việc từ người thứ ba, với sự có mặt của các bên hoặc sau
khi đã thông báo cho các bên biết.”
V.
ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI
- Được quy định trong khoản 2 điều 49 Luật TTTM 2010: