TRẨN HỮU QUẼ (Chủ biên)
ĐẶNG VĂN Cứ ỉ NGUYỄN VĂN TUẤN
TRẦN HỬU QUẾ (Chủ biên)
ĐẶNG VĂN Cứ - NGUYỄN VĂN TUẤN
VẼ KỸ THUẬT Cơ KHÍ
TẬP MỘT
(Tái bản lần thử chỉn)
nUONC Đại học quv
------THƯ/IỆ n
_ w Ổ JJ0 W 5 -
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
<
n ổ i
đ ầ u
Cuốn Vẽ Kỹ th u ậ t c ơ k h í đầu tiên của tác giả Trần Hữu Quế do Nhà xuất bản Đại học và
Trung học chuyên nghiệp ấn hành năm 1970, sau đó sách được sửa chữa bổ sung tái bản
trong nhiều năm tiếp theo.
Đến năm 1990, thực hiện chủ trương cải cách đào tạo đại học, cuốn Vẽ kỹ thuật cơ khí
được các tác giả Trần Hữu Quế (chủ biên), Đặng Văn Cứ và Nguyễn Văn Tuấn biên soạn lại
theo chương trình môn Vẽ kỹ thuật của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành và theo các Tiêu
chuẩn Việt Nam về "Hệ thống tài liệu thiết kế" đã được Hội đổng bộ mơn Hình học họa hình và
Vẽ kỹ thuật thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo thông qua dùng làm tài liệu giảng dạy trong các
trường đại học.
Sách gồm 12 chương, chia làm hai tập, cùng với hai tập bài tập của các tác giả Trần Hữu
Quế và Nguyễn Văn Tuấn làm thành bộ sách Vẽ kỹ thuật cơ khí, Nhà xuất bản Giáo dục xuất
bản năm 1991 và sách được tiếp tục sửa chữa, bổ sung tái bản nhiều lần vào các năm sau.
Đến nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới, cuộc cách mạng khoa
học cơng nghệ có những bước tiến nhảy vọt, nhất là lĩnh vực công nghệ thông tin, đổi mới giáo
dục diễn ra trên phạm vi toàn thê giới. Sự nghiệp cơng nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
địi hỏi nền giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng phải đổi mới mạnh mẽ, nâng cao
chất lượng đào tạo nhằm cung cấp nguồn nhân lực có trình độ cao và đào tạo nhân tài cho
nền kinh tế xã hội.
Chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy đang dần dần được chuẩn hóa, hiện đại
hóa, đồng thời thích ứng với thực tế sản xuất. Năm 2003 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành
chương trình khung cho các ngành đào tạo.
Cuốn Vẽ k ỹ thu ậ t c ơ k h í i ầ n này được biên soạn lại theo chương trình khung đó và theo
các Tiêu chuẩn Việt Nam đã được soát xét chuyển đổi từ các Tiêu chuẩn Quốc tế. Các nội
dung về "Lập bản vẽ bằng máy tính điện tử' được tích hợp với các nội dung của Vẽ kỹ thuật
truyền thống.
Ngoài phẩn mở đầu và phụ lục ra, cuốn sách gồm 16 chương, chia thành hai tập.
Tập một gồm chín chương:
1 - Dụng cụ vẽ và cách sử dụng.
2 - Vẽ kỹ thuật trợ giúp bằng máy tính điện tử.
3 - Tiêu chuẩn về trình bày bản vẽ kỹ thuật.
4 - Vẽ hình học.
5 - Biểu diễn vật thể.
6 - Biểu diễn đối tượng trong CADD.
7 - Hình chiếu trục đo và hình chiếu phối cảnh.
3
8 - Xây dựng hình biểu-diễn nổi và tạo hình ảnh thực.
9 - Biểu diễn ren và chi tiết ghép.
Tập hai gồm bảy chương:
10 - Vẽ quy ước bánh răng và lò xo.
11 - Dung sai và nhám bề mặt.
12 - Bản vẽ chi t iế t .
13 - Bản vẽ lắp.
14 - Bản vẽ khai triển,hàn và kết cấu kim loại.
15 - Sơ đổ và bản vẽ điện tử.
16 - Bản vẽ xây dựng.
Tham gia biên soạn có tác giả:
- PGS.TS. Đặng Văn Cứ viết các chương 2, chương 6, chương 8, mục 5.6 thuộc chương
5 và mục 13.8 chương 13.
- GVC. Nguyễn Văn Tuấn viết mục 6.5, 6.6, 7.8, 7.9, 9.5, 10.10 11.4 13.9 15.5, 15.6 và
16.5.
- PGS. Trần Hữu Quế, chủ biên, viết các chương và các phần còn lại của tập một và tập hai.
Cuốn Vẽ kỹ thuật cơ khí này dùng làm tài liệu học tập cho sinh viên đại học kỹ thuật và
công nghệ. Nó cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các kỹ sư, các nhân viên kỹ thuật...
Các giảng viên và sinh viên có thể lựa chọn nội dung trong các chương mục của cuốn
sách phù hợp với chương trình vẽ kỹ thuật quy định cho từng ngành học.
Trong quá trinh biên soạn, các tác giả đã được sự giúp đỡ tận tình của Ban biên tập sách
Đại học - Dạy nghề, Nhà xuất bản Giáo dục và sự khích lệ của đồng nghiệp. Chúng tơi xin
chân thành cảm ơn.
Mặc dù các tác giả đã rất cô' gắng, song vì thời gian và trình độ hạn chế, khó tránh khỏi
những sai sót. Chúng tơi thành thật mong nhận được nhiều ý kiến của bạn đọc để lần xuất bản
sau, sách được sửa chữa tốt hơn.
Thư góp ỷ xin gửi về theo địa chỉ: Công ty cổ phần sách Đại học - Dạy nghề, Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam - 25 Hàn Thuyên - Hà Nội.
Tháng 1/2006
CÁC TÁC GIÀ
4
MỞ ĐẦU
Tư xưa, lồi người đã biêt dùng hình vẽ để giao tiếp với nhau. Những tác phẩm bằng
hình ve đa ghi lại những nét sinh hoạt khác nhau trong đời sống, hình dáng các thú rừng,
cac hiẹn tượng tự nhiên được khăc trên vách đá, cỏ cây, da thú và khí giới của người xưa đã
chứng tỏ điều đó.
Ve sau, do san xuất phát triên, vấn đề diễn tả chính xác các vật thể khơng gian lên mặt
phẳng được đặt ra.
Ban vẽ kỹ thuật ra đời và phát triển theo nhu cầu đời sống của con người và theo sự địi
hỏi của thực tiễn sản xt. Hình thức và nội dung của bản vẽ cũng thay đổi theo sự phát
triển không ngừng của sản xuất xã hội.
Cơ sơ kỹ thuật sự ra đời của bản vẽ là kỹ nãng diễn tả sự vật và sự tích lũy những
kiên thức hình học trong việc đo đạc ruộng đất, trong việc ghi chép các hiện tượns tự
nhiên, trong việc xây dựng các nhà ở, các cơng trình kiến trúc...
Sự phat tnên của bản vẽ đã trải qua nhiều thê kỷ nay. Trước kia, khi xây dựng các
cong trinh, người ta vẽ trực tiếp các hình biểu diễn các cơng trình ngay lên mặt đất, nơi
cong trinh se được xây dựng. Sau đó, các bản vẽ "mặt bằng" này được thực hiện trên các
phien đa, cac bang gô, các tấm đất sét v.v... bằng những hình vẽ thơ sơ và đơn giản.
Bảo tàng Louvre ở Paris còn lưu giữ bức tượng cổ Ciudea, xứ Babylon khoảng 2100
nam trươc cong nguyên. Trên phiến đá, một phần của bức tượng có khắc hình vẽ mặt bằng
một pháo đài theo tỷ lệ. Đó là hình vẽ bằng dụng cụ vẽ vào loại sớm nhất được tìm thấy.
Đen thê ki thứ XVIII, các ngành cơng nghiệp bắt đầu phát triển, nhất là ngành đóng
tau va ngành chê tạo máy, địi hỏi phải có các phương pháp biểu diẽn chính xác các vật thể,
ban ve phai ro ràng và đúng tỷ lệ. Thời kỳ đó, bản vẽ đã áp dụng ba hình biểu diễn trên
cung mọt mặt phăng và thực hiện đầy đủ ba kích thước chính : dài, rộng và cao của vật thể.
Nam 1799, Gaspard Monge (1764-1818) kỹ sư và là nhà toán học Pháp đã cho công
bo tac phâm La Géométne Descriptive . Đây là cuốn Hình học họa hình đầu tiên được
xuất bản. Phương pháp biểu diễn bằng hình chiếu vng góc trẽn hai mặt vng góc với
nhau, gọi là phương pháp Monge là cơ sở lý luận để xây dụng các bản vẽ kỹ thuật sau này.
Ngày nay, bản vẽ kỹ thuật được thực hiện theo các phương pháp biếu diễn khoa học,
chinh xac va hoàn chinh theo các tiêu chuẩn thống nhất của quôc gia hay quốc lẽ bằng
những dụng cụ cơ khí hóa, tinh xảo hoặc bằng sự trợ giúp của máy tính điện tử. Bản vẽ kỹ
thuật thực sự trở thành "ngôn ngữ' chung dùng trong kỹ thuật.
Mon Vẽ kỹ thuật trớ thành môn khoa học nghiên cứu các nguyên tấc và phương pháp
lập và đọc các bản vẽ kỹ thuật.
5
Nhiệm vụ của môn Vẽ kỹ thuật là bồi dưỡng năng lực lập và đọc các bản vẽ kỹ thuật,
bồi dưỡng và phát triển trí tưởng tượng khơng gian và tư duy kỹ thuật; đồng thòi rèn luyện
tác phong làm việc khoa học, chính xác,'cẩn thận, có ý thức tổ chức kỷ luật là những đức
tính cần thiết của người lao động trong thịi đại cơng nghiệp hóa và hiện đại hóa. Mơn học
này làm cơ sở để học các mơn kỹ thuật khác.
Mơn Vẽ kỹ thuật mang nhiều tính thực hành. Trong quá trình học tập, sinh viên phải
nắm vững các kiến thức cơ bản như lý luận về phép chiếu, các phương pháp biểu diễn vật
thể, nắm vững các quy định của Tiêu chuẩn Việt Nam và Tiêu chuẩn Quốc tế về bản vẽ kỹ
thuật, đồng thời phải chú trọng rèn luyện kỹ năng thực hành, vẽ bằng tay, bằng dụng cụ vẽ
truyền thống và bằng máy tính điện tử.
Từ những năm 50 của thế kỷ 20, với sự phát triển nhanh chóng của tin học, máy
tính điện tử đã được ứng dụng vào các hoạt động thiết kế, chế tạo. Trong hệ thống tự
động hóa thiết kế, máy tính điện tử được dùng để xử lý thơng tin vẽ, giải các bài tốn
hình học ở giai đoạn thiết kế và tự động hóa lập bản vẽ.
Hệ thống Sketchpad của Ivan Sutherland (Mỹ) đã mở đầu cho sự phát triển Đồ họa
máy tính (Computer Graphics), viết tắt là CG và thiết kế trợ giúp bằng máy tính điện tử
(Computer Aided Design), viết tắt là CAD.
Đến những năm 80, 90 của thế kỷ trước, với sự tiến bộ của công nghệ vi xử lý, công
nghệ phần mềm CAD 3 chiểu đã trở thành cơng cụ mơ hình hóa bằng máy tính điện tử, tạo
nên cuộc cách mạng trong việc ứng dụng máy tính điện tử vào q trình thiết kế và chế tạo.
Việc dùng máy tính điện tử để lập bản vẽ kỹ thuật tạo nên bước tiến nhảy vọt của sự
phát triển môn Vẽ kỹ thuật. Môn Vẽ kỹ thuật đã có những bước phát triển vượt bậc và chắc
chắn trong tương lai sẽ còn phát triển mạnh mẽ hơn nữa.
6
Chương 1
DỤNG
CỤ■ VẼ VÀ CÁCH sử DỤNG
■
■
Ngày nay, các bản vẽ kỹ thuật được lập bằng các phương tiện và các dụng cụ vẽ trun
thống cầm tay, cơ khí hóa hoặc dụng cụ vẽ tự động hóa như hệ thống vẽ bằng máy tính
điện tử.
Các bản vẽ tuy lập bằng các phương tiện và dụng cụ khác nhau, nhưng đều dựa trên
các khái niệm cơ bản về Vẽ kỹ thuật và các quy định thống nhất của Tiêu chuẩn Quốc gia
hay Tiêu chuẩn Quốc tế về bản vẽ kỹ thuật.
Sau đây chúng ta nghiên cứu dụng cụ vẽ và cách sử dụng
Sử dụng dụng cụ vẽ một cách đúng đắn là điều kiện để đảm bảo chất lượng bản vẽ và
nâng cao hiệu suất làm việc.
Dụng cụ vẽ thường dùng gồm có: ván vẽ, thước chữ T, êke, hộp Compa, thưốe cong v.v...
1.1. VÁN VẼ, THƯỚC C H Ữ T VÀ ÊK E
1.1.1. Ván vẽ
Ván vẽ làm bằng gỗ mềm, phẳng, nhẵn, hai biên
của tấm ván có nẹp gỗ cứng (hình 1.1) để mặt ván
khơng bị vênh và để trượt thước chữ T. Kích thước của
ván vẽ được lấy theo kích thước của khổ bản vẽ.
1.1.2. Thước chữ T
Thước chữ T gồm có thân ngang mỏng (hình 1.2).
Đầu thước cố định hay xoay được trên thân ngang.
Mép trượt của đầu trượt theo mép biên trái của ván vẽ
để vẽ. cár rlirrmơ cnnơ
Hình 1.2. Thước chữ T đầu cố định
Hình 1.1. Ván vẽ
Hình 1.3. Kẻ đường nằm ngang
7
1.1.3. Êke
Êke có hình tam giác vng làni bằng nhựa hay gỗ
mỏng. Êke có nhiều cỡ to nhỏ khác ‘nhau. Người ta
thường dùng một bộ êke cỡ trung bình gồm có hai chiếc,
một chiếc có góc 45° và chiếc kia có góc 60° (hình 1.4).
Êke phối hợp với thước dùng để vạch các đường thẳng
đứng (hình 1.5), các đường xiên góc 45°, 60°, 30° v.v...
Có thể vạch các đường xiên góc song song tùy ý,
bằng cách trượt êke này theo cạnh êke kia. Kiểm tra góc
vng của êke bằng cách lật êke như hình 1.6.
Hình 1.4. Ẻke
1.2. HỘP COMPA
Hộp compa thường dùng có các dụng cụ sau: compa quay vịng trịn, compa đo, bút kẻ
mực, đầu chì, đầu mực. v.v... Hình 1.7 là hộp compa có nhiều dụng cụ. Sau đây giới thiệu
các cách sử dụng một sô dụng cụ đó.
8
1.2.1. Bút kẻ mực
Bút kẻ mực là loại bút chuyên dùng để tô mực các đường thẳng hay đường cong của
bản vẽ (hình 1.8). Có thể điều chỉnh bề dày của nét vẽ bằng cách vận ốc điều chỉnh ỏ đầu bút.
Khi dùng bút cần chú ý như sau:
Hình 1.8. Bút kẻ mực
- Không trực tiếp nhúng đầu bút kẻ mực vào bình để lấy mực, mà nên dùng bút sắt để
lấy mực, rồi cho vào giữa hai mép của bút. Nên luôn luôn giữ độ cao của mực ở trong bút
vào khoảng 6 đến 8mm.
*- Khi vạch các nét, cần giữ cho hai mép của đầu bút mực chạm vào mặt giấy, cán bút
hơi nghiêng theo hướng di chuyển của ngịi bút (hình 1.9).
Hình 1.9. Vạch các nét
- Sau khi dùng xong phải lau sạch bút bằng giẻ mềm. Khi cất bút vào hộp, hai mép cua
đầu bút cần mò cách xa nhau.
Ngày nay, thường dùng bút kim kẻ mực (hình 1.10) với các đầu ống có đường kinh
khác nhau.
Hình 1.10. Bút kim
9
1.2.2. Compa quay vòng tròn
Compa loại thường, dùng để-quay, các vịng trịn có dường kính lớn hơn 12mm (hình
1.11). Khi quay những vịng trịn có đường kính lớn hơn 150mm thì chắp thêm cần nối
(hình 1.12).
Hình 1.11. Vẽ đường trịn
Hình 1.12. Vẽ đường tròn lớn
Khi quay vòng tròn cần chú ý như sau:
- Đầu kim và đáu chì (hay đầu mực) giữ cho thẳng góc với mặt giấy.
- Khi quay nhiều vòng tròn đồng tâm, nên dùng đầu kim ngắn có ngấn để kim khơng
bị ấn sâu vào gỗ làm cho lỗ kim to ra, nét vẽ mất chính xác.
- Dùng ngón tay trỏ và ngón tay cái cầm đầu núm compa, quay compa một cách đều
đặn và liên tục theo một chiều.
1.2.3. Compa quay vòng bé
Loại compa này dùng để quay các vịng trịn có đường kính từ 0,6 đến 12mm. Khi
quay, ta dùng ba ngón tay cái, trỏ và giữa; ngón tay trỏ ấn nhẹ trục mang đầu kim và giữ
cho kim thẳng góc với mặt giấy, ngón tay cái và ngón tay giữa quay đều cần mang đầu chì
hay đầu mực (hình 1.13).
1.2.4. Compa đo
Compa đo dùng để lấy độ dài đoạn thẳng. Khi vẽ, ta so hai đầu kim của compa đo
đúng với hai mút của đoạn thẳng cần lấy hoặc hai vạch của thước kẻ li, rồi đưa đoạn đó lên
giấy vẽ bằng cách ấn nhẹ hai đầu kim xuống mặt giấy (hình 1.14).
a)
Hình 1.13. Vẽ đường trịn bé
ÌO
b)
Hình 1.14. Compa đo
1.3. THƯỚC CONG VÀ KHUÔN VẼ
1.3.1. Thước cong
Thước cong dùng để vẽ các đường cong
có bán kính cong thay đổi như các đường
elip, parabơn, hypebơn v.v... (hình 1.15).
Khi vẽ đường cong loại này, trước hết
phải xác định được một số điểm thuộc đường
cong, rồi nối chúng lại bằng tay, sau đó chọn
trên thước cong một cung sao cho cung đó đi
qua một số điểm (khơng ít hơn ba điểm)
của đường cong phải vẽ. Khi tô đậm,
không nên vạch qua tất cả các điểm đó, mà
nên chừa ra một đoạn nhỏ của cung để làm
đoạn chuyển tiếp cho lần vẽ sau, có như
vậy đường cong vẽ ra mới khơng có chỗ
gãy. Cách vẽ như hình 1.16 đã chỉ dẫn.
+ +
+
a)
b)
c)
1.3.2. Khn vẽ
Khn vẽ làm bằng kim loại hoặc bằng
chất dẻo có đục lỗ hình trịn, hình dip, hình
vng, hình chữ nhật, hình các kí hiệu
thường dùng... Các lỗ có nhiều cỡ khác nhau
như các khn vẽ vịng trịn (hình 1.17a),
hình d ip (hình 1.17b) và loại đa dụng
(h!.17c).
a)
d)
e)
b)
Hình 1.17. Khn vẽ
II
1.4. MÁY VẼ
Cùng với việc cơ khí hóa, t ự 'động-hóa các rniá t r ì n h
______
dần được cơ khí hóa. Ngày nay người ta đã dùng nhiều loai barf11- 1’ c
chuyên dùng đặc biệt như thước ve đương cong bâc hẵf ttì ' ẽ^CơkhíhĨ ’ nhữnể thước
v'v. N h ^ g dụng cụ vd
1Z hóa „ à T I Ị T a y
“í
ộ v ẹ do
Sau đây giới thiệu bàn vẽ cơ khí hóa thường gọi là may vẽ m g dụng cụ vẽ thơng thườnSMáy vẽ thanh trượt (hình 1.18) là loại máy có độ chính xác can
bàn vẽ ỉ được nối liền với giá đd 2 và có thể quay quafh trục của giá đ&sử dụng' Máy vẽ CÓ
Thanh ngang 3 được gắn với bàn vẽ. Hai thước kẻ VL n „ ' f
có thể trượt theo thanh dọc <5, còn thanh doc chav theo thanh ng g0C ? .CUng cơ câu bản ỉề 5
trên bàn vẽ.
cn Dat Ky diêm nào ở
Máy vẽ thanh trượt tiện dụng, nên ngày nay được dùng rơng rãi.
Hình 1 .19 là máy vẽ có cơ cầu bình hành.
Hình 1.18. Máy vẽ thanh trượt
Hình 1.19. Máy
vẽ cơ cơ cấu bình hành
1.5. DỤNG CỤ VÀ VẬT LIỆU
1.5.1. Bút chì
Bút chì đen dùng để vẽ có hai loại, loại cứng kí hiệu là H và loại mềm kí hi*,,
mỗi chữ ấy có kèm theo chữ số chỉ độ cứng và độ mềm khác nhau 0 ,0 vói h f l
T
chữ càng lớn thì độ cứng hoặc độ mềm càng tăng.
°
9 sô c^a cac
Phân cấp độ cứng và độ mềm của lõi chì như hình 1.20. Từ trái
giảm dần và độ mềm tăng dần.
9H 8H 7H 6H 5H 4H
3H 2H H F HB B
Hình 1.20. Lõi chi
12
„u.:;
g p^a* 9ợ
2B 3B 4B 5B 6B 7B
- Loại cứng từ 9H đến 4H dùng để vẽ các hình vẽ địi hỏi độ chính xác cao, như vẽ đồ
thị, biểu đồ...
- Loại trung bình từ 3H đến B dùng trong vẽ kỹ thuật.
- Loại mềm từ 2B đến 7B dùng trong vẽ mỹ thuật.
Lõi chì đặt trong vỏ gỗ (hình 1.21a) hoặc vỏ cứng như bút chì máy (hình 1.21b) và bút
chì kim (hình 1.21c).
Trong vẽ kỹ thuật, người ta thường dùng loại but chì cứng có kí hiệu là H, 2H để vẽ nét
mảnh và dùng loại bút chì có kí hiệu là HB, B để vẽ nét đậm hoặc viết chữ. Bút chì được vót
nhọn hay vót theo hình lưỡi đục (hình 1.22).
a)
b)
c)
Hình 1.21. Bút chì
1.5.2. Dụng cụ khác
Dụng cụ khác gồm có tẩy dùng để tẩy chì hay tẩy mực, có thể dùng lưỡi dao sắc để
cạo vết bẩn trên bản vẽ; giấy ráp dùng để mài nhọn bút chì;’ đinh mũ hoặc băng dính dùng
để ghim tờ giấy vẽ lên bàn vẽ.
1.5.3. Giấy vẽ
Giấy vẽ là vật liệu dùng để lập bản vẽ kỹ thuật bằng dụng cụ vẽ là loại giấy chuyên
dụng, giấy hơi cứng có mặt phải nhẵn mặt trái ráp. Khi vẽ chì hay vẽ mực dều dùng mặt
phải. Giấy vẽ khác thường là giấy kẻ ô vuông hoặc kẻ li. Giấy can là loại giấy bóng mờ
dùng để can các bản vẽ.
TIÊU CHUẨN TRÍCH DẪN v à t h a m k h ả o
ISO 9177-2:1989
Mechanical pencils Part 2: Black leads - Classification and dimensions
ISO 9180:1988
Black leads for wood-cased pencils - Classification and diameters
ISO 9960-3:1994
Draughting instruments with or without graduation Part3: Set squares
ISO 9961:1992
Draughting media for technical drawings - Natural tracing paper
13
Chương 2
VẼ KỸ TH U Ậ T TRỢ GIÚP BẰNG MÁY TÍNH ĐIỆN TỬ
2.1. KHÁI NIỆM CHUNG
Ngày nay, ở thời đại cơng nghệ thơng tin ln phát triển nhanh chóng, trong thiết kế
hiện đại, người ta đang sử dụng máy tính điện tử (MTĐT) và các chương trình phần mềm
để phát triển, trao đổi các ý tưởng thiết kế. Vì vậy, khả năng giao tiếp đồ hoạ bằng giấy và
bút vẽ của người kỹ sư, kiến trúc sư hiện đại được kết hợp và tăng cường bởi các kỹ thuật vẽ
và thiết kế trợ giúp bằng MTĐT.
Mục tiêu của chương này là cung cấp cho bạn đọc các kiến thức cơ bản về việc thành
lập bản vẽ kỹ thuật bằng MTĐT.
2.1.1. Nhu cầu thành lập bản vẽ kỷ thuật bằng MTĐT
Trong công tác thiết kế, hoạt động vẽ chiếm từ 30 đến 70% sức lao động của người
thiết kế. Vì vậy việc nghiên cứu các phương pháp xử lý thông tin vẽ, giải các bài tốn hình
học và vẽ hình bằng MTĐT để thành lập các bản vẽ kỹ thuật ở tất cả các giai đoạn của quá
trình thiết kế và chế tạo là một bộ phận không thể thiếu được trong các hệ thống
CAD/CAM.
Sử dụng MTĐT, một mặt, cho phép tự động hóa việc lập bản vẽ kỹ thuật, giải các bài
tốn hình học, đánh giá các kết quả thiết kế, sửa đổi nó một cách nhanh chóng và chính xác ;
mặt khác, sẽ giải phóng con người khỏi các hoạt động vẽ nặng nhọc và đơn điêu, dành
nhiều thời gian cho hoạt động tư duy, sáng tạo.
Trên thực tế "Vẽ kỹ thuật trợ giúp hằng MTĐT" (gọi tắt là “VKT bằng MTĐT”) đã ra
đời. VKT bằng MTĐT là tổ hợp các phương tiện và phương phẩp đảm bảo tự động hóa q
trình xử lý và lưu trữ thơng tin vẽ bằng MTĐT.
Việc kết hợp khả năng của con người và MTĐT ở chế độ tương tác người - máy tạo
thành một nhóm thiết kế lý tưởng. Với tốc độ xử lý thơng tin cao, các cơng việc tính tốn,
vẽ hình đơn điệu, lặp đi lặp lại hoặc các chức nãng phức tạp và khó khãn đối với người thiết
kế như xây dựng hình chiếu, hình cắt, mặt cắt... sẽ dành cho MTĐT. Với óc suy đốn trực
giác người thiết kế chỉ thực hiện toàn bộ hay từng phần các chức năng dễ dàng với con
người nhưng phức tạp và khó khăn đối với MTĐT như lựa chọn số hình chiếu, hình cắt, các
hướng chiếu hợp lý ••
14
2.1.2. Các th u ật ngữ
Trong quá trình phát triển các ứng dụng của MTĐT vào lĩnh vực thiết kế và chế tạo,
nhiều thuật ngữ đã xuất hiện để miêu tả quan hệ giữa MTĐT và các hoạt động kỹ thuật của
con người. Dưới đây là một sô' thuật ngữ thường gặp trong vẽ kỹ thuật, thiết kế và chế tạo
trợ giúp bằng MTĐT.
Đồ họa M áy tính (tiếng Anh: Computer Graphics, viết tắt: CG) là ứng dụng MTĐT
trong xây dựng, xử lý, lưu trữ và biểu diễn các đối tượng, các q trình, các hệ thống để
phân tích, thiết kế và giao tiếp, trao đổi các giải pháp kỹ thuật.
Vẽ kỹ th u ật trợ giúp bằng M TĐT (Computer Aided Drafting, CAD) là việc sử dụng
MTĐT để thành lập bản vẽ kỹ thuật.
Thiết kế trợ giúp bằng M TĐT (Computer Aided Design, CAD) là các hoạt độns trợ
giúp của MTĐT trong quá trình thiết kế, bao gồm nhưng khơng giới hạn các hoạt động sau:
xây dựng mơ hình, phân tích, chi tiết hóa và lập hồ sơ tài liệu.
Hệ thống kết hợp cả hai phần trên gọi là Vẽ và Thiết kê trợ giúp bằng MTĐT
{Computer Aided Drafting and Design, CADD).
C hế tạo trợ giúp bằng M TĐT (Computer Aided Manufacturing, CAM) là sử dụng
MTĐT để trợ giúp điều khiển và chỉ đạo quá trình chế tạo.
Hệ thống tự động hoá thiết kế và chế tạo là hệ thống kết hợp CAD và CAM
(CAD/CAM).
Bản vẽ bằng MTĐT là một tệp dữ liệu miêu tả các đối tượng cần biểu diễn, thiết kế.
Tuỳ theo loại dữ liệu miêu tả đối tượng đồ hoạ, người ta chia ra hai loại bản vẽ điện tử: Bản
vẽ hai chiều (2D) và Bản vẽ ba chiều (3D).
Bản vẽ 2 chiều bàng M TĐT (2D Computer Drawing) là bản vẽ mà CSDL miêu tả đối
tượng chỉ bao gồm hai giá trị toạ độ X, Y cho mỗi điểm. Có thể xem bản vẽ 2D là hình biểu
diễn đối tượng dưới dạng một hay nhiều hình chiếu mà mỗi hình chiếu chỉ thể hiện hai
trong ba kích thước của đối tượng (hình 2.1).
Vẽ 3 chiều bằng MTĐT (3D Computer Drawing) là việc miêu tả mỗi điểm của đối
tượng dưới dạng ba tọa độ đầy đủ X, Y, z của nó trong CSDL. Từ CSDL của bản vẽ 3D có
thể xây dựng được các hình biêu diễn khác nhau, kể cả các hình ảnh nổi của đối tượng như
hình chiếu trục đo, hình chiếu phối cảnh... (hình 2.2).
15
A'AuằoC*P WO*
â
F
E
View
fC WVCIBookWKTCokhtIPHIVM dwE]
Insert
ãô. a ằ -ã ôã>
Format
Toots
ằã c
Draw
Dimension
*
Modtfy
X
Express
Window
Hrip
. n X
»03^ d
Hinh 2.1. Bân vê 2D: ba hinh chiéu cüa mơt chi tiêt mây
ỵ L. \ \ X X ! O y O -i \ * > K ts
L S 3* i.) 0<1 2 li E * 1 ® < S lt M
SNAP GRID ORTHO POLAR OSNAP loTRAQC HwT IPAPER
Hình 2.2. Bản vẽ 3D: một số chi tiết tách rời của máy phun khí
2.2. HỆ THỐNG VẼ THIẾT KẾ BẰNG MTĐT
Hệ thống vẽ và thiết kế trợ giúp bằng MTĐT (CAD) xuất hiện vào khoảng giữa những
năm 1960 và được sử dụng rộng rãi vào đầu những năm 1980, khi CAD bắt đầu được khai
thác trên các máy vi tính. Từ đó số người sử dụng các hệ thong CAD ngày cang tang len
mau chóng. Các lĩnh vực ứng dụng CAD trở nên ngày càng phong phu va rộng rai: c^e l^°
ô tô, máy bay, tầu thuỷ, xây dựng nhà cửa, cầu đường... Với sự phát triển của công nghệ
thông tin hiện đại, các hệ thống CAD không ngừng được cải tiến, mở rộng và ngày càng
hoàn thiện hơn.
Một hệ thống CAD gồm hai phần: phần cứng (hardware) còn được gọi là đảm bảo kỹ
thuật và phần mềm (software) cịn được gọi là đảm bảo chương tì inh.
1 n a i l cứng
v u n g
2.2.1. Phần
Phần cứng là tổ hợp các phương tiện kỹ thuật, gồm MTĐT và các thiết bị đưa vào, đưa
ra thơng tin nói chung và thơng tin vẽ nói riêng như sơ đổ miêu tả ở (hình 2.3).
Phụ thuộc vào lĩnh vực ứng dụng cụ thể, MTĐT có thê là cỡ lớn (mainframe), cỡ nhỏ
icomnuter) với
làm việc
việc (workstations) hoặc máy vi tính (micì oiompute)),
{minicomputer)
với các
các tram
trạm làm
chúng được sử dụng đơn lẻ hoặc nối thành mạng.
TRƯỞNG OẠI HỌC QUY NHƠN
T HU VIỆN
2-VKT Cơ KHỈ
VVổ
/ !>
17
- Bảng số hóa
ổ đọc
- Máy quét ảnh
băng từ
ổ đọc
đĩa từ,
đĩa quang
Máy in
Hình 2.3. Đảm bảo kỹ thuật của CAD
Ngồi các thiết bị ngoại vi truyền thống như máy in, các ổ đọc đĩa từ, bãng từ, máy
đọc băng, bìa đục lỗ... còn bổ sung các thiết bị tùy chọn chuyên dùng để trao đổi thông tin
đồ họa.
Các thiết bị đọc bản vẽ như bảng số hóa (digitizer), máy quét ảnh (scanner)... cho
phép biến đổi bán tự động hoặc tự động các thông tin đồ họa thành các thông tin dưới dạng
sơ' mà MTĐT có thể hiểu được.
Các thiết bị tương tác ngưòi-máy là các thiết bị phục vụ hoạt động đối thoại, trao đổi
thông tin đồ họa giữa con người và MTĐT trong quá trình vẽ, thiết kế. Màn hình của ống
phóng tia điện tử cho phép đưa ra nhanh chóng hình ảnh của các đối tượng đang được xử lý
trong MTĐT. Bàn phím, bút sáng, con chuột... được dùng để đưa thông tin chung và thông
tin đồ họa vào bộ nhớ của MTĐT, để nhận dạng hoặc xóa một phần hay tồn bộ hình biểu
diễn, đé điều khiển tồn bộ q trình làm việc của chương trình.
Các thiết bị đưa ra thông tin đồ họa như máy vẽ (plotter), máy in (printer)... có cấu tạo
và phương pháp hoạt động khác nhau như vẽ trên giấy thường, giấy can... bằng một hay
nhiều bút có mầu khác nhau, đổi mầu giấy bằng phản ứng hóa học, phun mực hay dùng tia
la-de... đều dùng để ghi lại các bản vẽ, hình ảnh ở giai đoạn trung gian hay cuối cùng của quá
trình thiết kế.
2.2.2. Phần mềm
Phần mềm hay đảm bảo chương trình của một hệ thống vẽ-thiết kế bằng MTĐT nói
chung gồm ba phần chính: Hệ điều hành, Các chương trình ứng dụng và Các chương trình
đồ họa như sơ đồ trên hình 2.4.
Hệ điều hành là tổ hợp các chương trình điều-khiển tồn bộ q trình hoạt động của hệ
thống, trao đổi thông tin vào, ra giữa MTĐT và các thiết bị ngoại vi, tự động hóa lập
chương trình. Chẳng hạn, hiện nay trên máy tính cá nhân thường dùng Hệ. điều hành
Windows của hãng Microsoft.
18
Các chương trình ứng dụng được thành lập theo địi hỏi của lĩnh vực áp dụng và mức
độ tự động hoá hoạt động sáng tạo của con người trong lĩnh vực đó. Các chương trình này
phụ thuộc vào các thành tựu về lý thuyết và thuật toán để tự động hóa việc giải các bài tốn
của từng lĩnh vực áp dụng cụ thể như chế tạo ô-tô, máy bay hoặc kiến trúc, xây dựng...
Chương trình đưa vào thơng tin để xây dựng mơ hình của đối tượng đồ hoạ. Chương
trình này xử lý các dữ liệu miêu tả đối tượng bằng toạ độ được đưa vào bằng ngơn ngữ lập
trình (C, Pascal...) hay bằng thiết bị (bảng số hoá, máy qt ảnh...) để đưa ra kết quả là mơ
hình số trừu tượng nằm trong Cơ sở dữ liệu.
Các chương trình đồ họa thường bao gồm các nhóm chương trình sau: nhóm chương
trình xây dựng và điều khiển mơ hình của các đối tượng đồ hoạ; nhóm chương trình sinh ra
các loại hình biểu diễn, giải các bài tốn hình học, phân tích, xử lý, biến đổi thơng tin vẽ
như: các chương trình xây dựng đường cong, mặt cong, ghi kích thưóc, ký hiệu mặt cắt vật
liệu, xây dựng và biến đổi các loại hình chiếu trục đo, phối cảnh... và nhóm chương trình
phục vụ hoạt động tương tác người-máy.
Chương trình dưa ra thông-tin điều khiển các thiết bị hiển thị đồ hoạ hoặc máy vẽ đế
sinh ra bản vẽ trong hoặc sau khi thiết kế, hoặc dùng để điều khiển máy cơng cụ làm việc
theo chương trình chế tạo ra sản phẩm.
2.2.3. Đặc điểm của CAD
a) Các ưu điểm của CAD
CAD có nhiều điểm ưu việt mà bản vẽ kỹ thuật truyền thống khơng thê có được. Trong
đó, các ưu điểm cơ bản cúa nó là tiện dụng, chính xác, “thơng minh" và thích nghi.
19
Tiện dụng:
Với các lợi điểm dễ dàng sửa-chữa và sao chép, chính xác và “thơng minh” CADD cho
phép thành lập bản vẽ một cách thuận tiện và nhanh chóng. Nó làm cho hoạt động vẽ vốn tẻ
nhạt đơn điệu trở nên dễ chịu, làm cho người vẽ cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản hơn rất
nhiều so với cách vẽ truyền thống băng các dụng cụ vẽ. Giông như trong soạn thảo vãn bản,
người ta có thể “cắt” đối tượng và “dán” nó vào các chỗ khác nhau ở cùng một bản vẽ hoặc
ở một bản vẽ khác. Đối với bản vẽ có nhiều đối tượng giống nhau nằm ở nhiều chỗ khảc
nhau, chỉ cần vẽ đối tượng đó một lần rồi đặt nó vào bất kỳ chỗ nào thấy cần thiết. Khi cần
sửa lai đối tượng này, cũng chi cân sưa no mọt lân la đoi tượng se tự động thay đổi tai mọi
chỗ nó đã được đặt.
Chính xác:
CAD cho phép xây dựng bản vẽ chính xác hơn vẽ bằng tay rất nhiều. Có thể đặt đơn vị
đo với do chinh xac mong muốn, rồi vẽ theo kích thước thực của đối tượng hoặc theo một
ty lê tuy ý. Người ta có thể chọn tỷ lệ bất kỳ khi đưa một phần hay toàn bộ bản vẽ ra các
thief bi do h o t Có thể phóng to một chi tiết nhỏ nhất của bản vẽ và làm việc với nó như
dang nhin qua kính hiển vi. Chẳng hạn, có thể làm việc trên một bản vẽ biểu diễn một vùng
rộng lkm2 với độ chính xác lmm.
“Thơng m in h ”:
Một đặc điểm mà bản vẽ bằng tay không thể có được là khả năng gán thơng tin vãn
hản vao mot đối tượng hay một bản vẽ. Thông tin như vậy được gọi là một thuộc tính và
khả nang gan các thuộc tính vào bản vẽ làm cho bản vẽ trở nên “thơng minh”. Trên bản vẽ,
mơt thuộc tính có thể được hiển thị hay không được hiển thị. Chẳng hạn, khi đã gán c aí
thone tin ve thời hạn sử dụng, vật liệu hay giá thành cho các chi tiết, người ta có thể rút ra
các thơng tin này từ bản vẽ để dưa vào xử lý trong một chương trình quản trị dữ liêu hay
một bảng tính để tính tốn khấu hao hay giá thành sản phẩm.
Thích nghi:
b) Các điểm hạn chế của CAD
Chi phí:
Một trạm làm việc CAD hồn thiện có thể có giá từ 10.000 đến 50 000 Us
trang bị cho mọt chỗ làm việc theo phương pháp truyền thống chỉ cần 200 đ *' tr° nê khi
Tuy nhiên chi phí cho các phần cứng ngày càng giảm dần.
en ^00 USD.
20
Thời gian đào tạo:
Cần có một thời gian đào tạo đáng kể để có thể làm việc thành thạo trong một hệ thống
CAD. Để thích ứng với một hệ thống CAD khác lại phải được đào tạo thêm. Tất nhiên nó sẽ
nhanh hơn việc đào tạo lần đầu rất nhiều.
Giới hạn của hệ thống:
Một hệ thống CAD bao gồm một bộ các chương trình máy tính, vì vậy nó chỉ có thể
thực hiện các cơng việc đến giới hạn mà nó đã được lập trình. Tuy nhiên, vì các hệ thống
CAD ngày càng hiện đại, tinh vi nên các công việc được thực hiện đã tăng lên rất nhiều.
Tác động ngược đến tính sáng tạo:
Một mặt, CAD tạo ra được các bản vẽ được chuẩn hoá, dễ sử dụng, nhưng mặt khác,
nó lại làm giảm tính sáng tạo của người thiết kế. Tuy nhiên, việc dễ dàng sửa đổi hình
dạng, kích thước và hình biểu diễn của đối tượng lại kích thích người thiết kế thực hiện
những cơng việc trước đây là quá khó, quá mệt mỏi.
Bất kể những hạn chế trên, các hệ thống CAD đã hoàn toàn chiếm ưu thế so với các
phương pháp đồ hoạ truyền thống, do tính hiệu quả ngày càng tãng và giá thành của chúng
ngày càng giảm.
Với các đặc điểm ưu việt kể trên của CAD, phải chăng các kiến thức về Hình học hoạ
hình và Vẽ kỹ thuật khơng cịn cần thiêt đối với các kỹ sư, kiến trúc sư tương lai? Thực tế
không phải như vậy. Để sử dụng được các phần mềm CAD, người sử dụng phầi có các kiến
thức cơ bản về tin học, phải thay đổi cách làm việc và biết sử dụng các công cụ mới là con
chuột, bàn phím... thay cho các dụng cụ vẽ cũ là thước kẻ, ê-ke, com-pa... Tuy nhiên, một
phần mểm, dù hiện đại và hồn thiện đến đâu cũng khơng thể thay thế được mọi hoạt động
trí tuệ của con người. Người sử dụng hiệu quả các phần mềm CAD là người có các kiến
thức vững vàng về Hình học họa hình và Vẽ kỹ thuật. Chính vì vậy, vai trị của các mơn học
Hình học hoạ hình và Vẽ kỹ thuật khơng nhũng khơng giảm đi, mà cịn phải được nâng cao
hơn trong việc dào tạo các kỹ sư, kiến trúc sư tương lai sẽ làm việc trong các hệ thống
CAD.
Như vậy, có thể kết luận rằng để sử dụng có hiệu qủa một hệ thống CAD điểu quan
trọng nhất vẫn là kiến thức và năng lực của người sử dụng và có thể coi người sử dụng là
thanh phần thứ ba có tính quyết định trong một hệ thống CAD.
2.2.4. Các hệ lệnh
Ngày nay các giao diện cùa một phần mểm CAD rất thân thiện với người dùng, vì
chúng sử dụng các ĩoại thực dơn (menu) và các thanh cơng cụ (toolbar). Chẳng hạn, khi
muốn vẽ đường trịn, chỉ việc chọn hạng mục CIRCLE trẽn thực đơn; hạng mục này sẽ gọi
một lệnh (thực chất là gọi một chương trình) đê tạo thành một đường trịn trên màn hình.
Khả năng tương tác này làm cho việc vẽ bằng MTĐT trớ nên rất đơn giản và dễ sử dụng,
nếu người dùng đã có vốn kiên thức CƯ bán vổ hình học và đã biết sơ bộ vể việc thành lập
bản vẽ kỹ thuật.
Các lệnh của một bộ chương trình vẽ bằng MTĐT được nhóm thành một số hệ lệnh
chính Mỗi hê lênh sẽ thực hiện một số yêu cầu cụ thể trong việc xây dựng và biểu diễn đối
21
tượng. Trong các bộ chương trình .khác nhau, các lệnh này có thể có tên gọi khác nhau,
nhưng các tên gọi đều được miêu t’ả -một cách chung nhất. Điều này cho phép người sử
dụng có thể chuyển làm việc từ bộ chương trình này sang bộ chương trình khác một cách
dễ dàng. Một số hệ lệnh chính thường thấy trong các phần mềm là:
- Hệ lệnh quản lý tệp chứa các lệnh dùng để lập tệp bản vẽ mới; mở tệp bản vẽ đã có;
ghi tệp bản vẽ vào ổ đĩa; xuất bản vẽ ra máy vẽ hoặc máy in...
- Hệ lệnh điều khiển và xây ditng hình biểu diễn chứa các lệnh dùng để phóng to, thu
nhỏ hình biểu diễn trên màn hình ; trượt hình biểu diễn trên màn hình ; xây dựng hình
chiếu trục đo, hình chiếu phối cảnh...
- Hệ lệnh xác lập chứa các hạng mục và các lệnh dùng để xác lập đơn vị đo và cách
biểu diễn con số; giới hạn bản vẽ; loại nét vẽ; kiểu chữ; vị trí hệ tọa độ theo yêu cầu của
người sử dụng...
- Hệ lệnh vẽ các đối tượng cơ bản chứa các lệnh vẽ đoạn thẳng; cung, đường tròn...
- Hệ lệnh sửa đổi đối tượng chứa các lệnh dùng để tẩy xóa, biến đổi đối tượng...
2.3. XÂY DỰNG BẢN VẼ BẰNG AUTOCAD
2.3.1. Phần mềm AutoCAD
Hiện nay người ta đang khai thác nhiều hệ thống CAD có các khả nâng khác rihau và
định hướng cho các lĩnh vực khác nhau như thiết kế, chế tạo ô-tô, cơ khí, điện tử, kiến trúc,
xây dựng... Phần mềm AutoCAD của hãng Autodesk (Mỹ) là một bộ chương trình vẽ thiết
kế bằng MTĐT phổ biến nhất trên các vi máy tính do có các ưu điểm sau: giá rẻ, địi hỏi
một cấu hình phần cứng khơng đắt, dễ sử dụng và có nhiều chức năng đáp ứng được yêu
cầu thành lập các loại bản vẽ trong quá trình thiết kế của nhiều lĩnh vực khác nhau. Đây là
bộ chương trình đang được sử dụng rộng rãi ở các cơ quan sản xuất, các viện thiết kế và các
trường đại học cả trong và ngoài nuớc. Bản vẽ của AutoCAD đã trở thành bản vẽ chuẩn
trong nền cơng nghiệp hiện đại. Chính vì vậy trong các phần sau của cuốn sách AutoCAD
sẽ được lấy làm ví dụ để tìm hiểu cấu trúc, chức năng cơ bản và cách sử dụng một phần
mềm CAD.
Cho đến nay hãng Autodesk đã đưa ra và cải tiến nhiều dạng phát hành của bộ chương
trình AutoCAD. Ở nước ta các dạng phát hành của AutoCAD cũng đang được dùng rất phổ
biến. Các ví dụ vể cách thành lập bản vẽ kĩ thuật bằng MTĐT trong cuốn sách này sẽ được
thực hiện nhờ bộ chương trình AutoCAD. Với mục đích tìm hiểu cách sử dụng một phần
mềm CAD, chúng ta khơng đi sâu giải thích chi tiết các lệnh của AutoCAD mà chỉ nêu các
bước vẽ và giới thiệu các lệnh tương ứng của AutoCAD sẽ dược sử dụng.
a) M àn hình và các loại thực đơn của AutoCAD
Khi bắt dầu vào AutoCAD để soạn thảo bản vẽ, màn hình sẽ được chia thành các vùng
cửa sổ chính như sau (hình 2.5):
22
Thực đơn kéo xuống
Thanh
Thực đơn
^AutoCAD 2rtOŨ ỊViduữlI
0
Edt ỵ c ^ ỊỊn c a rt FfiRMi Took ' ßraw Di
ŨI^D
------ - — - -—
■— đv
ModỊy Ejptets
)*¿rd0V4
Hflập
.KỊBgỊ.
tfQỵ
?I
Thực đơn
Màn hình
Thanh
cơng cụ
Con trỏ
Đồ họa
Biểu
tượng
Hệ tọa
độ
Cửa sổ
Vùng vẽ
ỊtottKand
Cửa sổ
lệnh
ỗíkMÕDd
'900000. Í 1Q0Õ0Õ. 0.0000 -
TsSSp GRID! ORTHO1POLAR! OSHAPi OTRAOtl LWTIIMODEL
Hình 2.5. Giao diện màn hình của AutoCAD
to
Lo
'V .
Dòng
trạng thái
- Thanh thực đợn: các hạng-mục của các hệ lệnh sắp xếp thành một thanh nằm ngang
cho phép người sử dụng lựa chọn'bằng cách nhắp phím trái chuột tại hạng mục rồi tìm đến
các lệnh mong muốn;
- Các Thanh cơng cụ chứa biểu tửợng các lệnh cho phép người sử dụng thực hiện một
lệnh bằng cách nhắp phím trái chuột vào biểu tượng của lệnh ấy;
- Thực đem màn hình: được đặt dọc theo cạnh phải của màn hình cho phép truy nhập
đến mọi hệ lệnh rồi đến từng lệnh của AutoCAD;
- Cửa sổ vùng vẽ: vùng lớn nhất trên màn hình, trên đó sẽ hiển thị các đối tượng vẽ.
Một dây chữ thập (còn được gọi là con trỏ đồ họa) di chuyển trên vùng này theo sự chuyển
động của chuột để định vị các điểm. Góc dưới bên trái có biểu tượng hệ tọa độ đang làm
việc;
- Cửa sổ lệnh: nằm ở phía dưới màn hình. Tại cửa sổ này người sử dụng có thể đưa vào
các lênh và các lựa chọn cịn máy tính sẽ đưa ra các thơng báo, các u cầu hoặc trả lịi.
- Dịng trạng thái: dịng dưới cùng của màn hình, cho ta biết tọa độ hiện tại của con trỏ
trong vùng vẽ, các trạng thái vẽ đã xác lập.
b) Thực hiện lệnh trong AutoCAD
Để thực hiện một lệnh của AutoCAD có thể dùng một trong các cách sau:
- Chọn tên lệnh từ các hệ lệnh trong thạnh thực đơn hoặc trên thực đơn màn hình;
- Chọn biểu tượng của lệnh trong thanh công cụ;
- Chọn biểu tượng của lệnh trong bảng lệnh của bảng số hoá;
- G õ lên lệnh bằng bàn phím rồi nhấn phím Enter.
Ví dụ để gọi lệnh vẽ đường trịn bằng tâm và bán kính, có thể thực hiện một trong các
cách sau:
Cách I : a) Di chuyên con trỏ lên thanh thực đơn; b) Chọn hệ lệnh Draw, c) Chọn hạng
mục Circle: d) Nhắp phím trái chuột vào hạng mục Center, Radius (hình 2.5);
Cách 2: Nhấp chuột vào biểu tượng lệnh vẽ đường trịn trên thanh cơng cụ (hình 2.6);
o
a
f
0 _
lè • m B A
Hình 2.6. Dùng thanh cơng cụ để chọn lệnh Vẽ đường trịn
24
Cách 3: Chỉ vào ô lệnh Circle trong vùng bảng lệnh của bảng số hố (hình 2.7).
Biểu tượng lệnh vẽ đường trịn
\
EXTENTS
□ □ □
□ □ □
□ □ □
REGENALL DSVIEWER
"ĨT
AĨĨDISP
RENDER
f e
UCSICON
ALL
WINDOW
O
a
PRFVIOUS
Q
IN
SPHERE
TILED
MSPACE
PSPACE
CYLINDER
A
K
VP0RĨS
VIEW
e
LIGHT
RMAĨ
MAĨLIB
SEĨUV
PLAN
BACKGRNW
CONE
VPOINT
DDVP0INĨ
WEDGE
©
BACK
e==5
FOG
0
LEFT
0TOP
sw
d = l
FRONT
□HD f e ]
TOOLBAR
BOTTOM
TORUS
& = ]
RIGHT
EXTRUDE
CIRCLE
DONUT
RAY
SOLID
SPLINE
XLINE
<£
o
3DFACE
ELLIPSE
DĨEXĨ
SURFACES
BLOCK
Ố—
Ồ
0
REVSURF
POINT
<©
vy
TABSURF
HATCH
VIEW
#
LEADER
REGION
o
r\j
_D
PUNE
ê>
Ồ
€>
ife
POLYCON
L__1
* ©
EDGESURF
o
MLINE
REVOLVE RULESURF BOUNDARY RECĨANG
¿ rh
3D ORBIT
L
/
fc
i * vg
SE
X
/
o
& o
O
ISHADEDGE
MĨEXĨ
0
OUT
HIDE
SHADE
LINE
CENTER
a
SCENE
/
BOX
o
REGEN
& AŨ o
o:
□
r
ARC
<
oc
O '
UJ
ce:
DRAW
Hình 2.7. Dùng bảng lệnh của bảng số hoá đề chọn lệnh vẽ đường tròn
Cách 4: Gõ tên lệnh CIRCLE rồi ấn phím Enter,
c) Xác định một điểm trong AutoCAD
Trong AutoCAD, điểm là đối tượng vẽ cơ bản đơn giản nhất. Một điểm được xác định
bởi một bộ hai hoặc ba số thực là toạ độ của nó trong mặt phẳng hoặc trong không gian.
AutoCAD cho phép sử dụng bốn loại hệ toạ độ: đề-các, cực, trụ và cầu. Các hệ toạ độ hay
dùng là đề-các và cực. Khi AutoCAD yêu cầu chỉ định một điểm, có thể nhập vào toạ độ
của điểm theo một số quy ước sau:
Toạ độ tuyệt đối: là toạ độ tính với điểm gốc của hệ toạ độ đang dùng.
Tọa độ tương đối: là tọa độ tính với điểm cuối cùng vừa được chỉ định. Khi nhập vào tọa
độ tương đối cần gõ ký hiệu @ trước khi gõ các giá trị tọa độ.
Có thể dùng chuột để nhập vào một điểm bằng cách di chuyển nó cho tới khi con trỏ
đồ họa đi đến điểm cần chỉ định thì nhắp phím trái chuột. Các giá trị toạ độ X, y của điểm
này sẽ đuợc nhập vào như khi gõ chúng trên bàn phím.
2.3.2. Bản vẽ 2 chiều bằng AutoCAD
Với các đặc điểm và các hệ lệnh nêu trên của CAD việc xây dựng bản vẽ 2D rất đơn
giản. Mọi bán vẽ bằng tay đều thực hiện được bằng các phần mềm CAD. CAD không
những đáp ứng được mọi yêu cầu của cách vẽ truyén thống, cho phép xây dựng bản vẽ một
25