TRƯỜNG ĐHSP NGHỆ THUẬT TW
KHOA GIÁO DỤC ĐẠI CƯƠNG
TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN
TRIẾT HỌC HỌC MÁC-LÊNIN
Số thứ tự......
Họ và tên ............................................................
Mã sinh viên: ……………............................................………
Lớp: ……………
Khoa ......................................
Lớp tín chỉ: .......................................
HÀ NỘI, THÁNG
NĂM 2023
TRƯỜNG ĐHSP NGHỆ THUẬT TW
KHOA GIÁO DỤC ĐẠI CƯƠNG
TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN
TRIẾT HỌC HỌC MÁC-LÊNIN
Tên đề tài:
Lý luận của Chủ nghĩa Mác về giai cấp và đấu tranh giai cấp. Đấu tranh giai
cấp ở Việt Nam giai đoạn hiện nay
Họ và tên:.............................................................................................................
Số điện thoại:...................................................................................................
Thời gian học: Sáng/ Chiều - Thứ .........
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC VỀ GIAI CẤP VÀ ĐẤU
TRANH GIAI CẤP...................................................................................................2
1.1. Giai cấp...........................................................................................................2
2.2. Đấu tranh giai cấp...........................................................................................4
CHƯƠNG 2: ĐẤU TRANH GIAI CẤP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 6
2.1. Đặc điểm và cơ cấu giai cấp ở Việt Nam........................................................6
2.2. Đấu tranh giai cấp ở Việt Nam giai đoạn hiện nay.........................................9
KẾT LUẬN............................................................................................................13
DANH MỤC THAM KHẢO...............................................................................14
MỞ ĐẦU
Việt Nam đã và đang chuyển từ giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mơ
hình tập trung bao cấp sang mơ hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa; từ một xã hội khép sang một xã hội rộng mở (với phương châm sẵn sàng là
bạn với tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới, trên cơ sở bình đẳng và cùng có
lợi). Do sự chuyển đổi đó nên xã hội Việt Nam cũng có sự biến đổi hết sức sâu sắc
trên nhiều phương diện, trong đó có sự biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp. Sự biến
đổi này, một mặt tác động tích cực đến cơng cuộc đổi mới đất nước, nhưng mặt
khác cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải được giải quyết.
1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC VỀ GIAI CẤP VÀ ĐẤU
TRANH GIAI CẤP
1.1. Giai cấp
Quan điểm duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác là cơ sở
lý luận khoa học làm sáng tỏ bản chất của quan hệ giai cấp. Năm 1919, trong tác
phẩm “Sáng kiến vĩ đại”. V.I. Lênin đã đưa ra định nghĩa về giai cấp như sau:
“Giai cấp là những tập đoàn người to lớn khác nhau về địa vị của họ trong một hệ
thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường
thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với những tư liệu
sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và như vậy khác nhau về
cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng.
Giai cấp là những tập đồn người, mà tập đồn này thì có thể chiếm đoạt lao động
của tập đoàn khác, do chỗ các tập đồn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ
kinh tế xã hội nhất định.”
Bản chất của quan hệ giai cấp
Nói giai cấp là nói đến hệ thống các nhóm người trong một hệ thống kinh tế xã hội cụ thể do chế độ đó tạo ra. Mọi giai cấp trong lịch sử, trên cùng một hệ
thống hoặc một hệ thống khác nhau, mỗi loại có đặc điểm riêng. Một giai cấp nhất
định cũng sẽ thay đổi khi điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi. Tuy nhiên, định nghĩa
của Lê-nin cho phép chúng ta nắm được những đặc điểm cơ bản, những dấu hiệu
chung và ổn định nhất của các giai cấp, dù đó là những giai cấp của xã hội cổ đại,
xã hội phong kiến, hay xã hội tư bản hiện đại. Giai cấp là một phạm trù kinh tế xã hội lịch sử, không phải là một phạm trù xã hội đơn thuần. Giai cấp khơng phải
là sản phẩm của sản xuất nói chung mà là sản phẩm của những hệ thống sản xuất
xã hội nhất định trong lịch sử. Mỗi hệ thống giai cấp tương ứng với một hệ thống
sản xuất xã hội, về bản chất, là thể thống nhất của các mặt đối lập. Do đó, ta khơng
thể hiểu được đặc trưng của từng giai cấp cụ thể nếu khơng đặt nó trong hệ thống,
tức là trong mối quan hệ với giai cấp đối lập với nó. Nói dễ hiểu là, khi ta đề cập
2
đến giai cấp tư sản thì bắt buộc phải đề cập ít nhiều đến giai cấp vơ sản, và ngược
lại.
Về nguồn gốc giai cấp
Điểm xuất phát của C. Mác khi nghiên cứu về xã hội là “con người hiện
thực”, tức không phải con người chung chung, trừu tượng như một số các nhà triết
học trước đó, mà đây là con người đang sống trong một đất nước nhất định, một
dân tộc nhất định, một thời đại nhất định. C. Mác đã phát hiện ra một sự thật vô
cùng hiển nhiên là: “Người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch
sử”. Nhưng muốn sống được phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và vài thứ
khác nữa”(1). Đây là nhu cầu đầu tiên và tối thiểu của con người để họ có thể sống,
tồn tại và muốn có những thứ đó con người buộc phải lao động, sản xuất. Quá trình
sản xuất là quá trình kết hợp thống nhất hữu cơ giữa người lao động và tư liệu sản
xuất. Chừng nào trong xã hội có sự tách rời giữa người lao động và tư liệu sản
xuất, hay nói cách khác, có tồn tại chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, lúc đó
trong xã hội xuất hiện giai cấp. Vì vậy, trong xã hội nguyên thủy, khi lực lượng sản
xuất còn thấp kém, với công cụ bằng đá, gậy gộc, cung tên... con người làm ra sản
phẩm chỉ đủ để tồn tại, duy trì nịi giống, chưa có sản phẩm dư thừa tương đối thì
chưa xuất hiện chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, do đó, chưa xuất hiện việc
phân chia giai cấp trong xã hội. Đến xã hội chiếm hữu nô lệ, do xuất hiện chiếm
hữu tư nhân về tư liệu sản xuất nên trong xã hội xuất hiện giai cấp. Chủ nô và nô lệ
là hai giai cấp cơ bản đối kháng trong xã hội này.
Do điều kiện lịch sử thời kỳ bấy giờ, C. Mác khơng nói rõ nguyên nhân dẫn
tới việc phân chia giai cấp, nhưng ông cũng khẳng định rằng: “Sự tồn tại của các
giai cấp chỉ gắn liền với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất”
và đó là giai đoạn xuất hiện chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Sau này Ph.
Ăng-ghen đã làm rõ hơn: “Quy luật phân công lao động là cái làm cơ sở cho sự
phân chia thành giai cấp”. Ngoài ra, Ph. Ăng-ghen cịn bổ sung, chiến tranh và
cướp bóc đã đẩy nhanh q trình phân hóa giai cấp: “Nhưng điều đó hồn tồn
khơng loại trừ việc sử dụng bạo lực, cướp bóc, mánh khóe và lừa bịp trong sự hình
thành các giai cấp, và không cản trở giai cấp thống trị, một khi đã nắm được chính
3
quyền sẽ củng cố địa vị của nó trên lưng các giai cấp lao động và biến việc quản lý
xã hội thành việc bóc lột quần chúng”
1.2. Đấu tranh giai cấp
Kế thừa và phát triển tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen trong điều kiện
mới của lịch sử, V.I. Lênin chỉ rõ: “Đấu tranh giai cấp là đấu tranh của một bộ
phận nhân dân này chống lại bộ phận khác, cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước
hết quyền, bị áp bức và lao động chống lại bọn có đặc quyền, đặc lợi và bọn ăn
bám, cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê hay những người vô sản
chống những người hữu sản hay giai cấp tư sản.” Như vậy, thực chất đấu tranh giai
cấp là cuộc đấu tranh giữa các giai cấp có lợi ích cơ bản đối lập nhau (lợi ích cơ
bản là những giá trị vật chất và tinh thần để thoả mãn nhu cầu nhất định của một
giai cấp). Do sự đối lập về lợi ích mang tính đối kháng nên đấu tranh giai cấp là tất
yếu.
Bản chất của đấu tranh giai cấp:
Các hình thức đấu tranh giai cấp là đấu tranh kinh tế, đấu tranh tư tưởng và
đấu tranh chính trị. Muốn giải phóng về kinh tế, phải đấu tranh tư tưởng và tiến lên
đấu tranh chính trị để giành chính quyền. Bất cứ cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng
là một cuộc đấu tranh chính trị. Trong cuộc đấu tranh giai cấp, mỗi giai cấp đều
muốn tập hợp quanh mình những giai cấp khác, phù hợp về lợi ích cơ bản, lâu dài
hoặc có thể là những lợi ích khơng cơ bản và tạm thời. Đó là liên minh giai cấp
trong đấu tranh giai cấp và đây là một yếu tố tất yếu trong đấu tranh giai cấp.
Đấu tranh giai cấp là tất yếu trong xã hội có giai cấp
Theo C.Mác, trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị chiếm đoạt lao động
của các giai cấp và tầng lớp bị trị. Các giai cấp, tầng lớp bị trị không những bị
chiếm đoạt kết quả lao động mà họ còn bị áp bức về chính trị, tư tưởng và tinh
thần. Bởi sự hình thành giai cấp cũng là sự hình thành các lợi ích khác nhau. Lợi
ích giai cấp khơng phải do ý thức giai cấp quy định mà do địa vị kinh tế - xã hội
của giai cấp ấy tạo nên một cách khách quan. Giai cấp bóc lột bao giờ cũng dùng
4
mọi biện pháp và phương tiện bảo vệ địa vị giai cấp của họ, duy trì củng cố chế độ
kinh tế xã hội cho phép họ được hưởng những đặc quyền, đặc lợi giai cấp. Lợi ích
cơ bản của giai cấp bị trị đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị. Đây là
nguyên nhân trực tiếp dẫn tới đấu tranh giai cấp.
Nguyên nhân sâu xa dẫn tới đấu tranh giai cấp, theo C.Mác là mâu thuẫn giữa
trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất đã lỗi thời.
Theo C. Mác, đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao là cách mạng xã hội chỉ có thể nổ ra
trên cơ sở lực lượng sản xuất phát triển tới mức mâu thuẫn không thể giải quyết
với quan hệ sản xuất đã lỗi thời trong lòng xã hội cũ. C.Mác gọi đây là "tiền đề
thực tiễn tuyệt đối cần thiết, vì khơng có nó thì tất cả sẽ chỉ là sự nghèo nàn sẽ trở
thành phổ biến; mà với sự thiếu thốn tột độ thì ắt sẽ bắt đầu trở lại một cuộc đấu
tranh để giành những cái cần thiết, thế là người ta lại không tránh khỏi rơi vào
cũng sự ti tiện trước đây”.
Sự phát triển khách quan của lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến việc xã hội
phải xóa bỏ bằng cách này hay cách khác quan hệ sản xuất cũ và thay thế nó bằng
một kiểu quan hệ sản xuất mới, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật
chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có... trong đó từ trước
đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là những hình thức phát triển
của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực
lượng sản xuất… Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội” đó chính là
cách mạng xã hội hay đấu tranh giai cấp.
5
CHƯƠNG 2: ĐẤU TRANH GIAI CẤP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY
2.1. Đặc điểm và cơ cấu giai cấp ở Việt Nam
Cùng với quá trình đổi mới đất nước, cơ cấu xã hội - giai cấp ở nước ta cũng
biến đổi rất mạnh mẽ theo hướng chuyển từ cơ cấu “hai giai cấp, một tầng lớp”
sang cơ cấu hai giai cấp và nhiều tầng lớp khác nhau. Các giai cấp và các tầng lớp
cũng biến đổi mạnh mẽ. Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội định hướng, phát huy
những xu hướng tích cực, đồng thời hạn chế những xu hướng không mong muốn
do sự biến đổi của cơ cấu xã hội giai cấp. Ở nước ta cơ cấu - giai cấp mang 3 đặc
điểm cơ bản sau:
+ Tính chất xã hội chủ nghĩa: đó là biểu hiện ở sự lãnh đạọ của Đảng Cộng
sản, xác định hướng phát triển của cơ cẩu - giai cấp là theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của dân, do dân và vì dân.
+ Cơ cấu xã hội - giai cấp còn phát triển chậm biếu hiện ở chỗ giai cấp nông
dân chiếm một tỷ lệ lao động lớn trong dân cư.
+ Cơ cấu xã hội - giai cấp ở nước ta mang tính quá độ và tính đa dạng, thống
nhất. Giai cấp cơng nhân và đội ngũ trí thức cịn chiếm tỷ lệ thấp, giai cấp nơng
dân cịn chiếm tỷ lệ cao. Tính đa dạng được biểu hiện ở cơ cấu nhiều giai tầng, tính
thống nhất biểu hiện ở sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đó là một đặc trưng của cơ
cấu xã hội - giai cấp trong thời kỳ chuyển hóa, có sự biến đổi mạnh mẽ và sâu sắc
các thành phần xã hội, có sự phân hóa các tầng lớp xã hội trong q 'trình hình
thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước nhằm thực
hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
Cơ cấu giai cấp ở Việt Nam hiện nay bao gồm: giai cấp công nhân, giai cấp
nông dân, đội ngũ trí thức, người sản xuất nhỏ, tầng lớp doanh nhân. Liên minh
cơng – nơng – trí thức là cơ sở của tồn xã hội, làm cơ sở chính trị – xã hội vững
chắc cho chế độ mới. Giai cấp cơng nhân giữ vai trị lãnh đạo, quyết định xu hướng
phát triển của xã hội. Nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động trở thành người
6
làm chủ xã hội. Trí thức ngày càng có vai trò quyết định trong việc ứng dụng
những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp xây
dựng đất nước. Tầng lớp doanh nhân phát huy tiềm năng và vai trị tích cực của
mình, hoạt động theo luật pháp và định hướng của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Cơ cấu giai cấp ở Việt Nam hiện nay bao gồm: giai cấp công nhân, giai cấp
nông dân, đội ngũ trí thức, người sản xuất nhỏ, tầng lớp doanh nhân. Liên minh
cơng – nơng – trí thức là cơ sở của tồn xã hội, làm cơ sở chính trị – xã hội vững
chắc cho chế độ mới. Giai cấp cơng nhân giữ vai trị lãnh đạo, quyết định xu hướng
phát triển của xã hội. Nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động trở thành người
làm chủ xã hội. Trí thức ngày càng có vai trị quyết định trong việc ứng dụng
những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp xây
dựng đất nước. Tầng lớp doanh nhân phát huy tiềm năng và vai trị tích cực của
mình, hoạt động theo luật pháp và định hướng của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Đặc điểm của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức Việt
Nam
- Giai cấp cơng nhân Việt Nam có đầy đủ những yếu tố của giai cấp cơng
nhân hiện đại và cịn có những đặc điểm riêng của mình. Đó là do ra đời trước giai
cấp tư sản Việt Nam nên giai cấp công nhân Việt Nam có điều kiện sớm giữ vai trị
lãnh đạo và giành ưu thế ngay từ khi có Đảng của mình. Hơn nữa, sự gắn bó giữa
cơng nhân và nơng dân đã hình thành một cách tự nhiên, phần lớn xuất thân từ
nông dân nên giai cấp công nhân Việt Nam đã mang sẵn trong mình mối liên minh
với nơng dân và ln giữ được vai trị lãnh đạo trong quá trình cách mạng Việt
Nam. Ngày nay, trong quá trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố nơng thơn, sẽ có
nhiều người nông dân vào làm việc ở các cơ sở cơng nghiệp và trở thành cơng
nhân ở chính ngay q hương mình. Điều này càng tạo cho sự gắn bó của giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân, nông thôn một cách tự nhiên trên nhiều mặt của
đời sống xã hội.
- Giai cấp nông dân là giai cấp của những người lao động sản xuất vật chất
trong nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp... trực tiếp sử dụng một tư liệu sản xuất
cơ bản và đặc thù, gắn với thiên nhiên là đất, rừng, biển để sản xuất ra nông sản.
7
Nơng dân có phương thức sản xuất phân tán, năng suất thấp. Theo V.I. Lênin, nơng
dân có "bản chất hai mặt" một mặt họ là những người lao động (đây là mặt cơ bản
nhất); mặt khác, họ là những người tư hữu nhỏ (đây là mặt hạn chế sẽ được khắc
phục trong q trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố). Tuy nhiên, nông dân không
dựa trên tư hữu nhỏ này để bóc lột các giai cấp, tầng lớp khác. Giai cấp nơng dân
khơng có hệ tư tưởng riêng mà tư tưởng của họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai
cấp thống trị xã hội. Họ vốn có cơ cấu khơng thuần nhất, khơng có sự liên kết chặt
chẽ cả về kinh tế và cả về tư tưởng, tổ chức. Trong một nước nơng nghiệp thì họ là
lực lượng chính trị - xã hội đông đảo nhất và khi được giác ngộ họ trở thành lực
lượng cách mạng to lớn nhất trong cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Giai cấp nông dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã thực sự giải phóng
khỏi chế độ áp bức bóc lột và trở thành người làm chủ xã hội và đóng góp to lớn
vào sự nghiệp giải phóng đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Trí thức bao gồm những người lao động trí óc phức tạp và sáng tạo, có trình
độ học vấn đủ để am hiểu và hoạt động trong lĩnh vực lao động của mình. Họ hoạt
động chủ yếu trong lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy, ứng dụng khoa học, văn học,
nghệ thuật, lãnh đạo và quản lý... Sản phẩm lao động của trí thức tác động quyết
định đến năng suất lao động, đến sự phát triển xã hội về cả mặt đời sống vật chất
và cả về đời sống tinh thần.
Trí thức khơng có hệ tư tưởng riêng vì khơng có phương thức sản xuất riêng
và địa vị kinh tế - xã hội độc lập. Vai trò và tư tưởng của họ phụ thuộc vào giai cấp
thống trị xã hội. Mặc dù vậy, trí thức luôn giúp giai cấp thống trị khái quát về lý
luận để hình thành hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội.
Trong các chế độ tư hữu đa số trí thức là những người lao động bị áp bức, bóc
lột. Khi được sự lãnh đạo của giai cấp cơng nhân, trí thức trở thành người làm chủ
xã hội và đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. ở Việt Nam,
trí thức đã có nhiều đóng góp trong q trình đấu tranh cách mạng giải phóng dân
tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đại bộ phận được đào tạo trong chế độ mới. Họ
xuất thân chủ yếu từ nông dân, công nhân và các tầng lớp lao động khác. Do vậy
họ có mối liên hệ gần gũi với công nhân, nông dân và luôn là lực lượng cơ bản của
8
cách mạng xã hội chủ nghĩa. Ngày nay, cách mạng khoa học và công nghệ ngày
càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và trí thức ngày càng có vai trị, vị trí
quan trọng, nhất là trong q trình xây dựng kinh tế tri thức và quá trình hội nhập
khu vực và quốc tế.
2.2. Đấu tranh giai cấp ở Việt Nam giai đoạn hiện nay
Đấu tranh giai cấp là quy luật chung của mọi xã hội có giai cấp. Nhưng trong
quy luật ấy có những biểu hiện đặc thù trong từng xã hội cụ thể. Điều đó do kết cấu
giai cấp của mỗi xã hội và do địa vị lịch sử của mỗi giai cấp cách mạng trong từng
phương thức sản xuất quyết định.
Sự tác động của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế và cùng với những thay
đổi trong cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới đã
dẫn đến những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu xã hội - giai cấp, cũng như trong bản
thân mỗi giai cấp và tầng lớp. Mặt khác, do giữa các giai cấp và các tầng lớp vừa
có sự tương đồng. vừa có sự khác biệt về lợi ích, nên quan hệ giữa các giai cấp và
các tầng lớp trong xã hội Việt Nam hiện nay là mối quan hệ vừa hợp tác vừa đấu
tranh với nhau. Các giai cấp, các tầng lớp hợp tác, liên minh với nhau khi xuất hiện
những nhu cầu và lợi ích chung. Họ đấu tranh với nhau khi xảy ra mâu thuẫn về lợi
ích. Đây chính là biểu hiện tất yếu của xu thế phát triển kinh tế thị trường. Do tác
động của mặt trái của kinh tế thị trưởng và nhiều nguyên nhân khác, nên trong
quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp có khơng ít những trường hợp cạnh tranh không
lành mạnh. Giữa các giai tầng có lúc cịn nảy sinh khơng ít những hiện tượng tiêu
cực. Chính vì thế, trong xã hội vẫn cịn đấu tranh giai cấp.
Đều kiện mới của đấu tranh giai cấp hiện nay đó là lợi ích cơ bản, lâu dài của
các giai cấp trong cộng đồng Việt Nam thống nhất với lợi ích dân tộc; cuộc đấu
tranh giai cấp, đấu tranh giữa hai con đường vẫn còn nhưng gắn liền với sự nghiệp
bảo vệ độc lập dân tộc, chống nghèo nàn lạc hậu, khắc phục tình trạng nước nghèo,
chậm phát triển. Đấu tranh trong điều kiện phát triển kinh tế nhiều thành phần, mở
cửa, hội nhập kinh tế thế giới, trong cơ cấu giai cấp - xã hội của nước ta hiện nay,
ngồi giai cấp cơng nhân, nơng dân, tầng lớp trí thức và các tầng lớp nhân dân lao
9
động khác, cịn có tầng lớp tư sản. Với kết cấu giai cấp đó, tất yếu nảy sinh mâu
thuẫn giữa lợi ích của những người lao động làm thuê với tầng lớp tư sản và mâu
thuẫn giữa sự phát triển tự giác theo con đường xã hội chủ nghĩa với khuynh
hướng tự phát đi lên chủ nghĩa tư bản. Đây là mặt mâu thuẫn trong quan hệ giữa
giai cấp công nhân và nhân dân lao động với tầng lớp tư sản. Mâu thuẫn đó biểu
hiện rất rõ trong các doanh nghiệp tư bản, nhất là các doanh nghiệp có 100% vốn
đầu tư nước ngồi. Ví dụ như:
Ngày 11.2.2022, hơn 5.000 công nhân Công ty TNHH Vienergy (địa chỉ tại
Khu công nghiệp Phúc Sơn, TP.Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình) đồng loạt nghỉ việc tập
thể, đưa ra 21 yêu cầu công ty phải thực hiện để đảm bảo quyền lợi theo quy định.
Đại diện công ty cùng các cơ quan chức năng tỉnh Ninh Bình đã đối thoại với cơng
nhân. Sau khi lắng nghe ý kiến của công nhân, Công ty Công ty TNHH Vienergy
đã đồng ý tăng 6% lương cho công nhân.
Vào 6h ngày 11/4/2023, tại công ty TNHH Saitex International Đồng Nai đã
xảy ra ngừng việc tập thể lao động. Có 300 trên tổng số 2.626 lao động của cơng ty
tham gia ngừng việc. Theo Sở LĐ-TB&XH tỉnh Đồng Nai, ngun nhân 300 cơng
nhân trên đình cơng là do cơng ty xử phạt trừ 15% lương của công nhân do làm hư
hỏng sản phẩm, không xuất hàng được. Sau khi Tổ hòa giải TP Biên Hòa làm việc
với Ban giám đốc cơng ty và Ban chấp hành cơng đồn cơ sở, công ty đã thống
nhất thu hồi thông báo yêu cầu bồi thường sản phẩm hư hỏng từ 15% đến 25%
lương đã ban hành trước đó.
Theo các cấp Cơng đồn, trong năm 2021, cả nước xảy ra 105 cuộc tranh chấp
lao động dẫn đến ngừng việc tập thể , giảm 20 cuộc so với năm 2020, chủ yếu diễn
ra vào dịp trước và sau Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021. Nguyên nhân chủ yếu
là do người lao động chưa đồng tình với cơ chế trả lương của doanh nghiệp, đặc
biệt là vào dịp Tết. Nhiều doanh nghiệp chậm lương, chậm thưởng hoặc chi trả
lương, thưởng chưa hợp lý và chất lượng bữa ăn ca chưa đảm bảo.
10
Trong năm 2022, cả nước xảy ra 157 cuộc ngừng việc tập thể xuất phát từ
quan hệ lao động (tăng 50 cuộc so với cùng kỳ năm 2021) với tổng số hơn 102.540
người lao động tham gia. Các cuộc ngừng việc tập thể xảy ra chủ yếu tại các doanh
nghiệp khu vực FDI, tập trung tại các tỉnh, thành phố lớn, thuộc vùng kinh tế trọng
điểm phía Nam với 84/157 cuộc, chiếm 53.50 % tổng số cuộc; tại các khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế với 101/157 cuộc, chiếm 64.33% tổng số cuộc.
Theo Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam (LĐLĐVN), khi xảy ra ngừng việc,
các cấp công đồn đã chủ động, tích cực tham gia ổn định tình hình, phối hợp với
liên ngành hỗ trợ các bên giải quyết, qua đó đa số các đề xuất, kiến nghị chính
đáng của người lao động đã được doanh nghiệp đồng thuận và cam kết thực hiện.
Tổng LĐLĐVN cũng đã chỉ đạo cơng đồn cấp trên cơ sở tăng cường các kênh
tiếp nhận thơng tin từ cơng đồn cơ sở, các biện pháp để phòng ngừa tranh chấp
lao động, ngừng việc tập thể xảy ra. Khi xảy ra tranh chấp lao động, ngừng việc tập
thể kịp thời phối hợp với các cơ quan chức năng hỗ trợ, hướng dẫn công đoàn cơ
sở, người lao động, người sử dụng lao động đối thoại, thương lượng giải quyết, xử
lý nhanh nhất, không để xảy ra trong thời gian dài, lây lan và bị các thế lực thù
địch, cơ hội lợi dụng kích động, gây mất an ninh trật tự, an ninh chính trị và an
tồn xã hội.
Do chúng ta có Nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
nên mâu thuẫn giữa công nhân và tầng lớp tư sản là mâu thuẫn trong nội bộ nhân
dân. Ở nước ta, tầng lớp tư sản khơng có cơng cụ để thực hiện sự thống trị về chính
trị và kinh tế của nó. Giai cấp cơng nhân, dù làm việc trong các doanh nghiệp tư
nhân, vẫn được Nhà nước ta bảo vệ quyền lợi. Mặt khác, kinh tế tư bản tư nhân là
bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế nhiều thành phần. Tầng lớp tư sản có vai
trị nhất định trong sự nghiệp phát triển kinh tế, có khả năng tham gia tích cực vào
sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Lợi ích hợp pháp của các nhà tư
sản thống nhất với lợi ích chung của cả cộng đồng dân tộc. Đây là mặt thống nhất
giữa giai cấp công nhân và tầng lớp tư sản. Như vậy, quan hệ giữa giai cấp công
nhân, nhân dân lao động với tầng lớp tư sản là quan hệ vừa hợp tác, vừa đấu tranh.
11
Hợp tác cùng xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh;
đấu tranh chống khuynh hướng bảo thủ, tiêu cực của tầng lớp tư sản.
Ở nước ta hiện nay, Đảng và Nhà nước coi liên minh giữa cơng nhân với nơng
dân và trí thức vốn được xem là một vấn đề nổi bật và có tầm quan trọng trong
quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp ở nước ta; là nền tảng của khối đại đoàn kết
toàn dân tộc. Về điều này, Văn kiện Đại hội Đảng XI chỉ rõ: “Đại đoàn kết dân tộc
là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn
trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên
nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do
Đảng lãnh đạo”
12
KẾT LUẬN
Sau gần 37 năm đổi mới, Việt Nam đã có những những chuyển biến sâu sắc
trên phương diện, cơ cấu xã hội - giai cấp. Sự biến đổi này, một mặt tác động tích
cực đến cơng cuộc đổi mới đất nước, nhưng mặt khác cũng đặt ra nhiều vấn đề về
kinh tế - xã hội cần phải được giải quyết. Đứng trước thực trạng đó, cần thúc đẩy
sự phát triển bền vững của xã hội, phát huy những xu hướng tích cực, đồng thời
hạn chế những xu hướng khơng mong muốn nảy sinh do sự biến đổi cơ cấu xã hội
giai cấp. Học thuyết về đấu tranh giai cấp C.Mác đã đưa ra cách đấy hơn một thế
kỷ nhưng nó vẫn có giá trị với cuộc đấu tranh giai cấp ở Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay. Vẫn là cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa tư tưởng vô sản với tư tưởng tư sản,
giữa chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản với các thế lực thù địch, phản động; là
cuộc đấu tranh, bảo vệ nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bảo
vệ thành quả cách mạng; đồng thời thực hiện mục tiêu và con đường mà Đảng, Bác
Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
13
DANH MỤC THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, 7/2021, Giáo trình triết học Mác – Lênin, Nhà xuất bản
Chính Trị Quốc Gia Sự Thật, Hà Nội.
2. GS.TS. Phạm Văn Đức (chủ biên) (2019), Giáo trình Triết học Mác – Lênin,
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
3. Bách khoa toàn thư mở wikipedia, 24/11/2021, Giai cấp, truy cập tại:
/>4. Bách khoa toàn thư mở wikipedia, 6/11/2021, Đấu tranh giai cấp, truy cập tại:
ttps://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A5u_tranh_giai_c%E1%BA
%A5p
5. PGS.TS. Lê Thị Thanh Hà, Lý luận của C. Mác về đấu tranh giai cấp và ý nghĩa
của nó ở Việt Nam hiện nay, Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 17/7/2018,
6. Tạp chí Cộng Sản, 17/05/2018, Lý luận của C. Mác về đấu tranh giai cấp và ý
nghĩa thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, truy cập tại: />7. Lê Hồng, 03/06/2015, Về một số quan điểm xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác
– Lênin hiện nay, được truy cập tại: />
14