Bệnh cua
Hiện nay phong trào nuôi cua đang phát triển, mang lại hiệu quả
kinh tế cho người nuôi. Nhằm giúp người nuôi có những kiến
thức để ngăn chặn tác hại của dịch bệnh và qua đó góp phần
phát triển nuôi cua bền vững, chúng tôi xin trình bày một số
bệnh thường gặp ở cua và các biện pháp phòng trị có hiệu quả.
1. Bệnh rung chân (rũ còng): Các cơ bị rung hoặc liệt, di chuyển
chậm chạp, không phản ứng với các tác động bên ngoài, cua
dừng ăn và trở nên bất động, cơ thể đổi màu hơi đen, xám hoặc
hơi trắng; cơ thịt có màu đỏ; gan tụy thối rữa. Tác nhân gây
bệnh: do virus và ký sinh trùng rickettsia.
Biện pháp phòng ngừa: Giữ gìn môi trường sống trong sạch cho
cua nuôi. Ao đầm nuôi phải xây dựng ở nơi có nguồn nước tốt,
độ mặn từ 15 – 25 phần ngàn, pH từ 7,5 – 8,2. Cải tạo ao thật kỹ
trước khi thả nuôi. Phơi đáy từ 5 – 10 ngày, nếu đáy nhiều bùn
thì vét bớt bùn, rác. Bón vôi khắp đáy và trên bờ ao, quét vôi
trong và ngoài đăng chắn, làm tốt khâu cải tạo, sát trùng, loại bỏ
các chất cặn bã, chất thải của quá trình nuôi trước; duy trì quản
lý chất lượng nước tốt và có chế độ dinh dưỡng hợp lý cho cua.
Hiện chưa có biện pháp chữa trị hữu hiệu nên tốt nhất chọn cua
đồng đều, khỏe mạnh, màu sắc tươi sáng, tốt nhất nên lấy giống
cua sản xuất nhân tạo, ương trong giai đạt kích cỡ 1,5 – 2 cm.
Trước khi thả nên sát trùng bằng dung dịch formaline 20 – 30
ppm hoặc sunphát đồng 2 – 4 ppm trong vòng 20 – 30 phút. Có
thể dùng thuốc phun vào ao trong thời gian kể từ lúc bắt đầu thả
nuôi, nồng độ thuốc thấp hơn 7 – 10 ppm so với nồng độ tắm
cho cua. Chỉ nên dùng với ao nhỏ, mật độ nuôi cao. Để phòng
các mầm bệnh trong thức ăn, nhất là thức ăn tươi sống, ta có thể
khử trùng thức ăn trước khi cho cua ăn. Thức ăn rửa sạch ngâm
trong thuốc tím nồng độ 5 – 10 ppm trong 20 – 30 phút. Rửa lại
bằng nước sạch rồi cho cua ăn. Tốt nhất nên cho cua ăn thức ăn
được nấu chín.
2. Bệnh hoại tử do vi khuẩn Vibrio: Phần phụ bụng và cơ bị hoại
tử, cơ thể biến đổi màu sắc, hình thành các khối u màu trắng bên
trong mô cơ thể (đặc biệt là mang); cơ thể yếu và hoạt động
chậm chạp, biếng hoặc không ăn. Tác nhân gây bệnh: Vibrio
anguillarum, V. alginolyticus, V. parhaemolyticus.
Biện pháp phòng ngừa: Thả nuôi với mật độ thích hợp, nên thả 1
con/m2, trong quá trình lưu giữ chăm sóc chú ý tránh làm xây
xát cua, đảm bảo chất lượng nước tốt; sát trùng bể ương cua
bằng dung dịch KMnO4 15 – 20 ppm (mg/l); ngâm dụng cụ
ương nuôi trong 50 ppm chlorin trong thời gian 1 giờ; khử trùng
nước ngọt bằng 10 ppm chlorin; phun trong ao 1 ppm
terramycin. Trị bệnh: phun trong ao 2 – 3 mg/l terramycin hoặc
1 mg/l norfloxac một ngày một lần, trong 3 – 5 ngày, có thể
dùng thức ăn trộn terramycin (0,1 – 0,2 g/kg trọng lượng cơ thể
cua) cho ăn ngày 1 – 2 lần trong 7 ngày liên tục.
3. Bệnh sinh vật bám: Ký sinh trùng gắn chặt trên khắp cơ thể
cua, các khớp cơ và mang, làm cua giảm ăn, khó thở, hoạt động
chậm chạp, khó lột xác. Khi chạm vào cơ thể cua, ta có cảm giác
trơn nhớt. Tác nhân gây bệnh là các nguyên sinh động vật
Zoothamnium spp.; Vorticella spp.; Epistylis spp.; Carchesium
spp.; Intranstylum spp.
Phòng bệnh: Thả nuôi với mật độ hợp lý, tắm cua bằng
benzalkonium bromide 10 ppm trong thời gian 30 – 50 phút,
trước khi cho vào bể đẻ, hoặc sử dụng hạt trà 10 mg/l nước trong
bể, sau 12 tiếng thay một nửa lượng nước. Trị bệnh: Dùng 5 –
10 mg/l formalin hoặc 0,7 ppm của hỗn hợp dung dịch bao gồm
CuSO4 và FeSO4 với tỉ lệ 5:2; formalin hoặc 30 mg/l BKC
(benzalkonium bromide) 300 ppm trong thời gian 30 – 40 phút
hoặc hoặc 500 ppm formalin trong 40 phút.
4. Bệnh thủng vỏ: Ban đầu những đốm màu hơi trắng trên phần
bụng giáp đầu ngực và dần chuyển thành các tổn thương loét có
màu nâu đen; có thể nhìn thấy vỏ, màng và lớp cơ bên trong.
Bệnh thủng vỏ hiếm khi gây chết cua, nhưng nếu vỏ bị bào mòn
và đục thủng trên diện rộng có thể tạo điều kiện cho các vi
khuẩn thứ cấp cũng như ký sinh trùng xâm nhiễm gây bệnh. Tác
nhân và nguyên nhân gây bệnh: Bệnh thủng vỏ do các tổn
thương, xây xát do điều kiện nuôi nhốt không thích hợp, mật độ
dày, môi trường nuôi bị ô nhiễm tạo điều kiện cho vi khuẩn
Vibrio sp., Pseudomonas sp., Aeromonas sp., Spirillum sp.,
Flavobacterium sp., Vibrio vulnificus, V. parahemolyticus, V.
splendidus và V. orientalis xâm nhập gây bệnh.
Biện pháp phòng ngừa: Chăm sóc cẩn thận, tránh gây sốc, xây
xát cua, có chế độ dinh dưỡng hợp lý, tránh gây ô nhiễm môi
trường nước. Sử dụng vôi bón 15 – 20 ppm; duy trì chất lượng
nước tốt và có độ dày lớp bùn đáy thích hợp (5 – 10 cm). Cung
cấp một lớp đất cát dày thích hợp cua có thể đào được, tác dụng
làm giảm stress cho cua và giảm các chất bẩn bám trên cơ thể
cua. Định kỳ thông qua quá trình thay nước hoặc bắt mẫu, tiến
hành chà và quét rửa phần lưng cho cua bằng bông gòn nhúng
trong dung dịch i-ốt nhằm ngăn chặn chất dơ bám trong suốt quá
trình nuôi và lưu giữ nhằm hạn chế việc phát triển của nguyên
sinh động vật, là nơi cư trú của vi khuẩn phân giải kitin.
Trị bệnh: Sử dụng chlorin 2 ppm và cho cua ăn thức ăn có trộn
thuốc (sulfonamides 0,1 – 0,2% hoặc 0,05 – 0,1% terramycin)
trong 5 -7 ngày liên tục; phun thuốc trong ao với liều 2,5 – 3
ppm terramycin mỗi ngày một lần, liên tục trong 5 – 7 ngày.
5. Bệnh đen mang: Biểu hiện ban đầu là các tơ mang chuyển
màu nâu đen, sau đó chuyển hoàn toàn thành màu đen, cua di
chuyển chậm chạp, biếng ăn, hô hấp khó khăn. Cua yếu, tạo điều
kiện cho các tác nhân gây bệnh xâm nhiễm, gây chết cua