ĐOẠN TRÍCH “ĐẤT NƯỚC”
(trích trường ca “Mặt đường khát vọng”– Nguyễn Khoa Điềm
Phần A. KIẾN THỨC CƠ BẢN
I. Một số vấn đề khái quát chung
1. Tác giả Nguyễn Khoa Điềm:
- Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu cho thế hệ thơ trẻ những năm chống
Mĩ. Thơ giàu chất suy tư, xúc cảm dồn nén, thể hiện tâm tư của người trí thức tham gia tích cực
vào cuộc chiến đấu của nhân dân.
- Nguyễn Khoa Điềm được tặng giải thưởng Nhà nước về văn học và nghệ thuật năm 2000.
- Tác phẩm chính : Đất ngoại ơ ( 1972); Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974); Ngôi nhà có
ngọn lửa ấm...
2. Hồn cảnh và mục đích sáng tác bản trường ca “Mặt đường khát vọng”:
- Hoàn cảnh sáng tác : Trường ca “ Mặt đường khát vọng” viết năm 1971, tại chiến khu TrịThiên, giữa khơng khí sục sơi chống Mĩ của cả dân tộc.
- Mục đích: Bản trường ca ra đời nhằm thức tỉnh tuổi trẻ thành thị ở các vùng tạm chiếm ở miền
Nam nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mĩ, hướng về nhân dân,đất nước.Từ đó, kêu gọi,
khích lệ mọi người đứng lên, xuống đường đấu tranh hoà nhịp với cuộc chiến đấu của tồn dân
tộc.
3. Vị trí và chủ đề đoạn trích “Đất Nước” :
- Đoạn trích “Đất Nước” được trích ở phần đầu chương V của trường ca “Mặt đường khát vọng”
- Đoạn thơ làm nổi bật những cảm nhận mới mẻ của nhà thơ về Đất Nước trên nhiều bình
diện ( chiều dài của lịch sử,chiều rộng của địa lý, bề dày của văn hố, phong tục…).Qua đó, nhà
thơ khẳng định tư tưởng lớn : Đất Nước là của Nhân dân, và Nhân dân chính là người đã
làm ra Đất Nước.
4. Nội dung và nghệ thuật đoạn trích
a.Về nội dung:
Đoạn thơ là những cảm nhận mới mẻ của Nguyễn Khoa Điềm về đất nước trên nhiều bình
diện (chiều dài của lịch sử, chiều rộng của không gian lãnh thổ địa lý và chiều sâu của văn hoá,
phong tục…). Qua đó, nhà thơ khẳng định tư tưởng lớn : Đất nước là của Nhân dân, Nhân dân
chính là người đã làm ra Đất nước.
b.Về nghệ thuật
- Thể thơ tự do vận dụng linh hoạt phù hợp với mạch cảm xúc tn trào.
-Sử dụng sáng tạo chất liệu văn hóa dân gian: những phong tục tập quán, những huyền thoại,
huyền sử, những câu thành ngữ, tục ngữ… gợi lên một không gian nghệ thuật gần gũi, đầy cảm
xúc và những liên tưởng mới về Đất Nước.
- Hình thức thơ trữ tình chính luận rất độc đáo, lối tư duy hiện đại .
- Hình ảnh, ngơn ngữ chân thực, giản dị mà giàu sức gợi.
-Giọng thơ thủ thỉ tâm tình..
- Sử dụng thành công nhiều biện pháp tu từ nghệ thuật : Liệt kê, điệp từ, điệp ngữ...
5. Câu hỏi phụ:
5.1. Nhận xét chất sử thi trong sáng tác của nhà thơ.
– Chất sử thi trong văn học tập trung phản ánh những vấn đề có ý nghĩa sống cịn của đất nước:
1
Tổ quốc cịn hay mất, tự do hay nơ lệ. Nhân vật chính là những con người đại diện cho phẩm chất
và ý chí của dân tộc; gắn bó số phận cá nhân với số phận đất nước; luôn đặt lẽ sống của dân tộc
lên hàng đầu. Giọng điệu sử thi là giọng ngợi ca, trang trọng và đẹp tráng lệ, hào hùng.
– Nguyễn Khoa Điềm hướng về những con người bình dị đã cần cù làm lụng và đánh giặc bảo
vệ đất nước giữa những ngày kháng chiến chống Mĩ ác liệt, đất nước còn chia cắt. Đoạn thơ được
viết bằng thể thơ tự do, giọng điệu tâm tình trò chuyện, từ ngữ giản dị, gần gũi nhằm khẳng định
vai trị to lớn của nhân dân vơ danh.
5.2. Nhận xét cách nhìn mới mẻ của tác giả về Đất Nước:
– Nhìn Đất Nước đa diện, tinh tế, sâu sắc, đặc biệt nhà thơ phát hiện quá trình Đất Nước hình
thành và phát triển gắn liền với đời sống bình dị của nhân dân lao động. Đất Nước kết tinh đời
sống tâm hồn, phẩm chất đẹp đẽ, truyền thống đạo lí ngàn đời của dân tộc.
– Cách nhìn mới mẻ về hình tượng Đất Nước cho thấy sự gắn bó, am hiểu, lịng tự hào và tình
u đất nước sâu nặng, phong cách thơ trữ tình- chính luận của tác giả Nguyễn Khoa Điềm.
5.3. Nhận xét cách sử dụng chất liệu văn hóa dân gian trong đoạn trích
a. Chất liệu văn hóa được Nguyền Khoa Điềm sử dụng hết sức quen thuộc đối với mỗi con
người Việt Nam:
- Đó là những phong tục, tập quán, những truyền thống từ ngàn đời (...)
- Những câu ca dao, tục ngữ; những câu chuyện cổ tích thần thoại,... đã gắn liền cuộc sống
thường ngày của nhân dân Việt Nam.
b. Chất liệu văn hóa được Nguyền Khoa Điềm sử dụng hết sức mới lạ:
- Mới lạ trong cách sử dụng sáng tạo: Tác giả chỉ gợi lên bằng một vài chi tiết, từ ngữ, hình ảnh
tiêu biểu chọn lọc (riêng câu dân ca Bình - Trị - Thiên gần như là nguyên văn) qua đó dẫn dắt
người đọc vào thế giới của những nét đẹp văn hóa dân gian đặc sắc:
+ Cách dẫn dắt vào những câu chuyện cổ tích đem đến một khơng gian vừa xa xôi, vừa gần gũi
(ngày xửa, ngày xưa mẹ thường hay kể).
+ Sử dụng hình ảnh mang tính biểu tượng (miếng trầu bà ăn, trồng tre đánh giặc, tóc búi sau
đầu, nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm...).
- Mới lạ vì mỗi câu ca dao, tục ngữ, mỗi câu chuyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết... đều gắn
với chiều sâu của lịch sử, chiều sâu văn hóa, tâm hồn nhân dân.
* Đánh giá chung: Qua chất liệu văn hóa dân gian ta thấy Đất Nước vừa trở nên gần gũi, bình dị
vừa lớn lao, kỳ vĩ. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã suy luận, lý giải về Đất Nước trên nhiều bình
diện khác nhau: Từ không gian địa lý, thời gian lịch sử và đặc biệt là bề dày văn hóa. Đất Nước
gắn liền với truyền thống văn hóa trong lịch sử bốn ngàn năm của Nhân dân. Dù ở phương diện
không gian địa lý, thời gian lịch sử, Đất Nước đều được suy luận, lý giải gắn liền với truyền thống
văn hóa của Nhân dân.
5.4. Nhận xét về sức hấp dẫn của thơ Nguyễn Khoa Điềm:
+ Thơ ơng có sự kết hợp giữa xúc cảm nồng nàn và suy tư sâu lắng của người trí thức về
đất nước , con người Việt Nam . Ông đã có những khám phá mới mẻ và sâu sắc khi thể hiện về
hình tượng đất nước trên nhiều bình diện : địa lý, lịch sử , văn hóa …
+ Thơ ơng có giọng điệu riêng , vừa tâm tình sâu lắng thiết tha vừa đầy suy tư triết lý .
Màu sắc văn hóa dân gian mà ơng đem vào thơ cũng tạo nên một không gian vừa gần gũi thân
thuộc với tâm hồn mỗi người Việt Nam lại vừa bay bổng lãng mạn .
+ Ngôn ngữ thơ vừa giản dị tự nhiên theo kiểu “thơ trữ tình điệu nói” lại vừa uyển chuyển
đầy sáng tạo.Ẩn sâu trong đó là chiều sâu trí tuệ, văn hóa và một tình yêu đối với đất nước .
2
5.5. nhận xét về sự kết hợp giữa chất trữ tình và chính luận
– Chính luận: Đoạn thơ có thiên hướng “chính luận” khi nhà thơ bộc lộ được những quan niệm,
tư tưởng chính trị xã hội của mình và muốn chia sẻ nhận thức, thuyết phục người đọc tin tưởng
vào tính đúng đắn, khách quan của những quan niệm tư tưởng đó. Nó mang tính chiến đấu cao,
tính cá nhân sâu sắc.
Trong đoạn trích Đất Nước, Nguyễn Khoa Điềm thể hiện quan niệm, tư tưởng, nhận thức của
mình về đất nước: Đất nước thân thương, lâu đời, bền vững và đáng ca ngợi, tự hào này là của
Nhân Dân, đồng thời cũng nhắc nhờ mọi người phải có trách nhiệm đối với đất nước. Điều này
làm nên cốt lõi chính luận nổi bật của đoạn thơ.
-Trữ tình: Là tâm trạng, cảm xúc, tình cảm của nhà thơ trước hiện thực cuộc sống mà tác giả gửi
gắm vào trong tác phẩm của mình.
Tính trữ tình được thể hiện rất đậm nét trong đoạn thơ:Tấm lòng yêu nước nồng nàn sâu sắc…
chi phối tồn bộ cảm hứng nghệ thuật của ơng.u nước đó chính là u văn hố, thiên nhiên,
người lao động (chủ nhân của lịch sử đất nước); niềm tự hào sâu sắc trước vẻ đẹp tự nhiên, vẻ
đẹp do nhân dân lao động sáng tạo nên; bộc lộ qua một cách cảm, một giọng điệu riêng, rất
Nguyễn Khoa Điềm.
– Mối quan hệ giữa tính chính luận và trữ tình: đó là sự kết hợp hài hồ giữa hai yếu tố “chính
luận” và “trữ tình”, giữa lý trí và tình cảm. Đoạn thơ mang đậm chất suy tưởng, triết lý.
II. Phân tích cụ thể
1. Những cảm nhận sâu sắc, mới mẻ của Nguyễn Khoa Điềm về Đất Nước
1.1. 9 dòng thơ đầu: Nhà thơ lí giải cho cấu hỏi ”ĐN có từ bao giờ?” , từ đó khảng định ĐN
ở quanh ta và ở trong ta.
a. 4 câu đầu: Cảm nghĩ về sự ra đời và lớn lên của ĐN
- Hai chữ Đất Nước được nhà thơ viết hoa thể hiện sự thành kính thiêng liêng mang niềm
tự hịa sâu sắc của tác giả khi viết về ĐN.
- Câu 1: Câu thơ như một lời khẳng định ngắn gọn, giản dị mà gợi lên biết bao xúc động
thiêng liêng.
+ Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi: "Ta" vừa là nhân vật trữ tình vừa là mỗi chúng ta,
những người dân đất Việt. Khi ta lớn lên, trưởng thành trong sự che chở, nuôi dưỡng của cha mẹ,
quê hương thì Đất Nước đã có rồi.
+ Đã có rồi: gợi ra chiều dài lịch sử của đất nước. Đất Nước có từ ngàn xưa, từ thời khai
thiên lập địa, từ thời huyền thoại cổ tích, khi Lạc Long Quân và Âu cơ, đẻ ra đồng bào ta trong
bọc trứng, các vua Hùng góp phần dựng nên đất tổ Hùng Vương...
-Câu 2: Lí gải ĐN có từ đâu?
+ ĐN được lưu truyền qua các câu chuyện cổ tích lưu giữu vẻ đẹp tâm hồn truyền thống DT VN.
Nghĩa là ĐN được truyền nối qua các thế hệ bằng con đường tâm thức: bà kể cho mẹ, mẹ kể cho
con.
+ Cụm từ "ngày xửa ngày xưa" khắc họa ĐN mênh mang, đằng đẵng trong thời gian. Nó
khơng phải thời gian chính xác mà là thời gian huyền diệu, mơ hồ trong trí tưởng tượng của trẻ
thơ, đưa ta về một thuở rất xa khi đất nước phôi thai với Thế giới cổ tích với ơng bụt, bà tiên,
phép nhiệm màu, giấc mơ hạnh phúc, công lý đã làm nên sự trường tồn xa xăm của ĐN: "Nếu
nhắm mắt nghe bà kể chuyện/ Sẽ được nhìn thấy các bà tiên/ Thấy chú bé đi hài bảy dặm/ Quả
thị thơm cô Tấm rất hiền". Đồng thời cảm nhận sâu sắc về sự trường tồn của ĐN.
+ ĐN cịn hiện hữu cùng hình ảnh MẸ- đấng sinh thành thiêng liêng của mỗi con người.
3
- Câu 3: Đất nước tươi đẹp, thanh bình như huyền thoại của chúng ta bắt đầu hình thành
từ phong tục, tập quán, văn hóa, truyền thống, lối sống cao đẹp của dân tộc: Đất Nước bắt đầu
với miếng trầu bây giờ bà ăn.
Câu thơ gợi về sự tích trầu cau , khơng chỉ nói về truyền thống người Việt với tục ăn trầu,
nhuộm răng, miếng trầu tiếp khách, miếng trầu giao duyên, miếng trầu đo phẩm hạnh mà còn
hàm ý ngợi ca truyền thống thủy chung nghĩa tình của DT.
- Câu 4: ĐN lớn lên trong quá trình dựng nước và giữu nước của ND, trưởng thành bền bỉ
qua những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm: Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà
đánh giặc
+ Lời thơ gợi nhớ truyền thuyết thánh Gióng nhổ tre làng đánh giặc Ân thuở xa xưa và
hình ảnh cây tre Việt Nam trong các cuộc chiến tranh vệ quốc. Cây tre đã trở thành biểu tượng
cho sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam, một dân tộc trải qua nhiều đau thương, máu lửa,
luôn phải đương đầu với kẻ thù tàn bạo nhất, nhưng luôn kiên cường, bất khuất, anh dũng bảo vệ
quê hương, xứ sở. "Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre! Anh hùng
lao động. Tre! Anh hùng chiến đấu" (Thép Mới).
+ Cái vươn vai của Thánh Gióng trở thành Phù Đổng thiên Vương thể hiện niềm kiêu hãnh
về 1 ĐN anh hùng” Có ngoại xâm thì chống....bại”. ĐN của những con người ”Tuốt gương không
chịu sống quỳ” . Cái vươn vai của TG trở thành Phù Đổng thiên Vương phải chăng đã trở thành
biểu tượng cho sự lớn lên, lớn mạnh của ĐN.
Ta như thuở xưa thần Phù Đổng
Vụt lớn lên, đánh đuổi giặc Ân.
Sức nhân dân khoẻ như ngựa sắt
Chí căm thù rèn thép làm roi
Lửa chiến đấu ta phun vào mặt
Lũ sát nhân cướp nước hại nòi.
(Vinh quang Tổ quốc chúng ta- Tố Hữu)
b. 5 câu còn lại: Đất Nước hiện hữu trong lối sống sinh hoạt, những vật dụng giản dị, gắn
bó trong đời sống ND ( Đn có ở trong ta và quanh ta)
- Câu 5: ĐN hình thành từ thuần phong ĩ tục qua cách búi tóc của mẹ; ’tóc mẹ thì bới sau đầu”
+ Hình ảnh “tóc mẹ thì bới sau đầu” đơn sơ, bình dị , vừa gợi tả được vẻ đẹp giản dị, duyên dáng
của người phụ nữ VN vừa khẳng định phẩm chất chịu thương chịu khó, đức tính cần cù của những
người mẹ vất vả một nắng hai sương nuôi con khôn lớn.
+ Vẻ đẹp này không bao giờ bị ngoại lai dù trải qua hàng ngàn năm bắc thuộc và cũng từng được
ca ngợi trong ca dao:
-Câu 6: ĐN cịn hiện hữu qua ở lối sống nghĩa tình chung thủy của dân tộc: “Cha mẹ thương nhau
bằng gừng cay muối mặn”:
+ Câu thơ được nhào nặn bởi chất liệu văn hóa dân gian. Từ thành ngữ quen thuộc "muối mặn
gừng cay” đến ca dao “Tay nâng đĩa muối chén gừng / gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”
đã có sự hịa trộn kì diệu để làm nên ý thơ giản dị mà sâu xa. Hình ảnh “muối mặn, gừng cay”
gợi nhắc tới nghĩa tình vợ chồng chung thủy, đồng cam cộng khổ. Dẫu cuộc đời trăm đắng ngàn
cay, nhưng nghĩa tình chồng vợ vẫn vẹn nguyên mặc cho vật đổi, sao rời:“Muối đã mặn nghìn
năm vẫn mặn / Gừng đã cay mn thuở vẫn cịn cay/ Đơi ta nghĩa nặng tình dày/ Dẫu xa nhau
cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa". Tình nghĩa yêu thương, chung thủy của mẹ cha là một yếu
tố làm nên diện mạo tinh thần của Đất Nước.
4
-Câu 7: Đất nước cịn hiện lên thật bình dị, thân thương qua những cái thuần Việt: “Cái kèo cái
cột thành tên”.
+ Câu thơ gợi tả một nét đẹp trong đời sống văn hóa dân tộc. Người Việt Nam đặt tên con khơng
cầu kì, xa lạ, kiểu cách. Họ lấy ngay những bộ phận của ngôi nhà đặt tên cho con cái. Những cái
kèo, cái cột vô tri, bỗng trở thành tên gọi của những đứa con. Những cái tên nôm na, dân dã (kèo,
cột) gợi nhắc một yếu tố văn hóa của người Việt (người Việt có truyền thống dựng tre làm nhà
để ở) đồng thời cho thấy sự gắn bó tha thiết của họ với ngơi nhà thân thuộc cũng như cũng như
cuộc sống nghèo khó, sự mộc mạc, chân chất của người dân Việt Nam.
-Câu 8: Đn hình thành từ CS lao động vất vả nhưng cần cù chịu thương, chgiuj khó của người
Việt: "Hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã, giần sàng"
+ Một nắng hai sương là thành ngữ chỉ sự gian nan, vất vả cực khổ, nhọc nhằn lam lũ .
+ Xay, giã, giần, sàng,... diễn tả những công việc nhọc nhằn mà người nông dân đã trải qua để
làm ra hạt gạo. Ông bà, cha mẹ chúng ta đã phải trải qua bao gian nan "một nắng hai sương", đã
đổ bao mồ hôi với bao công việc của nhà nông nhọc nhằn "xay, giã, giần, sàng,..." mới làm ra
hạt gạo dẻo thơm. Hạt gạo là vật chất cũng là sự sống, là cội nguồn văn hóa dân tộc. Thủ pháp
nghệ thuật liệt kê kết hợp việc sử dụng thành ngữ dân gian "một nắng hai sương" gợi ra cuộc
sống vất vả, nhọc nhằn và phẩm chất cần cù, chịu thương chịu khó của người Việt. Truyền thống
lao động tốt đẹp của nhân dân cũng là một phần của hồn nước.
+ Câu thơ còn gợi cho ta nhớ đến bài ca dao:”Cày đồng đang buổi ban trưa.....phần”
c.Tóm lại, chín câu thơ đầu là cảm nhận mới mẻ, sâu sắc về sự hình thành và phát triển lâu đời
của đất nước.
- Nhà thơ không điểm lại các vương triều nổi tiếng trong lịch sử dân tộc, khơng nói về những
người anh hùng với chiến cơng chói lọi; cũng khơng định nghĩa về Đất Nước bằng những khái
niệm trừu tượng, kì vĩ, cao siêu như "thiên thư", "nhật nguyệt", "một mối xa thư đồ sộ" như các
nhà văn, nhà thơ trước đó. Và nếu như Nguyễn Đình Thi cảm nhận ĐN ở những nét hồnh tráng
Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Cánh cò bay lả rập rờn
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều
( Việt Nam quê hương ta)
CLV nhìn ĐN qua những trang sử hào hùng:
Hỡi sơng Hồng tiếng hát bốn ngàn năm
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
- Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất.
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc
Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào Cửa Bắc
Hưng Đạo Vương diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng.
(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?- Chế Lan Viên)
Thì hệ thống ngơn ngữ mới mẻ của NKĐ đã nỗ lực xóa nhịa khoảng cách để bình dị hóa ĐN,
để ĐN hóa thân vào cổ tích, ca dao, dan ca, đời sống hàng ngày. NKĐ đã có công đưa ĐN từ trời
cao thượng đế, từ ngai vàng của vua chúa xuống miếng trầu bà ăn, xuống búi tóc của mẹ, xuống
cái kèo, cái cột trong ngơi nhà ta ở, hạt gạo ta ăn mỗi ngày. ĐN trở thành bầu khí quyển bao bọc
5
CS quanh ta, ĐN ở trong ta và quanh ta . Đọc ý thơ của NKĐ, ta càng thấm thía lịng u ĐN,
hiểu thêm ý nguyện của CLV:
Ơi! Tổ quốc, ta yêu như máu thịt,
Như mẹ cha ta, như vợ, như chồng!
Ơi Tổ quốc! Nếu cần, ta chết
Cho mỗi ngơi nhà, ngọn núi, con sơng…
- Hình ảnh thơ hàm súc, giàu chất liệu văn hóa, văn học dân gian nên có sức lắng đọng sâu sắc.
Chỉ 1 đoạn thơ ngắn nhưng đã khơi dậy bao nét văn hóa, VHDG quen thuộc: Đó là tục ăn trầu,
là miếng trầu giao duyên, miếng trầu nên nghĩa nên tình, miếng trầu đo phẩm hạnh; Là cái búi
tóc thành cuộc sau gáy quen thuộc của người phụ nữ VN từng gặp trong ca dao “Tóc ngang lưng
vừa chừng em búi/Để chi dài bối rối lòng anh; Là cách đặt tên con cái từ những vật dụng hàng
ngày. Đó cịn là kho tàng truyện cổ tích VN mà mối khi 4 tiếng “ngày xửa ngày xưa” cất lên ai
cũng nhớ; là truyện cổ tích trầu cau thấm đượm tình anh em, tình vợ chồng. Là thành ngữ DG
“Miếng trầu là đầu câu chuyện”; là truyền thuyết Thánh gióng đánh giặc ngoại xâm; là tình ngĩa
vợ chồng trong ca dao “Tay bưng chén muối, đĩa gừng/ Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”
- NKĐ đã sử dụng rất tài tình và hiệu quả chất liệu trên. Nhà thơ không chỉ ra 1 bài nào cụ
thể cũng khơng trích ngun văn 1 câu nào trọn vẹn mà chỉ dẫn ra, gợi ra 1 vài từ ngữ, hình ảnh
tiêu biểu của nét văn hóa, VHDG. Những chất liệu văn hóa dân gian ấy đã tạo nên một thế giới
nghệ thuật vừa gần gũi, quen thuộc, vừa sâu xa kì diệu, bay bổng đủ sức gợi lên được hồn thiêng
sơng núi. Điều đó, khơng chỉ đơn thuần là thủ pháp nghệ thuật, cũng không phải chỉ là tiếp thu
có sáng tạo văn học dân gian. Có thể nói, tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân, tư tưởng chủ đạo
của chương thơ đã thấm nhuần từ quan niệm đến cảm xúc, từ hình tượng đến chi tiết nghệ thuật
của tác phẩm.
1.2. Đất Nước là gì?
a. Tác giả đã khai thác cấu tạo từ tiếng Việt- từ ghép Đất nước để đi sâu vào từng thành tố làm
nên ĐN. Nhà thơ đã tách từ ĐN thành Đất và nước rồi lại hợp nhất trong 1 chỉnh thể thống nhất
hài hòa. Cứ thế, tách ra rồi hợp lại, hợp lại rồi tách ra. ĐN hiện ra vừa cụ thể, riêng tư, gần gũi,
vừa lớn lao, cao cả, thiêng liêng.
b. ĐN được định nghĩa trên hai phương diện: không gian địa lý và thời gian lịch sử.
- Về khơng gian địa lí:
+ ĐN với NKĐ chưa phải núi sông rừng bể mà là những không gian rất gần gũi với cuộc sống
con người (Đất là nơi anh... tắm). ĐN hiện hình cụ thể, riêng biệt mà rất đỗi quen thuộc: Đất là
mái trường tuổi ấu thơ, con đường hàng ngày đi học, nơi có bao gương mặt thầy cơ dịu dàng nhân
hậu, nơi có bạn bè vơ tư, hồn nhiên, trong sáng tuổi thần tiên, nơi dạy ta biết yêu quê hương qua
từng trang sách nhỏ. Nước là cây đa, bến nước, dịng sơng tươi mát, hiền hịa nơi có nước gương
trong soi tóc những hàng tre với cây đa, bến nước, con thuyền nhỏ nhoi đang lững lờ xuôi mái.
+ Đặc biệt ĐN tồn tại ngay cả trong không gian riêng tư, thầm kín nhất của tình u đơi lứa (Đất
nước là nơi ta hò hẹn…thầm)
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm.
= Nơi ta hò hẹn, nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm, đó là khơng gian riêng
tư, khơng gian gắn liền với tình u đơi lứa. Ở khơng gian đó, anh và em đã lần đầu hò hẹn, đã
trao cho nhau những rung động thầm kín của mối tình đầu, để từ ngày đó, em biết thương, biết
nhớ, biết gửi vào chiếc khăn tay kỉ niệm bao rung động thổn thức của trái tim yêu buổi ban đầu.
6
= Câu thơ: Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm được Nguyễn
Khoa Điềm sáng tạo từ bài ca dao ngọt ngào, đằm thắm:
"Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất
Khăn thương nhớ ai
Khăn vắt lên vai
Khăn thương nhớ ai
Khăn chùi nước mắt".
+ ĐN với NKĐ là núi sông rừng bể:
"Đất là nơi “con chim phượng hồng bay về hịn núi bạc”
Nước là nơi “con cá ngư ơng móng nước biển khơi"
Lấy ý từ câu hát dân gian Bình Trị Thiên ngọt ngào sâu lắng: "Con chim phượng hồng
bay ngang hịn núi bạc - Con cá ngư ơng móng nước ngồi khơi - Gặp nhau đây xin phân tỏ đôi
lời - Kẻo mai kia con cá về sông vịnh, con chim nọ đổi dời về non xanh", câu thơ đưa người đọc
về với những không gian đất nước thân thương. Những từ "núi bạc", "biển khơi",...mang âm
hưởng dân gian gợi ra một đất nước mênh mông, giàu đẹp, yên ả, thanh bình.
+ Đặc biệt, ĐN là không gian sinh tồn hết sức đời thường của ND qua bao thế hệ: (Những ai đã
khuất….để lại)
→Như vậy, trong cách nhìn về khơng gian ĐN, NKĐ nghiêng nhiều hơn về không gian riêng tư,
không gian đời thường. Lâu nay, chúng ta quen nhìn ĐN ở 1 tầm vóc lớn lao, kì vĩ mà bỏ qn
những khơng gian rất đỗi bình dị, nhỏ bé quanh mình. Cách nhìn ấy dễ tạo ra khoảng cách. Nhưng
NKĐ thì khác, nhà thơ đã nhìn ĐN ở 1 cự li gần và đã phát hiện ra một ĐN hết sức thân quen, 1
ĐN dễ thương với cá nhân mỗi người. (So snahs với những câu thơ của Nguyễn Đình Thi)
-Về thời gian lịch sử: ĐN được cảm nhận trong suốt thời gian lịch sử từ quá khứ những ai đã
khuất" đến hiện tại "những ai bây giờ" và tương lai "yêu nhau và sinh con đẻ cái"
+ Đó là 1 ĐN thiêng liêng, hào hùng trong quá khứ gắn liền với huyền thoại Lạc Long quân và
Âu Cơ:
"Đất là nơi Chim về
Nước là nơi Rồng ở
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng".
Ở đoạn thơ này, những hình tượng quen thuộc trong thần thoại, truyền thuyết như Chim,
Rồng, Lạc Long Quân, Âu Cơ, bọc trăm trứng cùng tụ về trong trường liên tưởng của nhà thơ.
Sự hội tụ ấy làm bật lên ý thơ có tầm khái quát cao: dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên - trai tài,
gái sắc. Đất Nước ta là nơi đất lành Chim về, là đất thiêng nơi Rồng ở. Dân tộc Việt là anh em
một nhà cùng sinh ra từ bọc trăm trứng của cha Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ. => Một dân tộc
có cội nguồn văn hóa, có truyền thống lâu đời, rất đỗi thân thương như thế chính là Đất Nước của
Nhân Dân.
+ Giản dị, gần gũi trong hiện tại :
"Trong anh và em hơm nay
Đều có một phần Đất Nước"
Anh và em là những cá nhân trong cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Đời sống tâm hồn, tình
cảm, nhân cách, trí tuệ của mỗi cá nhân đều có một phần đất nước ở trong mình. Điều đó có
nghĩa, đất nước khơng xa lạ, trừu tượng mà kết tinh, hóa thân trong cuộc sống của mỗi người. Sự
7
gắn bó máu thịt giữa số phận cá nhân với vận mệnh cộng đồng là tư tưởng chung của thời đại:
"Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn trịn to lớn".
Tình u lứa đơi riêng tư đã mang trong nó vẻ đẹp hài hịa, nồng thắm của tâm hồn dân
tộc. Khi chúng ta cầm tay nhau, cái riêng tư của tình u đơi lứa gắn bó với cái chung của tình
yêu đất nước, đất nước trong chúng ta trở nên "hài hòa nồng thắm", bền chặt và đầy sức sống.
Khi chúng ta cầm tay mọi người, liên kết gắn bó với cộng đồng tạo nên khối đại đồn kết dân tộc,
đất nước vẹn trịn to lớn, có sức mạnh, tầm vóc, trường tồn và phát triển.
+ ĐN Triển vọng tươi sáng trong tương lai ( Mai này….mộng). Đất nước sẽ tươi đẹp hơn, hạnh
phúc hơn, những tháng ngày mơ mộng ở hiện tại này sẽ trở thành hiện thực ngày mai.
→ Đất nước qua cách cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm khơng khơ khan mà tươi rói cảm xúc.
Bởi đất nước không chỉ là sự thống nhất của các yếu tố lịch sử, địa lí, văn hóa, phong tục,...mà
đất nước gắn liền với đời sống, số phận của từng cá nhân ở mọi phương diện, là sự tiếp nối của
các thế hệ.
c.Từ sự cảm nhận sâu sắc, mới mẻ về đất nước, tác giả đi đến suy nghĩ về trách nhiệm của
mỗi cá nhân đối với ĐN.
+ Chúng ta vừa phải gánh vác những công việc nhọc nhằn, nặng nề mà cha ông giao lại, vừa phải
dặn dò con cháu chuyện mai sau một cách ân cần, chu đáo để các thế hệ sau sẽ tiếp tục đưa đất
nước đi xa đến một chân trời hịa bình, hạnh phúc, ấm no, giàu mạnh:
Hàng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ.
Hai chữ "cúi đầu" trong câu thơ đong đầy thành kính, thiêng liêng, đem đến cảm nhận:
dường như mọi thế hệ người dân Việt, từ những ai đã khuất đến những ai bây giờ đều im lặng
cúi đầu hướng về nguồn cội, tổ tiên; đúng như ông bà ta từng căn dặn con cháu: "Dù ai đi ngược
về xuôi/ Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba".
+ Đặc biệt phải biết gắn bó, hóa thân, san sẻ làm nên ĐN mn đời
"Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời"…
"Em ơi em" là lời nhắn nhủ tâm tình ngọt ngào, tha thiết như được cất lên từ trái tim. Tình
u đơi lứa đã hịa quyện với tình u đất nước đầy nhiệt tình, cháy bỏng.
"Đất Nước là máu xương của mình" nghĩa là đất nước được xây dựng, bảo vệ bằng máu
xương của nhân dân qua trường kì lịch sử. Đất nước là sinh mệnh, là sự sống của mình, phải biết
quý trọng, gìn giữ, gắn bó, u thương. Vì thế, trách nhiệm với đất nước cũng là trách nhiệm với
chính bản thân mình. Mỗi chúng ta phải tự nhiên gắn bó với đất nước bằng tình cảm thiết tha, dù
đi đâu, làm gì, "ăn đâu làm đâu cũng phải hướng về đất nước.
Không những thế, mỗi chúng ta phải san sẻ với cộng đồng bằng ý thức trách nhiệm, gánh
vác một phần trách nhiệm với đất nước "khi Tổ quốc cần", đồng thời, cịn phải biết hóa thân bằng
hành động hi sinh cho đất nước. Chữ "hóa thân" diễn tả sâu sắc sự tự nguyện dâng hiến trọn vẹn,
sẵn sàng chiến đấu, hi sinh để bất tử hóa cùng non sơng đất nước của mỗi người dân.
Điệp ngữ "phải biết" vừa như một mệnh lệnh, lại vừa như tiếng nói thúc giục của con tim tạo
8
thành chất chính luận trữ tình sâu lắng của lời thơ.
Tuy là đoạn thơ chính luận nhưng những câu thơ trên không giống với những lời dạy bảo cao
giọng mà chỉ là 1 lời tự nhủ, tự dặn mình của cá nhân nhà thơ và lớn hơn là của thế hệ lúc bấy
giờ ý thức về bổn phận đối với ĐN. Giọng thơ chân thành, tha thiết, nhẹ nhàng như lời thủ thỉ,
tâm tình, nhắn nhủ người u mà khơng cao giọng, lên gân vốn từng xuất hiện khi dạy đời, dyaj
người. Đặt trong mạch thơ tâm sự, những câu thơ đó là logic tất yếu của ý thức và trái tim.
Cùng thời NKĐ, nhà thơ Thanh Thảo cũng có những nhận thức sâu sắc như thế
đất nước đẹp mênh mang
đất nước thấm tự nhiên đến tận cùng máu thịt
chỉ riêng cho Người, chúng tơi dám chết...”
(Thử nói về hạnh phúc - Thanh Thảo)
Hay Chế lan Viên « Ơi tổ quốc ta yêu như máu thịt…. »
Đó cũng là khát vọng cháy bỏng của những thế hệ con người VN khi ĐN bị xâm lăng :
Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt
Mỗi con sơng đều muốn hóa Bạch Đằng
c.Tóm lại, được bao bọc trong khơng khí của văn học dân gian, hình tượng Đất Nước trong thơ
Nguyễn Khoa Điềm hiện lên thật thơ mộng, trữ tình như từ xa xưa vọng về, bình dị mà thân
thương, gắn bó tha thiết với mỗi con người . Nhà thơ định nghĩa về Đất Nước bằng thơ- Lời thơ
vừa lấp lánh sắc màu huyền thoại dân gian, vừa lung linh vẻ đẹp của trí tuệ, vừa thiết tha cảm
xúc, tạo nhiều âm vang trong lịng người đọc.
Nếu Đất nước - Nguyễn Đình Thi mang đậm sắc thái hiện đại, gắn liền với chiều dài của
cuộc kháng chiến chống Pháp đau thương, anh dũng và chiến thắng, thì Đất Nước - Nguyễn Khoa
Điềm đậm đà phong vị dân gian, gắn với cội nguồn văn hóa dân tộc. Cùng tỏa sáng tình u và
niềm tự hào với đất nước, nhưng mỗi bài thơ có vẻ đẹp riêng khiến cho cảm hứng về quê hương,
đất nước trở nên đa dạng, hấp dẫn.
- NT : - Thể thơ tự do, biến đổi linh hoạt về nhịp điệu, có sự kết hợp giữa chất chính luận
và trữ tình, từ Đất Nước viết hoa, lúc được tách ra để khơi sâu, lúc hợp lại tạo sự thống nhất, gắn
bó.
+Giọng điệu tâm tình, sâu lắng, trang nghiêm đã góp phần thể hiện chủ đề ĐN trong bút
pháp chính luận, trữ tình.
+Vận dụng sáng tạo những chất liệu văn hóa dân gian từ đó tạo nên một khơng gian nghệ
thuật vừa bay bổng, vừa mĩ lệ, diệu kì lại vừa gần gũi, thiêng liêng. Điều này đã góp phần thể
hiện tư tưởng ĐN của nhân dân một cách sâu sắc.
+Các hình ảnh thơ giàu chất suy tưởng có khả năng gợi tả vẻ đẹp trong đời sống tinh thần
của nhân dân.
2. Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân
Nếu ở phần đầu tác giả nói về lịch sử đất nước cùng lối định nghĩa đất nước bằng thơ theo
cách riêng của mình thì 47 dịng thơ tiếp theo, nhà thơ đi sâu vào tư tưởng Đất Nước của Nhân
Dân trên tất cả các bình diện: khơng gian địa lí, thời gian lịch sử và văn hóa phong tục của nhân
dân.
2.1. Nhìn ở phương diện địa lí
a. Tám câu đầu :
- Những cảnh sắc thiên nhiên, danh thắng, tên đất tên làng của ĐN chính là sự hóa thân
của nhân. Nó khơng phải đơn giản là sản phẩm của tạo hóa mà là tâm hồn, số phận nhân dân, là
9
tinh thần của con người đấtViệt hóa thân tạo thành linh hồn khơng gian ĐN.
-Hình ảnh Những người vợ nhớ chồng gợi tình nghĩa thủy chung gắn bó của bao người vợ nhớ
thương chồng bất chấp không gian thời gian.
+ Câu thơ gợi ta liên tưởng đến hòn Vọng Phu và câu chuyện cảm động về lịng chung thủy, tình
u của người vợ với chồng. Trên nhiều vùng của đất nước ta có những tảng đá lớn hay núi đá
trơng giống như hình người đàn bà bồng con. Nhân dân ta đã thổi vào những hịn đá vơ tri ấy một
sức sống, một linh hồn mang vẻ đẹp đời sống tinh thần của nhân dân. Chắc chắn, nếu khơng có
những mối tình đắm say, chung thủy, khơng có những người vợ đợi chồng trong các cuộc chiến
tranh li tán thì khơng có cảm nhận kì thú, sâu sắc như thế về núi Vọng Phu.
-Lối sống thủy chung, tình nghĩa của nhân dân ta cịn kết tinh, hóa thân thành huyền thoại về hịn
Trống Mái:
Cặp vợ chồng u nhau góp nên hòn Trống Mái.
+ Hòn Trống Mái là một cảnh đẹp gần bãi biển Sầm Sơn gắn với một sự tích về tình yêu được
lưu truyền ở địa phương , trở thành biểu tượng cho tình u đơi lứa thủy chung, son sắt, sống chết
bên nhau và mãi mãi không bao giờ chia lìa. Phải thế chăng mà từ những người vợ nhớ chồng
nhà thơ đã chuyển thành cặp vợ chồng u nhau. Cặp cũng là đơi, nhưng cịn chỉ sự gắn bó khăng
khít, khơng bao giờ có thể chia lìa.
-Trên hành trình khám phá vai trị, cơng lao của nhân dân qua hàng ngàn năm lịch sử và sự hóa
thân của nhân dân vào hình sơng, thế núi, Nguyễn Khoa Điềm còn phát hiện ra: nhiều danh lam
thắng cảnh của đất nước ta cịn là sự hóa thân của truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm:
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua cịn trăm ao đầm để lại
+ Ý thơ được xây dựng sáng tạo dựa trên truyền thuyết Thánh Gióng – một truyền thuyết
tiêu biểu cho truyền thống yêu nước của người Việt. Nếu nhân dân ta không có tinh thần yêu
nước, chống giặc ngoại xâm qua hàng ngàn năm lịch sử thì khơng bao giờ có sự cảm nhận kì diệu
đến như vậy về những ao, đầm mộc mạc, bình dị, gần gũi và đơn sơ. Lịng yêu nước của người
dân Việt đã thổi hồn vào những hình ảnh bình dị thân thương đó một sức sống, một linh hồn dân
tộc, để rồi "Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất" ta lại nghe thấy "những buổi ngày xưa vọng nói về".
-Hình ảnh Chín mươi chín con voigóp mình dựng đất Tổ Hùng Vương. Thể hiện sức mạnh đồn
kết trong cơng cuộc xây dựng ĐN buổi sơ khai.
Ý thơ được xây dựng dựa trên truyền thuyết về đất tổ Vua Hùng. Chín mươi chín con voi
thực chất là chín mươi chín ngọn núi bao quanh núi Hi Cương, nơi có đền thờ các Vua Hùng.
Nhân dân ta đã hình dung hình chín mươi chín ngọn núi ấy giống như hình chín mươi chín con
voi qy quần, thuần phục đất tổ. Chỉ có một con khơng quy thuận, nên bị chặt đầu. Từ truyền
thuyết ấy, nhà thơ ca ngợi lịch sử dân tộc trong quá trình dựng nước, giữ nước, ca ngợi tinh thần
đoàn kết, truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc. Vì thế, mỗi người dân Việt Nam:
Hàng năm ăn đâu, làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ
-“ Những con rồng nằm im góp dịng sơng xanh thẳm”: Câu thơ thể hiện sự liên tưởng, sáng tạo
tài hoa của NKĐ: Nhà thơ hình dung những dịng sơng hiền hịa, xanh thẳm, chảy qua các làng
mạc, xứ sở như Cửu Long Giang là sự hóa thân của những con rồng im lặng, thân thương.
- Không chỉ có những người anh hùng lớn lên từ nhân dân đã hóa thân mình làm thành lịch sử,
mà cịn có cả người học trị nghèo cũng hóa thân làm nên núi Bút, non Nghiên. »Những người
học trò nghèo… »
Đặt tên núi như vậy, nhân dân ta ca ngợi truyền thống hiếu học của dân tộc bằng hình
10
tượng người học trị nghèo hóa thân vào thế núi, hình sơng. Cùng từ đó, hình ảnh núi Bút, non
Nghiên trở thành biểu tượng cho truyền thống hiếu học của người Việt.
-Ngay cả những con cóc, con gà quê hương cũng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh. Ai đã đến
Hạ Long nếu quan sát, để ý kĩ sẽ thấy có nhiều đảo đá có hình thù trơng xa như con cóc, con gà.
Nhà thơ đã liên tưởng đó là sự hóa thân của tất cả những gì gần gũi, giản dị, thân thuộc nhất trong
đời sống nhân dân vào ĐN.
-Hình ảnh ơng Đốc, ơng Trang, Bà Đen, bà Điểm đánh dấu hành trình cha ơng ta mang gươm đi
mở cõi, khai phá miền đất phương nam.
=>Như vậy, tất cả mọi danh lam, thắng cảnh trên đất nước ta đều do sự hóa thân của nhân
dân mà thành. Có thể đó là những người anh hùng dân tộc, những người dân có tên, nhưng cũng
có thể là những người dân không tên: Những người vợ nhớ chồng, cặp vợ chồng yêu nhau ... họ
đã sống một cuộc đời đẹp như huyền thoại, họ đã hóa thân vào dáng hình xứ sở làm nên Đất
Nước mn đời .... Vì thế, mọi danh lam thắng cảnh chỉ có ý nghĩa thực sự khi được cảm nhận
qua đời sống tâm hồn của nhân dân.
b. Bốn câu cuối : Từ những hình ảnh cụ thể, tác giả đã khái quát, kết đọng sự hóa thân của
nhân dân vào Đất Nước.
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gị bãi
Chẳng mang một dáng hình một ao ước một lối sống ơng cha
Ơi đất nước sau 4000 năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta
+ Thán từ "ôi" diễn tả sự xúc động sâu sắc, chân thành của nhà thơ khi nghĩ về lịch sử 4000
năm dựng nước của dân tộc. Trong suốt 4000 năm ấy, nhân dân thầm lặng, vô danh đã hóa cuộc
đời mình làm nên núi sơng, đất nước chúng ta. Câu thơ "những cuộc đời đã hóa núi sông ta" vang
lên một cách đầy kiêu hãnh, tự hào.
Như vậy: Đoạn thơ thể hiện những cảm nhận sâu sắc của NKĐ về ĐN: ĐN không trừu
tượng, không xa xôi. ĐN có trong đời sống, tinh thần nhân dân và nhân dân hóa thân làm nên sự
trường tồn của ĐN. Hình tượng đất nước là điệu hồn, phẩm chất, ước mơ, hồi bão của cha ơng
suốt 4000 ngăm lịch sử dựng nước. Suy ngẫm sâu sắc này cũng được NĐT thể hiện trong bài
“Đất nước”
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về
Từ sự hóa thân của nhân dân vào những danh lam, thắng cảnh trên khắp mọi miền đất
nước, NKĐ đã thể hiện những suy tưởng mang tầm triết lí về vai trị của nhân dân trong lịch sử,
từ đó bày tỏ tình cảm u mến, lòng tự hào về ĐN – ND.
-Nghệ thuật:
+Thể thơ tự do đã thể hiện những cảm xúc của tác giả về đất nước thật sâu rộng, chân
thành.
+Giọng điệu tâm tình, sâu lắng, trang nghiêm đã góp phần thể hiện chủ đề ĐN trong bút
pháp chính luận, trữ tình.
+Vận dụng sáng tạo những chất liệu văn hóa dân gian từ đó tạo nên một khơng gian nghệ
thuật vừa bay bổng, vừa mĩ lệ, diệu kì lại vừa gần gũi, thiêng liêng. Điều này đã góp phần thể
hiện tư tưởng ĐN của nhân dân một cách sâu sắc.
+Các hình ảnh thơ giàu chất suy tưởng có khả năng gợi tả vẻ đẹp trong đời sống tinh thần
của nhân dân.
11
+Đoạn thơ có cấu trúc câu trùng điệp.Vế đầu của câu thơ là hình ảnh của nhân dân, những
sự vật gắn bó gần gũi, thân thiết với nhân dân (Những người vợ nhớ chồng, cặp vợ chồng yêu
nhau, gót ngựa Thánh Gióng, những con voi, con rồng...), vế sau của câu là các danh lam thắng
cảnh (hòn Trống Mái, núi Vọng Phu, đất tổ Hùng Vương, núi Bút, non Nghiên...) vừa lặp lại cấu
trúc câu theo thủ pháp nghệ thuật trùng điệp, kết hợp với thủ pháp nghệ thuật liệt kê đã khẳng
định vai trò của nhân dân trong việc xây dựng, phát triển đất nước
2.2. Nhìn ở phương diện thời gian lịch sử:
Nhà thơ cũng khẳng định tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân. Tư tưởng này chi phối cách
nhìn của nhà thơ khi nghĩ về lịch sử 4000 năm đất nước:
"Em ơi em hãy nhìn rất xa
Vào bốn nghìn năm Đất Nước
Năm tháng nào cũng người người lớp lớp
Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta
Cần cù làm lụng
Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái ở nhà ni cái cùng con
Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh
Nhiều người đã trở thành anh hùng
Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ
Nhưng em biết khơng
Có biết bao người con gái, con trai
Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Khơng ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước"
- Đoạn thơ được mở đầu bằng một lời gọi, lời nhắn nhủ chân thành, tha thiết của chàng trai
với cơ gái người mình u:
Em ơi em hãy nhìn rất xa
Vào bốn nghìn năm Đất Nước.
+ Nhìn vào bốn nghìn năm Đất Nước là cái nhìn mang tầm vóc lịch sử, nhân loại và
thời đại. Đó là cái nhìn bốn hướng, trơng lại nghìn xưa trơng tới mai sau, cái nhìn của con mắt
Bạch Đằng, con mắt Đống Đa, cái nhìn mang tính sử thi hồnh tráng.
-Phải bằng con mắt ấy, mỗi chúng ta mới có cái nhìn đầy đủ, khái quát và sâu sắc nhất về vai trò
của nhân dân trong lịch sử:
Năm tháng nào cũng người người lớp lớp
Con gái con trai bằng tuổi chúng ta/
Cụm từ chỉ thời gian không xác định "năm tháng nào" kết hợp với từ "lớp lớp" chỉ số
nhiều, các danh từ chung "con gái, con trai" tạo nên những vần thơ bình dị nhưng giàu sức gợi
cảm. Nhân dân các thế hệ từ lớp này đến lớp khác đã nối tiếp nhau đứng lên giữ gìn quê hương,
xứ sở bằng mồ hôi, công sức và xương máu của mình.
-Bằng cái nhìn mang tầm vóc lịch sử, trong mấy câu thơ ngắn gọn, Nguyễn Khoa Điềm đã khái
quát vai trị của nhân dân trong q trình xây dựng và bảo vệ đất nước trong cả thời bình và thời
chiến:
12
Cần cù làm lụng
Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con
Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh
+ Thời bình, Nhân dân là những người "cần cù làm lụng". Sự vất vả dãi dầu một nắng hai
sương của những người lao động chân lấm tay bùn đâu chỉ làm ra hạt gạo bé nhỏ, tinh khôi, đâu
chỉ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng, chuyền lửa qua mỗi nhà từ hòn than qua con cúi mà
còn làm nên văn hóa, phong tục, tập quán, truyền thống, lối sống, phẩm chất tâm hồn dân tộc:
nhẫn nại, cần cù, chịu thương chịu khó.
+ Khơng chỉ xây dựng, nhân dân cịn bảo vệ đất nước thời chiến:
Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con
Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh".
Việt Nam là một dân tộc bé nhỏ nhưng phải liên tiếp đối mặt với các cuộc chiến tranh xâm
lược. Trong những giây phút lâm nguy, đầy thử thách ấy của lịch sử; người con trai sẵn sàng ra
trận, người con gái trở về nuôi cái cùng con. Tiền tuyến chắc tay súng, hậu phương vững tay cày.
Lớp lớp những người con gái con trai ấy đã sẵn sàng sống xa nhau, hi sinh hạnh phúc riêng tư để
bảo vệ Tổ quốc. Yêu nước, thương nịi, đó là phẩm chất, truyền thống của dân tộc Việt.
=Vì thế, trách nhiệm chiến đấu bảo vệ đất nước khơng của riêng ai:
"Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh"
Ý thơ của Nguyễn Khoa Điềm gợi lên trong lòng mỗi chúng ta một niềm tự hào khôn tả
về chiến công lừng lẫy của Bà Trưng, Bà Triệu, của những đội quân tóc dài, những người con
gái Việt Nam đã không quản ngại gian khổ hi sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Đất nước
của chúng ta là "Đất nước của những người con gái con trai/Đẹp hơn hoa hồng cứng hơn sắt
thép/Xa nhau không hề rơi nước mắt/ Nước mắt dành cho ngày gặp mặt". Thật thân thương, gần
gũi và bình dị biết bao.
- Trong những cuộc kháng chiến trường chinh ấy, có những người đã trở thành anh hùng
được lưu danh trong sử sách nhưng với tư tưởng đất nước của nhân dân, Nguyễn Khoa Điềm đặc
biệt nhấn mạnh đến những người lao động bình thường, thầm lặng, vơ danh:
"Nhưng em biết khơng
Có biết bao người con gái con trai
Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Khơng ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước"
Đó là những con người đã lặng lẽ vùi mình vào cát, khơng đền đài, khơng bia tượng, nhưng
núi sơng này được làm nên từ chính xương máu của họ. Họ sống và chết cho ĐN hết sức giản dị
và bình tâm như Tố Hữu viết
Sống trong cát, chết vùi trong cát
Những trái tim như ngọc sáng ngời
Như thế cảm nhận về ĐN của NKĐ theo 1 lối riêng. Xưa nay khi nghĩ về lịch sử đất nước
các nhà thơ thường nhắc đến các triều đại, nhà vua :”Từ Triệu, Đinh, Lí....” hay các anh hùng
hào kiệt “ Hỡi sơng Hồng....”. cịn NKĐ trân trọng, ca ngợi vai trị của nhân dân vơ danh trong
13
việc tạo ra 4000 năm lịch sử ĐN. Đây là suy nghĩ tiến bộ của chân lí thời đại CM, nói như Ăng
ghen “Khơng có mồ hơi và máu của ND thì các dân tộc khơng có lịch sử”
-Cái khéo của NKĐ khi nghĩ về lịch sử ĐN là ở chỗ nhà thơ đã liên hệ thê hệ trước với thế
hệ sau: “Nhưng em biết không...ĐN”. Câu thơ như lời nhắc nhở các thê hệ đi trước đxa làm
những điều lớn lao vĩ đại cho ĐN, còn thế hệ chún ta hơm nay đã làm gì khi ĐN bị chia cắt? Lời
thơ có ý nghĩa thức tỉnh thế hệ trẻ vùng đơ thị tạm chiếm miền Nam nói riêng vfa tuổi trẻ nói
chung nhận thức về ĐN, về sứ mệnh của mình xuống đường đấu tranh hịa vào cuộc đấu tranh
chung của DT.
2.3. Nhìn ở phương diện văn hóa:
Nhà thơ khẳng định vai trò của nhân dân:
- Đất Nước của Nhân Dân không chỉ hiện diện ở bề rộng không gian địa lí, ở chiều dài của
thời gian lịch sử mà còn ở tầng sâu của tâm hồn, bề dày của văn hóa dân tộc. Nhân dân khơng
chỉ là người chiến đấu mà cịn là người giữ gìn văn hóa dân tộc. Những hạt lúa, hịn than, tiếng
nói,...đều giản dị nhưng là sự sống của cả dân tộc, là văn hóa, là hồn thiêng sơng núi mà chính
nhân dân là người đã giữ gìn, truyền lại cho mn đời, tạo thành chiều sâu văn hóa dân tộc:
"Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ chuyền lửa qua mỗi nhà từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã tên làng trong mỗi chuyến di dân
Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái" .
-Trước hết, nhân dân là người tạo nên những giá trị văn minh vật chất cho đất nước : "Họ giữ và
truyền cho ta hạt lúa ta trồng"
Trong hạt lúa bé nhỏ ấy có mồ hơi cơng sức lao động của những người nơng dân vất vả
dãi dầu một nắng hai sương, có sự kết tinh của Đất và Nước, của bão giông, nắng lửa. Trên hết,
đó cịn là sự lắng kết của phẩm chất, tinh thần lao động cần cù, chịu thương chịu khó của nhân
dân. Khơng có hạt lúa nhân dân giữ và truyền cho ta, khơng thể có một đất nước VN tươi
đẹp :"Việt Nam đất nước ta ơi/ Mênh mơng biển lúa đâu trời đẹp hơn/Cánh cị bay lả dập dờn/
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều", không thể có "những hội hè đình đám/ trên núi Thiên
Thai/ trong chùa Bút Tháp"; khơng thể có "đường trong làng hoa dại với mùi rơm/ Người cùng
tôi đi dạo giữa đường thơm". Nhân dân đã giữ và truyền cho ta sự sống, văn hóa, tinh thần dân
tộc như thế .
-Khơng chỉ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng, nhân dân còn là người "chuyền lửa qua mỗi nhà
từ hòn than qua con cúi". Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm đâu chỉ là sự suy ngẫm, trải nghiệm
đầy sâu sắc về vai trò của nhân dân trong lịch sử, ẩn sâu trong từng câu chữ, nhà thơ còn gợi lại
cả một truyền thống, phong tục tốt đẹp ngàn đời của nhân dân ta là truyền thống hàng xóm tối
lửa tắt đèn có nhau được hình thành trong đời sống nghĩa tình của dân tộc Việt.
- Nhân dân cịn là người "truyền giọng điệu mình cho con tập nói". Ngơn ngữ là thứ của cải vô
cùng quý giá của mỗi quốc gia. Đó là kết quả của q trình đấu tranh dựng nước và giữ nước:
Trong một nghìn năm nhân dân ta sống dưới thời Bắc thuộc, Trung Quốc luôn tìm cách đồng hóa
dân tộc ta. Nhưng với ý thức và lịng tự hào, tự tơn dân tộc, nhân dân ta vẫn giữ được ngơn ngữ,
tiếng nói của dân tộc mình. Có thể nói, tiếng nói là tấm lụa bạch hứng vong hồn của biết bao thế
hệ đã qua, là tiếng nói tinh thần, tâm hồn của ơng cha ta từ ngàn đời truyền lại cho con cháu.
Những người mẹ truyền giọng điệu mình cho con tập nói cũng là truyền cho con tình u với
ngơn ngữ, văn hóa, bản sắc dân tộc để kho tàng ngôn nguwxdaan tộc trở nên kì diệu, để ngơn
14
ngữ trở thành sự gắn kết của cả một cộng đồng quốc gia: "Mỗi sớm dậy nghe bốn bề thân thiết/
Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi/ Như vị muối chung lịng biển mặn/ Như dịng sơng
thương mến chảy mn đời”.
- Nhân dân cịn là người "gánh tên xã tên làng trong mỗi chuyến di dân"
Câu thơ gợi nhắc lại những năm tháng gian lao của cộng đồng người dân Việt trong công
cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Vì lũ lụt, hỏa hoạn, thiên tai, chiến tranh giặc dã, người dân
đã phải di cư đến những nơi ở mới, tìm những vùng đất mới. Trong những chuyến di dân để tìm
sự sống ấy, họ đã gánh theo những tên xã, tên làng, nơi kí thác niềm ước mong của người dân
Việt trên mọi miền đất dải chữ S thân thương. Vì thế, mỗi tên xã tên làng đều gắn liền với những
chặng hành trình nhọc nhằn gian khổ mà khơng ít vinh quang của nhân dân trong cơng cuộc dựng
nước và giữ nước.
- Không chỉ mở mang bờ cõi, đem lại cho đất nước một dáng hình tươi đẹp, nhân dân còn
là người “đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái” .
- Nhân dân còn là người chống ngoại xâm và diệt nội thù:
"Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại"
Lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh đầy đau thương và anh dũng “ Từ Triệu
Đinh Lí Trần bao đời gây nền độc lập/ Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một
phương”. Đến thời điểm Nguyễn Khoa Điềm viết Đất Nước, đế quốc Mĩ vẫn đang tiếp tục leo
thang chiến tranh ra miền Bắc, nhân dân ta lại anh dũng đoàn kết một lòng đứng lên giết giặc
"Một dây ná một dây chơng cũng tấn cơng giặc Mĩ". Điệp từ "có"..."thì" cho thấy tinh thần tự
nguyện, hăng hái, sẵn sàng chiến đấu hi sinh để bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc một cách
tự nhiên như lẽ sống ngàn đời của người dân Việt.
- Mạch cảm xúc dâng lên thành cao trào để nhà thơ khẳng định một chân lí:
"Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân
Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại".
Hai câu thơ là định nghĩa về đất nước giản dị mà sâu sắc.
+ "Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân" vì nhân dân là người chiến đấu, xây dựng, bảo
vệ đất nước này bằng mồ hôi, xương máu của mình. Khơng có nhân dân sẽ khơng có phong tục,
tập quán, truyền thống, lối sống nghĩa tình, thủy chung, cao đẹp
+ Đất Nước của Nhân dân vì đất nước được hình thành từ những bản sắc văn hóa dân tộc
thấm đẫm vẻ đẹp tâm hồn nhân dân: Yêu nước, cần cù lao động, hiếu học, chung thủy trong tình
yêu, quý trọng tình nghĩa, bền bỉ kiên cường trong chiến đấu, lạc quan, yêu đời trong gian khó.
+ Đất Nước của Nhân dân cũng chính là Đất Nước của ca dao thần thoại. Vì:
Ca dao, thần thoại chính là sáng tác của nhân dân, phản ánh đời sống, tâm tư, tình cảm
của nhân dân và lưu giữ tâm hồn nhân dân qua bao biến động thăng trầm của lịch sử.
Nếu Lí Thường Kiệt phải dùng đến đế cư, thiên thư để trang trọng hóa đất nước. Nguyễn
Đình Chiểu phải dùng đến "một mối xa thư đồ sộ, hai vầng nhật nguyệt chói lịa" để thiêng liêng
hóa đất nước, thì với hệ thống từ ngữ giản dị, mang đậm màu sắc dân gian, Nguyễn Khoa Điềm
đã bình dị hóa đất nước, làm cho đất nước thật sự hóa thân trong tâm hồn và cuộc sống của mỗi
người dân trên đất này.
- Những câu cuối: Tác giả đã trở về với ngọn nguồn phong phú , đẹp đẽ của văn hóa ,văn
học dân gian mà tiêu biểu là ca dao- diện mạo tinh thần , nơi lưu giữ đời sống tâm hồn tình cảm
của nhân dân qua bao thế hệ. NKĐ đã chọn ra từ kho tàng thơ ca dân gian ba nét đẹp tiêu biểu
15
nhất của tâm hồn Việt ,của bản sắc văn hóa đất nước:
+ Thật say đắm trong tình yêu:
"Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi
Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội
Biết trồng tre đợi ngày thành gậy
Đi trả thù mà khơng sợ dài lâu"...
Ca dao có câu:
"u em từ thuở trong nơi
Em nằm em khóc anh ngồi anh ru".
Nguyễn Khoa Điềm đã viết thật dung dị : "Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi" để ca
ngợi tinh thần say đắm trong tình yêu của người dân Việt. Người Việt "Đã yêu, yêu đến tận cùng/
Đã thương thương đến nát lịng vì nhau".
+ Khơng chỉ say đắm trong tình u, người Việt cịn rất q trọng tình nghĩa. "Biết q
cơng cầm vàng những ngày lặn lội". Ý thơ của Nguyễn Khoa Điềm được xây dựng từ chất liệu
ca dao:
"Cầm vàng mà lội qua sông
Vàng rơi không tiếc tiếc công cầm vàng"
"Vàng" biểu tượng cho những giá trị cao quý; "công cầm vàng" là những gian nan, vất vả,
cực khổ mà con người phải trải qua. Đối với người dân Việt, cơng sức, tình nghĩa mà con người
dành cho nhau cịn q giá hơn vàng. Đó cũng là một nét đẹp trong tinh thần dân tộc.
+ Quyết liệt, bền bỉ trong tranh đấu:
"Biết trồng tre đợi ngày thành gậy
Đi trả thù mà không sợ dài lâu"
Câu thơ được sáng tạo từ câu ca dao :"Thù này ắt hẳn còn lâu/Trồng tre thành gậy gặp
đâu đánh què" để nói về tinh thần quyết liệt trong chiến đấu của người dân Việt.
- Đoạn trích khép lại bằng hình ảnh dịng sơng và câu hát, đem lại cảm nhậnvề một đất
nước đẹp hiền hịa, vĩnh cửu như một dịng sơng vô tận chảy từ quá khứ đến hiện tại, tương lai.
Trên dịng sơng âm vang những sắc màu văn hóa Việt Nam, phẩm chất tâm hồn Việt Nam, vô
cùng tự hào và yêu quý.
III.Tổng kết
1. Nghệ thuật
- Đoạn thơ trích trong chương V giàu chất trữ tình chính luận, vừa được viết bằng chiều
sâu trí tuệ, văn hóa vừa được viết bằng những rung động mãnh liệt của cảm xúc nên rất dễ đi vào
lịng người.
-Các chất liệu văn hóa dân gian được sử dụng nhuần nhị , sáng tạo đem lại sức hấp dẫn
cho đoạn trích góp phần thể hiện tư tưởng Đất Nước của Nhân dân.
- Hình tượng thơ có sức mạnh gợi cảm. Mỗi câu chữ đều gợi liên tưởng đến chiều sâu của
không gian và thời gian, của lịch sử và văn hóa với biết bao thăng trầm đổi thay của đất nước và
những con người đã làm nên đất nước này.
- Từ Đất Nước được lặp lại nhiều lần và viết hoa ,giọng thơ tâm tình, tha thiết trầm lắng
góp phần thể hiện chủ đề đất nước trong bút pháp chính luận trữ tình.
2. Nội dung
Tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân không phải đến Nguyễn Khoa Điềm mới có. Tư tưởng
ấy có một quá trình dài được khẳng định trong lịch sử văn học dân tộc.
16
+ Trong Bình Ngơ đại cáo, Nguyễn Trãi viết:
"Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo"
Và:
"Nhân dân bốn cõi một nhà
Dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới"
=> Đó chính là sự đề cao vai trị của nhân dân trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.
+ Trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi những người anh hùng
giữ nước là người nông dân yêu nước mến nghĩa làm quân chiêu mộ: "Nhớ linh xưa cui cút làm
ăn, toan lo nghèo khó, chưa quen cung ngựa đâu tới trường nhung....". Đó là hình ảnh người nông
dân lam lũ bước vào cuộc chiến đấu vì chính nghĩa. Họ đã hi sinh vì q hương, đất nước.
+ Đến thơ văn hiện đại, với “ Đất nước” của Nguyễn Đình Thi, “Tre Việt Nam” - Nguyễn
Duy, “ Lửa đèn” - Phạm Tiến Duật,... vai trò của nhân dân với đất nước cũng tiếp tục được đề
cao. Nguyễn Đình Thi viết: "Ơm đất nước những người áo vải/ Đã đứng lên thành những anh
hùng". Nguyễn Duy mượn hình ảnh cây tre để nói lên phẩm chất bình dị của nhân dân trong lao
động và chiến đấu, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
=> Như vậy, đề cao vai trò của nhân dân với đất nước là cả một truyền thống trong lịch sử
văn học dân tộc. Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện cảm nghĩ mới mẻ của mình về Đất Nước qua
những vẻ đẹp được phát hiện ở chiều sâu trên nhiều bình diện: lịch sử , địa lý , văn hóa ...
PHẦN B. Luyện các dạng đề
Đề 1: : Phân tích đoạn thơ: “Khi ta lớn lên….ĐN có từ ngày đó”
MB: "Mỗi tác phẩm văn học phải là một phát minh về hình thức, khám phá về nội dung" (Lê-ônốp). Trường ca "Mặt đường khát vọng" của Nguyễn Khoa Điềm là một tác phẩm như thế. Ở
đoạn trích "Đất Nước" ơng viết về một đề tài khơng mới nhưng có những khám phá riêng, mới
mẻ, độc đáo. Đến với đoạn thơ người đọc sẽ thấy những cảm nhận mới mẻ của tác giả về Đất
Nước qua những vẻ đẹp được phát hiện ở chiều sâu trên nhiều bình diện: lịch sử, địa lí, văn hố,
... Điều đó được thể sâu sắc qua những câu thơ sau:
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
...
Đất nước có từ ngày đó...
TB:
1. Khái quát đoạn thơ
- Trường ca Mặt đường khát vọng được tác giả hoàn thành 1971, tại chiến khu Trị - Thiên,
in lần đầu năm 1974. Bản trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiến miền
Nam về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu tranh hoà nhịp với
cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược.
- Trường ca Mặt đường khát vọng gồm 9 chương. Đất nước là phần đầu chương 5 trong
bản trường ca này. Trong đoạn trích, những khái niệm trừu tượng, những tiêu chí thiêng liêng về
Đất Nước đã được nhà thơ thể hiện qua những hình ảnh cụ thể, bình dị, quen thuộc và gợi cảm,
những hình ảnh ln thường xuất hiện trong cuộc sống hàng ngày của Nhân Dân.
Đoạn trích có hai phần, đoạn thơ trên là những câu đầu của phần 1. Tồn bộ đoạn thơ lí
giải cho câu hỏi: Đất nước có từ bao giờ?
17
2. Phân tích nội dung và nghệ thuật
a. Bốn câu đầu, những khám phá mới mẻ về lịch sử Đất Nước
Khi ta lớn lên ĐN đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa”
mẹ thường hay kể.
Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn.
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
- Đất nước có trước chúng ta:
+ Trước hết, từ “ta” là một khái niệm mơ hồ, không xác định, đó có thể là bất cứ người Việt Nam
nào, trong bất cứ thời kì nào, là chúng ta hơm nay, là con cháu sau này, là cha ông hàng ngàn
năm trước, ... bất cứ người Việt Nam nào sinh ra đều được nuôi dưỡng, che trở và lớn lên trong
cái nơi đất nước.
+ Bên cạnh đó, hai từ Đất Nước được viêt hoa một cách trang trọng. Đó là cách nhà thơ thể hiện
niềm tự hào và lòng thành kính trước Đất Nước của mình.
+ Cụm từ "đã có rồi" nghĩa là Đất Nước có trước chúng ta. Khi ta sinh ra thì Đất Nước đã tồn tại,
có trở về quá khứ bao lâu đi nữa thì Đất Nước vẫn là cái đã hiện hữu. Đây chính là sự tồn tại lâu
đời, hiển nhiên của Đất Nước.
- Đất Nước xuất hiện trong những câu chuyện cổ tích:
+ Cụm từ “ngày xửa ngày xưa” khiến ta nhớ đến những câu chuyện cổ tích của bà, của mẹ. Trong
những câu chuyện cổ tích xa xưa ấy, có hình ảnh của Đất Nước. Nghĩa là Đất Nước có từ rất lâu,
có trước cả cổ tích, xưa hơn cổ tích.
+ Ngồi ra, cụm từ chỉ thời gian không xác định "ngày xửa ngày xưa" vừa gợi cái xa xăm của
chiều dài lịch sử vừa gợi sự gần gũi, thân quen trong kí ức tuổi thơ mỗi người.
=> Như vậy, không cần đến những sử liệu, khơng cần đến những con số chính xác với những
niên đại cụ thể. Thông qua thứ thời gian mơ hồ trong trí tưởng tượng của trẻ thơ, tác giả nói về
lịch sử lâu đời của đất nước vừa sâu sắc, thấm thía vừa gần gũi đến bất ngờ.
- Đất Nước "bắt đầu" cùng với các phong tục tập quán
+ Theo phong tục Việt Nam miếng trầu tuy không có giá trị vật chất cao nhưng chứa đựng nhiều
ý nghĩa. Nó là một nghi lễ tinh thần khơng thể thiếu, thể hiện phép lịch sự trong giao tiếp.
+ Đặc biệt miếng trầu còn là "đầu câu chuyện" giao duyên lứa đôi. Ăn của nhau một miếng trầu
tức là đã nhận lời nên duyên chồng vợ cho nên các cô gái xưa được răn dạy rằng không thể tuỳ
tiện mà nhận miếng trầu của chàng trai. "Thưa rằng bác mẹ em răn/ Làm thân con gái chớ ăn trầu
người". Vì vậy, trầu và cau là những vật phẩm không thể thiếu trong nghi lễ cưới hỏi của dân tộc.
+ Bên cạnh đó, hình ảnh miếng trầu cịn gợi nhắc sự tích "Trầu cau", gợi trong tâm trí người đọc
nhưng trường liên tưởng phong phú. Vị cay nồng cùng màu đỏ được tạo ra bởi sự hoà quyện giữa
các chất liệu trầu, cau, vơi khi ăn chính là biểu tượng của tình nghĩa vợ chồng thuỷ chung son
sắt, tình anh em gắn bó, keo sơn. Đó là biểu tượng truyền thống thuỷ chung, ân nghĩa của người
Việt.
=> Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm giúp người đọc nhận ra, hình ảnh miếng trầu nhỏ bé, dung
dị "bây giờ bà ăn" có lịch sử hàng ngàn năm tuổi, là khởi đầu của nên văn hoá Việt, là sự tiếp nối
những giá trị văn hố đẹp đã có từ nghìn đời.
- Đất Nước "lớn lên", phát triển cùng truyền thống trồng tre, đánh giặc:
+ Cây tre: là hình ảnh quen thuộc, gần gũi với đời sống thường ngày của người dân Việt Nam
như đũa tre, giường tre, nhà tre, ...
18
+ "Trồng tre đánh giặc" cũng gợi nhắc truyền thuyết "Thánh Gióng", người dũng sĩ được ni
dưỡng bởi nhân dân, vươn mình dậy nhổ tre đánh đuổi kẻ thù. Thánh Gióng lên ba tuổi khơng
biết nói nhưng khi biết nói thì tiếng cất lên đầu tiên là tiếng nói của lịng u nước, ý chí quyết
tâm bảo vệ Đất Nước trước hoạ xâm lăng.
+ Và biết bao thế hệ người dân Việt Nam đã dùng tre để vót chơng, làm mũi tên, làm gậy,... để
đánh giặc. Cây tre đã là biểu tượng của người Việt Nam, nhà văn Thép Mới đã từng nhận xét:
"Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh. Giữ đồng lúa chín".
=> Với biện pháp tu từ nhân hố, Đất Nước được nhìn nhận như một sinh thể có sự trưởng thành.
Nhà thơ đã phát hiện ra, đất nước ngày càng phát triển, trưởng thành, vững bền qua công cuộc
dựng nước và giữ nước.
*Tiểu kết: Nguyễn Khoa Điềm đã đem đến cho độc giả những khám phá mới mẻ về lịch sử Đất
Nước. Đất Nước đã có từ rất lâu. Bao thế hệ người lớn lên thì Đất Nước đã có rồi, Đất Nước sinh
ra, lớn lên, trưởng thành và tồn tại cho đến ngày nay cùng với những phong tục tập quán và truyền
thống đánh giặc ngoại xâm của dân tộc.
Ở những câu thơ tiếp theo, để minh chứng cho nguồn gốc lâu đời của Đất Nước, Nguyễn
Khoa Điềm đã lựa chọn và đưa vào những hình ảnh bình dị, gần gũi, quen thuộc mang đậm dấu
ấn văn hoá văn học dân gian.
b. Khám phá: Đất Nước hiện thân trong văn hoá đời sống thường ngày
Đó là tập tục, thói quen; đạo lí tốt đẹp của con người; ngơn ngữ, q trình lao động sản xuất cần
cù.
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
- Trước hết là tục “bới tóc sau đầu” (búi tóc thành cuộn sau gáy). Đó là thói quen thẩm mỹ rất
riêng của người Việt. Bới tóc vừa thể hiện nét duyên dáng, nữ tính, giản dị của người phụ nữ
xưa: "Tóc ngang lưng vừa chừng em bới/ Để chi dài bối rối lòng anh". Vừa thể hiện niềm tự hào
về tinh thần độc lập tự cường. Dù trải qua hàng ngàn năm đô hộ của phương Bắc, dù chịu sự tác
động mạnh mẽ của nhiều nền văn hoá ngoại lai nhưng người phụ nữ Việt Nam vần giữ được vẻ
đẹp truyền thống.
- "Mỗi bài thơ hay là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo, có khả năng làm sống dậy trong lòng
người đọc những liên tưởng phong phú". "Cha mẹ thương ..mặn" là một câu thơ hay. Sức gợi
phong phú của câu thơ này chính là ở chỗ, nó khơng chỉ giúp ta liên tưởng đến ý thơ trong ca dao
quen thuộc:
Tay nâng chén muối đĩa gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau
Hay:
Muối ba năm muối đang còn mặn
Gừng chín tháng gừng hãy cịn cay
Đơi ta nghĩa nặng tình dày
Có xa nhau đi nũa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa
Mà câu thơ cịn gửi gắm một thơng điệp cuộc sống qua hình ảnh "gừng cay muối mặn". Cuộc
sống của chúng ta không phải là một thảm hoa hồng trải dài mà ln có những khó khăn thử
19
thách. Đời phải trải qua "giông tố" nhưng điều quan trong là trước "giông tố" chúng ta không
được "cúi đầu". Và quan trọng hơn, trên đời này chỉ có một điều ấy thơi, đó là "u thương nhau".
Lịng u thương, nghĩa tình sâu nặng sẽ là nguồn lực tinh thần vô giá giúp chúng ta vượt qua
mọi "phong ba bão táp" của cuộc đời. "Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn" có nghĩa
là dù trong gian khổ cha mẹ vẫn thuỷ chung, thương yêu, gắn bó bền chặt.
=> Đó là tình cảm vợ chồng rất Việt Nam, càng gian lao khổ ải càng son sắt thuỷ chung. (Đó
chính là lối sống trọng tình, một nét đẹp khác trong truyền thống văn hoá của con người Việt
Nam).
- Tiếp đến, hình ảnh cái kèo, cái cột khiến ta nhớ về ngơi nhà truyền thống của người Việt. Đó là
tổ ấm cho mọi gia đình đồn tụ bên nhau. Và cũng từ đó, ngơn ngữ được hình thành, từ việc đặt
tên cho cái kèo, cái cột đến việc đặt tên người, tên núi, tên sơng người Việt đã dần có tiếng nói
riêng.
- Cuối cùng, hình ảnh hạt gạo đã đưa người đọc trở về nền văn minh ngông nghiệp lúa nước. Ở
đó cây lúa, hạt gạo là lương thực chính ni sống con người. Thành ngữ "một nắng hai sương"
kết hợp với một loạt động từ "xay, giã, giần, sàng" đã thể hiện được các cơng đoạn của q trình
lao động, sự vất vả gian lao của quá trình lao động này. Qua đây,nhà thơ cũng muốn nhắc nhở
thế hệ mai sau. Hãy biết quý trọng công sức của cha ông, quý trọng công sức của những con
người lao động vất vả "bán mặt cho đất bán lưng cho trời" để làm ra hạt gạo. Nó gợi nhắc câu ca
dao xưa: "Ai ơi bưng bát cơm đầy/ Dẻo thơm một hột đắng cay mn phần"
=> Như vậy, q trình phát triển của ĐN gắn liền với sự hình thành nên các phong tục, gắn liền
với quá trình lao động vất vả nhưng đầy tình nghĩa của con người.
c. Câu cuối: từ những khám phá mới mẻ về đất nước trong chiều dài lịch sử, chiều sâu văn hoá,
nhà thơ đi đến khẳng định:
“Đất nước có từ ngày đó ...”
- Lời thơ mộc mạc, chắc nịch, vừa khẳng định chắc chắn vừa bày tỏ niềm tự hào về cội
nguồn đất nước. Hơn nữa, dấu “...” kết thúc đoạn thơ thể hiện sự xúc động của tác giả, tạo trường
liên tưởng cộng hưởng của người đọc về lịch sử đất nước.
- “Ngày đó” là ngày nào ta không rõ nhưng chắc chắn “ngày đó” là ngày ta có truyền thống,
có phong tục tập quán, có văn hóa mà có văn hóa nghĩa là có đất nước. Đất Nước hiện hình trong
cổ tích, ca dao, trong đạo lí tốt đẹp, trong lao động sản xuất, ... Vì vậy, đúng như lời Bác dặn
trước lúc đi xa “Rằng muốn yêu tổ quốc mình, phải yêu những câu hát dân ca”. Dân ca, ca dao
là đặc trưng văn hóa của Việt Nam, muốn yêu Đất Nước trước hết phải yêu và quý trọng văn hóa
nước nhà. Bởi văn hóa chính là Đất Nước. Thật đáng u đáng quý, đáng tự hào biết bao lời thơ
dung dị, ngọt ngào của Nguyễn Khoa Điềm.
3. Đánh giá chung
- Nghệ thuật:
Đọan thơ (trích trong chương V), giàu chất trữ tình chính luận, vừa đc viết bằng chiều sâu
trí tuệ, bề dày văn hóa, vừa đc viết bằng những rung động mãnh liệt của cảm xúc nên rất dễ đi
vào lòng người.
Lời thơ đậm đà chất liệu văn hóa văn học dân gian, hình ảnh từ những câu chuyện cổ tích,
truyền thuyết, bài ca dao, ... khiến cho câu thơ của NKĐ hiện lên vừa mới mẻ, hiện đại (thể thơ
tự do, dài) mà vẫn gần gũi, thân thuộc như ca dao, như cổ tích.
Đặc biệt, chương thơ được viết với hình thức tâm tình của hai nhân vật anh và em, giống
như cuộc trị chuyện của đơi lứa u nhau, điều này, khiến cho câu thơ giàu tính triết luận trở nên
20
nhẹ nhàng mà sâu lắng.
- Ý nghĩa:
+ Đoạn thơ đã đem đến cho độc giả một nhận thức đầy ý nghĩa về Đất Nước. Đất Nước có
từ xa xưa, Đất Nước là của ông bà, cha mẹ chúng ta, của một cộng đồng cùng chung ngôn ngữ,
chung phong tục tập quán, chung văn hoá cội nguồn. Đất Nước tưởng như xa lạ mà gần gũi, kì
vĩ mà thân quen, hữu hình mà vơ hình.
+ Đoạn thơ đã góp phần làm phong phú thêm hình ảnh Đất Nước trong văn học. Nếu như
những nhà thơ cùng thời như Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi tạo một khoảng cách nhất định để
chiêm nghiệm đất nước thì Nguyễn Khoa Điềm lại nhìn đất nước ở tầm gần. Đến với đoạn trích
“Đất nước” (trích Trường ca mặt đường khát vọng), người đọc nhận ra Đất Nước hiện diện trong
muôn mặt đời sống hàng ngày, trong mỗi chúng ta.
KB: Chín câu thơ đầu đoạn trích" Đất Nước" đã đem đến cho người đọc vẻ đẹp của 1 Đất Nước
giàu văn hóa cổ truyền. Sedrin tưng nói “Văn học vượt qua mọi quy luật băng hoại của thời gian,
chỉ mình nó khơng thừa nhận cái chết”. Đoạn thơ trên là minh chứng hùng hồn cho nhận định
mn thủa đó. Hình ảnh đất nước trong đoạn thơ trên chắc chắn sẽ còn làm rung động trái tim
bạn đọc nhiều thế hệ.
Đề 2: : Phân tích đoạn thơ: “Trong anh và em….làm nên ĐN mn đời”
MB:
"Có mối tình nào hơn
Tổ quốc?"
Trần Mai Ninh
Đất Nước từ lâu đã là nguồn đề tài lớn chi phối cảm hứng sáng tác của khơng ít tác
giả trong nền văn học của dân tộc. Cùng chọn một đề tài quen thuộc, thế nhưng mỗi nhà thơ lại
tạo nên một vẻ đẹp riêng cho tác phẩm của mình. Đến với đoạn trích "Đất Nước" của Nguyễn
Khoa Điềm, người đọc sẽ thấy những cảm nhận mới mẻ của tác giả về Đất Nước qua những vẻ
đẹp được phát hiện ở chiều sâu trên nhiều bình diện: lịch sử, địa lí, văn hố, ... Đất Nước tồn tại,
hiện diện ngay trong chính mỗi con người. Điều đó được thể sâu sắc . qua những câu thơ sau:
"Trong anh và em hôm nay
...
Làm nên Đất Nước muôn đời..."
TB:
1. Khái quát về đoạn trích
- Hcst, xuất xứ, ...
Đoạn trích có hai phần, đoạn thơ trên là những câu cuối của phần 1. Sau khi trả lời được
câu hỏi Đất Nước có từ bao giờ? Và Đất Nước là gì? Tác giả đã khơi dậy trong mỗi con người ý
thức trách nhiệm đối với Đất Nước.
2. Phân tích nội dung và nghệ thuật
a. Đất Nước có trong "anh" và "em" (trong mỗi người)
Trong anh và em hơm nay
Đều có một phần Đất Nước
- Nhân vật trữ tình trong hai câu thơ là "anh" và "em" khiến cho lời thơ trở nên nhẹ nhàng, thân
thiết như lời thủ thỉ, tâm tình của hai trái tim u thương. Nhưng họ khơng nói với nhau về chuyện
riêng tư của mình, tình cảm của mình như những nhân vật trữ tình mà ta thường bắt gặp trong
21
thơ:
Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh.
Anh nhớ em. Anh nhớ lắm. Em ơi!
("Tương tư chiều" – Xuân Diệu)
Nhân vật "anh" và "em" trong thơ của Nguyễn Khoa Điềm ở bên nhau là để cùng nhau nói chuyện
về Đất Nước, nhắc nhở nhau về trách nhiệm với Đất Nước.
=> Đất Nước một vấn đề mang tình khái quát trừu tượng, chính trị khơ khan trở nên trữ tình sâu
lắng, dễ đi vào lòng người.
- Chỉ với hai câu thơ ngắn gọn, tác giả đã chỉ ra Đất Nước hóa thân, kết tinh trong cuộc sống của
mỗi con người.
+ Bề ngồi, câu thơ có vẻ phi lí, vì Đất Nước bao la, rộng lớn, thiêng liêng, vĩnh hằng sao có thể
hóa thân trong mỗi người. Nhưng bề sâu, câu thơ lại diễn tả một điều hợp lí : mỗi người đều mang
trong mình một phần Đất Nước.
+ Bởi vì, ai lớn lên cũng được thừa hưởng những di sản văn hóa tinh thần và vật chất của cha
ơng. Đó là truyền thống yêu nước, phong tục ăn trầu, búi tóc, ngơn ngữ, ... nên Đất Nước hiện
hình trong màu da, mái tóc, dáng dấp, tiếng nói của mỗi người.
=> Đất nước hiện thân trong mỗi người.
b. Mối quan hệ giữa con người và ĐN (giữa cá nhân với cộng đồng, riêng với chung, thế hệ này
với thế hệ khác.
Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đât Nước vẹn tròn to lớn
Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng
- "Cầm tay" được điệp lại hai lần, nhấn mạnh sự kết nối, đồn kết, gắn bó, u thương.
+ "Khi hai đứa cầm tay" thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân. "Khi chúng ta cầm tay
mọi người" chỉ mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng.
+ Cá nhân gắn kết với cá nhân thì Đất Nước "hài hồ nồng thắm" nghĩa là khi chúng ta gắn bó
với nhau sẽ tạo nên hạnh phúc cá nhân, hạnh phúc gia đình. Từ hạnh phúc cá nhân sẽ làm nên
hạnh phúc Đất Nước.
+ Cá nhân gắn kết với cộng đồng thì Đất Nước sẽ "vẹn trịn to lớn", tạo nên sức mạnh đồn kết
nhấn chìm bè lũ bán nước và cướp nước. Đây là sự tiếp nối lới dạy của Bác: "Đồn kết, đồn kết,
đại đồn kết/ Thành cơng, thành công, đại thành công".
- Liên hệ:
+ Cá nhân tồn tại trong cộng đồng cũng giống như giọt nước với biển cả. Nếu giọt nước khơng
hồ vào biển cả nó sẽ cạn khơ nhanh chóng. Cũng như vậy nếu cá nhân chỉ quan tâm đến hạnh
phúc cá nhân của mình, khơng có trách nhiệm với cộng đồng, khơng vì cộng đồng thì Đất Nước
đâu cịn.
+ "Giọt nước chỉ hồ vào biển cả mới không cạn mà thôi". Con người phải gắn kết với con người,
với tập thể, cộng đồng thì cuộc sống mới có ý nghĩa, ngày càng tốt đẹp hơn. Nói như nhà thơ Tố
Hữu:
Một ngơi sao chẳng sáng đêm
22
Một thân lúa chín, chẳng nên mùa vàng
Một người - đâu phải nhân gian
Sống chăng, một đốm lửa tàn mà thơi
(Tiếng ru)
=> Đất Nước chỉ trường tồn khi có sự gắn kết giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân với cộng
đồng.
- Những câu thơ tiếp theo, nhà thơ bày tỏ niềm tin tưởng, lạc quan vào tương lai của Đất Nước:
+ Các từ ngữ: "mai này", "sẽ", "đến" là sự hình dung, tưởng tượng của tác giả về tương lai Đất
Nước.
+ Hai chữ "con ta" đầy thiết tha, trìu mến. "Con ta" là con "anh" và "em" nhưng đó cũng là cách
nói sáng tạo để chỉ các thế hệ nối tiếp trong tương lai. Nhà thơ đang kỳ vọng và có một niềm tin
mãnh liệt vào các thế hệ tương lai của Đất Nước. Sau này, khi con trưởng thành, con sẽ mang
"Đất Nước đi xa", vượt ra ngồi khơng gian chật hẹp, đưa Đất Nước hồ nhập với quốc tế, đến
những tháng ngày "mơ mộng" vượt ra cả mong đợi của thế hệ hơm nay. Đó khơng chỉ là mơ ước
của Nguyễn Khoa ĐIềm mà còn là niềm mong mỏi của hàng chục triệu con người Việt Nam.
c. Trách nhiệm của cá nhân đối với Đất Nước
"Thơ là âm nhạ của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm". Thơ tác động đến
nhận thức, tâm hồn người đọc trực tiếp bằng hệ thống ngôn từ, hình ảnh, thấm đẫm tình cảm,
cảm xúc. Cảm xúc của nhà thơ càng nồng nàn, chân thành thì tiếng nói của nhà thơ tác động đến
độc giả cảng thấm thía, sâu sắc. Các câu thơ cuối đoạn trích là những lời chân thành, xúc động,
bật ra từ cảm xúc mạnh mẽ, mãnh liệt nhất của nhà thơ.
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời...
- Ba chữ "em ơi em" ngắn gọn, hàm súc nhưng được tách riêng ra thành một nhịp vang lên trong
câu thơ như tiếng gọi tha thiết trìu mến với người u thương. Nó chính là khúc dạo đầu cho lời
nhắn nhủ ân tình, nhẹ nhàng, cảm động.
- Biện pháp tu từ so sánh "Đất Nước là máu xương của mình" khiến cho khái niệm Đất Nước trở
nên cụ thể, hữu hình. Trong đó "máu xương" mang nhiều ý nghĩa. Trước hết, Đất Nước được xây
dựng, bảo vệ bằng máu xương của biết bao thế hệ người Việt Nam. Đất Nước cho chúng ta hình
hài, máu thịt. Đất Nước khơng chỉ bên ngồi ta như con đường, ngọn núi, dịng sơng mà cịn hiện
hữu ở trong ta, trong từng giọt máu Việt Nam. Từ đó nhà thơ đưa ra những lời nhắn nhủ thiết tha
về ý thức trách nhiệm của cá nhân với cộng đồng:
- Điệp ngữ "phải biết" thúc giục mỗi người phải có trách nhiệm với Đất Nước. Bởi sự trường tồn
của Đất Nước cũng là sự trường tồn của mỗi người. Và Nguyễn Khoa Điềm chỉ ra mỗi người cần
có hành động:
+ "Gắn bó" là phải xem Đất Nước như một phần thân thể, yêu thương Đất Nước như yêu thương
chính bản thân mình, máu thịt của mình. Rất nhiều nhà thơ khác cũng đã ý thức được sâu sắc
điều đó. Chế Lan Viên đã viết:
Ôi! Tổ quốc ta yêu như máu thịt
Như mẹ cha ta, như vợ như chồng
Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết
Cho mỗi ngôi nhà, ngon núi, con sông.
23
(Sao chiến thắng)
+ "San sẻ" là giúp đỡ, hỗ trợ nhau, yêu thương, đùm bọc, "lá lành đùm lá rách". Luôn ghi nhớ lời
dạy của cha ông "Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng".
+ "Hoá thân" là sẵn sàng hi sinh cho Tổ quốc, sẵn sàng "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Đó
là tinh thần quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm lược.
=> Sự "gắn bó", "san sẻ" và sẵn sàng "hố thân" cho Đất Nước đã, đang và sẽ làm cho Đất Nước
mãi phát triển và trường tồn.
=> Đoạn thơ đã khơi dậy ý thức cá nhân đối với Đất Nước. Mỗi cá nhân cần phải có trách nhiệm
tự nguyện gánh vác những công việc chung của đất nước. Khi Đất Nước có giặc ngoại xâm thì
phải hồ mình vào cuộc chiến đấu của dân tộc. Khi Đất Nước thái bình thì phải học tập, rèn luyện
để phát triển, dựng xây Đất Nước ngày càng giàu, đẹp, mạnh.
3. Đánh giá chung
- Nghệ thuật:
- Ý nghĩa:
+ Đoạn thơ đã đem đến cho độc giả một nhận thức đầy ý nghĩa về Đất Nước.
+ Đoạn thơ đã góp phần làm phong phú thêm hình ảnh Đất Nước trong văn học. Nếu như
những nhà thơ cùng thời như Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi tạo một khoảng cách nhất định để
chiêm nghiệm đất nước thì Nguyễn Khoa Điềm lại nhìn đất nước ở tầm gần. Đến với đoạn trích
“Đất nước” (trích Trường ca mặt đường khát vọng), người đọc nhận ra Đất Nước hiện diện trong
muôn mặt đời sống hàng ngày, trong mỗi chúng ta.
KB: "Cái kết tinh của một vần thơ và muối bể/ Muối lắng ở ô nề và thơ đọng ở bề sâu" (Đối thoại
mới – Chế Lan Viên). Có thể khẳng định, đoạn trích "Đất Nước" trích trường ca "Mặt đường khát
vọng" đã đạt đến trình độ kết tinh về nghệ thuật ngôn ngữ và cảm xúc. "Chất muối" của những
dòng thơ về Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm sẽ còn là lời thúc giục, nhắc nhở tha thiết cho các
thế hệ thanh niên mn đời sau.
Đề 3: Phân tích đoạn thơ:
"Những người vợ nhớ chồng cịn góp cho Đất Nước
Những núi Vọng Phu
.......
Những cuộc đời đã hố núi sơng ta ..."
Gợi ý:
MB: Trong thơ ca Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975, đất nước là một chủ đề bao trùm. Tuy nhiên
ở mỗi thời kì và đi qua lăng kính tâm hồn mỗi nhà thơ, cảm hứng về đất nước lại có vẻ đẹp riêng.
Đến với đoạn trích "Đất Nước" của Nguyễn Khoa Điềm, người đọc sẽ thấy những cảm nhận mới
mẻ của tác giả về Đất Nước qua những vẻ đẹp được phát hiện ở chiều sâu trên nhiều bình diện:
lịch sử, địa lí, văn hố, ... Đất Nước là của nhân dân, do nhân dân tạo nên. Điều đó được thể sâu
sắc qua những câu thơ sau:
"Những người vợ nhớ chồng cịn góp cho Đất Nước
Những núi Vọng Phu
...
Những cuộc đời đã hố núi sơng ta ..."
TB:
1. Khái quát về đoạn trích
24
- Hcst, xt xứ, ...
- Đoạn trích có hai phần, đoạn thơ trên là những câu đầu tiên của phần II. Toàn bộ đoạn
thơ thể hiện quan điểm: nhân dân vơ danh đã hố thân làm nên dáng hình của Đất Nước.
2. Phân tích nội dung và nghệ thuật
a. Tám câu đầu là nhứng phát hiện mới mẻ của Nguyễn Khoa Điềm về những địa danh của Đất
Nước
"Những người vợ nhớ chồng cịn góp cho Đất Nước
Những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng u nhau góp nên hịn Trống Mái
Gót ngựa Thánh Gióng đi qua cịn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dịng sơng xanh thẳm
Người học trị nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút,
non Nghiên
Con cóc, con gà quê hương cũng góp cho Hạ Long thành
thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ơng Đốc, Ông Trang,
Bà Đen, Bà Điểm"
- Biện pháp liệt kê: liệt kê, kể tên các địa danh, các danh lam thắng cảnh trải dài theo chiều dài
của Tổ Quốc từ Bắc tới Nam, từ đồng bằng đến miền núi, đến miền biển khơi mênh mông.
=> Tác giả đã phác thảo tấm bản đồ văn học về Đất Nước.
+ Hòn Vọng Phu – Lạng Sơn, Bình Định
+ Hịn Trống Mái – Sầm Sơn
+ Đất Tổ Hùng Vương – Phú Thọ
+ Núi Bút, non Nghiên ở Quảng Ngãi
+ Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm – Nam Bộ
+ Liên hệ: Khác với bài thơ "Tây Tiến", nhà thơ Quang Dũng đưa đến cho độc giả ấn tượng về
những địa danh xa lạ: Mường Hịch, Mường Lát, Sài Khao, ... Từ đó gợi ta liên tưởng đến một
miền đất xa xôi, hẻo lánh, hoang sơ, bí hiểm, ... Ở đây, Nguyễn Khoa Điềm đưa vào trong đoạn
thơ trên những địa danh nổi tiếng, quen thuộc, từ Bắc tới Nam.
=> Điều quan trọng nhất là, nhà thơ đã có những phát hiện mới mẻ, ông nhận ra những danh lam
thắng cảnh của Đất Nước không phải chỉ đơn thuần là do thiên nhiên tạo ra, mà là sản phẩm do
con người tạo nên.
- Chất liệu văn hóa, văn học dân gian: mỗi địa danh được nhắc đến đều gắn với một huyền thoại,
huyền tích và sự thật về nhân dân trong lịch sử.
+ Hịn Vọng Phu là địa danh có hình thù giống người vợ bồng con chờ chồng. Tác giả phát hiện
ra, vẻ đẹp của hịn Vọng Phu khơng phải là do thiên tạo mà chính tình nghĩa sâu nặng, thủy chung,
son sắt của con người đã thổi hồn cho sự vật. Nếu khơng có cảnh người vợ mịn mỏi chờ chồng
trong những ngày binh lửa chiến tranh thì khơng có hịn Vọng Phu.
+ Cũng như vậy, nếu khơng có tình cảm đơi lứa bền vững thì khơng có hịn Trống Mái ở bờ biển
Sầm Sơn và một số nơi.
+ Ao hồ ở Làng Gióng (Phù Đổng – Gia Lâm) là dấu tích của gót ngựa Thánh Gióng, sau khi dẹp
tan giặc Ân đã bay về trời.
+ Vẻ đẹp hùng vĩ, uy nghiêm của những ngọn núi chập trùng nơi đất Tổ Hùng Vương gắn với
25