4
Chơng 1
Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Lâm nghiệp là bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, bảo vệ
môi sinh và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt trong lĩnh vực quốc phòng các nhà quân
sự luôn luôn đề cao vai trò của địa hình rừng núi. Bởi địa hình rừng núi nói
chung và địa hình rừng núi nớc ta nói riêng mang đặc điểm nh: vách núi cao,
vực sâu, khe núi hẹp, rừng dày rậm rạp, nhiều suối, khí hậu thay đổi đột ngột
theo độ cao, theo ngày đêm, theo mùa, không khí ẩm thấp, giao thông đi lại
khó khăn, dân c tha thớt, kinh tế kém phát triển. Khác với điều kiện địa hình
đồng bằng, địa hình rừng núi có ảnh hởng rất lớn đến tổ chức chiến đấu và
chiến đấu của các LLVT, bất cứ một đội quân nào dù hiện đại hoặc kém hiện
đại, dù sử dụng phơng thức tác chiến nào đều phải tính đến đặc điểm này. Cụ
thể là:
Trong chiến đấu tiến công, lực lợng tiến công bị hạn chế trong việc sử
dụng tập đoàn đột kích mạnh trên một hớng, bị hạn chế về tính cơ động và tác
dụng của hoả lực bắn thẳng, tầm quan sát, do đó hạn chế tác dụng của kỵ
binh, xe tăng, thiết giáp, pháo binh, cơ giới v.v tốc độ tiến công không thể tốc độ tiến công không thể
cao nh ở địa hình thông thờng. Địa hình rừng núi mấp mô ít đờng sá, bị núi
cao chia cắt, nên khi tác chiến với lực lợng lớn thì khó hiệp đồng. Các hệ
thống đờng cách xa nhau, khoảng cách giữa các hớng lớn, nên các dải tiến
công thờng rộng hơn, hiệp đồng và chỉ huy khó khăn hơn, bố trí lực lợng lớn
và cơ động lực lợng từ hớng này sang hớng khác cũng gặp nhiều khó khăn.
Tuy vậy, nếu lực lợng gọn nhẹ, trang bị thích hợp thì có thể lợi dụng sự kín
đáo, che kht cđa nói rõng ®Ĩ tiÕp cËn bÊt ngê, thùc hiện bao vây, vu hồi,
luồn sâu chia cắt quân địch phßng ngù.
5
Trong chiến đấu phòng ngự, do có địa hình mấp mô, có thảm thực vật
nguỵ trang che chắn, nên bên phòng ngự có thể lợi dụng ngăn cản hành động
tiến công của địch, lợi dụng địa hình hiểm trở, lấy ít địch nhiều, có điều kiện
thuận lợi để làm công trình, vật chớng ngại từ nguồn vật liệu tại chỗ.
Chính vì vậy, các nhà khoa học quân sự, phi quân sự trên thế giới nói
chung và ở Việt Nam nói riêng đà nghiên cứu nhiều về loại tài nguyên thiên
nhiên đặc biệt này. Trên cơ sở đó, Chính phủ và Bộ Quốc phòng của mỗi quốc
gia đó sẽ đa ra những chủ chơng và đờng lối chiến lợc nhằm phát triển nguồn
tài nguyên rừng phục vụ kinh tế dân sinh và quốc phòng. Song song với việc
bảo vệ phát triển tài nguyên rừng là những công trình phòng thủ quốc gia đợc
tiến hành xây dựng trên các khu vực có rừng che phủ nhằm bảo vệ vững chắc
Tổ quốc chống sự xâm lấn trái phép từ bên ngoài vào. Có thể thấy tài nguyên
rừng giữ một vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế và bảo vệ Tổ
quốc. Sự phân bố thảm thực vật rừng ở trên các vị trí và địa hình khác nhau có
liên quan nhiều tới sự bố phòng của các binh chủng. Địa hình rừng núi có
quyết định khá lớn đến nghệ thuật quân sự riêng của từng nớc, nên những
công trình khoa học nói về vai trò của rừng đối với quốc phòng là bí mật riêng
của mỗi quốc gia có rừng và nằm trong chế độ bảo mật riêng của từng nớc. Do
đó, việc tìm hiểu khai thác những công trình của các tác giả trên thế giới liên
quan đến đề tài bị hạn chế rất nhiều.
1.1 trên thế giới
Điểm qua lịch sử chiến tranh của các quốc gia trên thế giới cho thấy, từ
thời kỳ cổ đại tới nay đà có hàng ngàn cuộc chiến tranh giữa các nớc đà xảy
ra. Trong đó, có nhiều cuộc chiến diễn ra ở địa hình rừng núi. Thế thiên hiểm
của núi rừng đà góp phần ngăn chặn bớc tiến, giảm tốc độ tiến quân và làm
ảnh hởng lớn tới kế hoạch quân sự của các bên tham chiến. Tiêu biểu là các
6
cuộc chiến giữa La MÃ với Các-tơ-giơ; Các dân tộc Tây á chống lại Đế chế
La MÃ; Cuộc chiến tranh nhằm thôn tính lẫn nhau tranh ngôi báu chủ thời
Chiến Quốc của Trung Quốc v.v tốc độ tiến công không thể Các nhà chiến l ợc và khoa học quân sự
trên thế giới từ xa tới nay trong công trình nghiên cứu về quân sự của mình đÃ
đánh giá rất cao vị trí và vai trò của rừng núi. Có những công trình đà khẳng
định sự thành bại ở cuộc chiến là phụ thuộc vào địa hình đặc biệt này. Song,
rừng phân bố không đồng đều ở các nớc trên thế giới. Tại mỗi nớc có rừng tuỳ
từng điều kiện địa lý khác nhau, mức độ phong phú và phân bố của thảm thực
vật cũng khác nhau, nên sự hiểm trở của địa hình rừng núi tại mỗi nớc cũng
khác nhau. Tính không phổ biến của dạng địa hình đặc biệt này khiến cho vị
trí và vai trò của rừng chỉ đợc đề cập ở các tác phẩm của những nớc có nhiều
rừng núi. Điển hình nh trong cuộc chiến tranh của Đế chế La mÃ, nhà quân sự
Vê-ghét-xia (giai đoạn cuối thế kỷ IV đến đầu thế kỷ V) đà trình bày một
cách có hệ thống toàn bộ các chiến lợc-chiến thuật quân sự của quân đội La
MÃ cổ đại, trong đó có phần đề cập đến việc thực hành tác chiến ở địa hình
rừng núi (theo giáo trình Lịch sử quân sự, tập 1)[23]. Trung Quốc một quốc
gia gần gũi với Việt Nam, địa hình rừng núi của nớc này có nhiều nét tơng
đồng với địa hình rừng núi của ta. Từ thời cổ đại, Trung Quốc đà có những
cuốn sách lý luận quân sự nói về sự thuận lợi của việc phòng thủ trên địa hình
rừng núi hiểm trở. Điển hình là Tôn Tử (giai đoạn cuối thế kỷ VI đến đầu thế
kỷ V trớc công nguyên) trong tác phẩm Binh pháp Tôn Tử ông đà phân tích
rõ: Khi kẻ địch u thế về số lợng, giữ quyền chủ động... muốn ngăn chặn địch
cần lợi dụng địa h×nh hiĨm trë cã nói cao rõng rËm che phđ nhiều, mà nghi
binh bí mật, tạo thế có lợi...[11]. Theo tác giả Lơng Ninh, Đặng Đức An
(1978) [69] trong cuộc chiến tranh giữa Nga và Thổ Nhĩ Kỳ (1768 1774);
7
(1787 1791), quân đội Nga dới quyền chỉ huy của Ru-ni an-xép và Xu-vôrốp đà đa ra chiến lợc tích cực nhằm đập tan quân chủ lực đối phơng bằng
cách áp dụng các hình thức tác chiến chiến lợc khác nhau nh phòng ngự trên
các tuyến có lợi trong đó lợi dụng triệt để địa hình rừng núi. Trong các công
trình viết về khoa học quân sự C.Mác-Ph.Ăng-ghen cũng đề cập tới vai trò của
địa hình rừng núi trong các cuộc chiến tranh diễn ra trên dạng địa hình này
qua những tác phẩm nh: Nội chiến ở Pháp (1871)(1961)[59]; Tuyển tập
luận văn quân sự,(1978)[60]; Về chiến tranh và quân đội(1983)[61]. Trong
cuộc cách mạng dân chủ nhân dân của Trung Quốc, tác giả Hồ Hoa (1958) có
đề cập đến vai trò quan trọng của địa hình rừng núi trong chọn lựa căn cứ địa
đối với lực lợng cách mạng, qua tác phẩm Lịch sử cách mạng dân chủ Trung
Quốc[47]. Bộ Quốc phòng Mỹ, (1967) đà phát tài liệu Palatable plants of
Tropical area[83] để hớng dẫn lực lợng bộ binh, biệt kích, lính dù... có thể sử
dụng đợc nguồn thực phẩm tại chỗ khi tiến hành tác chiến tại chiến trờng
nhiệt đới. Theo tác giả Mike Will, (1993)[84] lục quân Mỹ đà phối hợp cùng
Bộ Nông, Lâm nghiệp nghiên cứu và xác lập đợc một số loại côn trùng diệt
từng loài thực vật cụ thể ở những vùng đặc thù phục vụ mục đích quân sự đặc
biệt. Công trình đem lại hiệu quả cao trong việc khống chế một số loài thực
vật có hại đối với con ngời trong các khu vực đóng quân của binh lính Mỹ.
Tác giả Mike Will, (1994)[85] còn đa ra một công trình nghiên cứu thực vật
của lục quân Mỹ mang tên Electo-magnetic wave block of some plants,
công trình giúp đảm bảo bí mật của các căn cứ quân sự và bảo vệ đợc sức
khoẻ của binh lính Mỹ.
Trong những tài liệu quân sự nêu trên khi phân tích về khả năng tác chiến
với kẻ địch mạnh, các nhà quân sự luôn đề cao vai trò của vật cản tự nhiên,
8
đặc biệt là trong lĩnh vực phòng thủ. Đồng thời khi nói về khả năng ngăn cản
địch của địa hình tự nhiên, các nhà khoa học quân sự của những nớc có tiềm
lực quân sự mạnh nh Mỹ, Nga, Pháp, Trung Quốc v.v tốc độ tiến công không thể đà đánh giá rất cao
nhân tố địa hình và vai trò của thảm thực vật che phủ bên trên. Thực tiễn qua
các cuộc chiến ở nhiều nớc trên thế giới đà kiểm nghiệm điều đó.
Song, đây là bí mật của từng nớc trong việc lợi dụng rừng phục vụ cho
các hoạt động quân sự, nên các t liệu nớc ngoài liên quan đến đề tài bị hạn chế
rất nhiều do tính bảo mật nghiêm ngặt của mỗi nớc, bởi nội dung nghiên cứu
của đề tài liên quan đến hoạt động quân sự và bố phòng của các quân binh
chủng trong quân đội các nớc. Các công trình nêu trên chỉ mới nói về sự thuận
lợi của địa hình tự nhiên dới góc độ quân sự chứ cha nói rõ cụ thể vai trò của
thảm thực vật tự nhiên đối với nền qc phßng cđa tõng qc gia cã rõng.
1.2 ë ViƯt Nam
Theo Phạm Hồng Sơn, (1997) [73, tr.16] Việt Nam là nớc nhiệt đới ẩm,
có hệ thảm thực vật đa dạng phong phú và quanh năm xanh tốt, bao phủ hầu
hết ở những dạng địa hình quan trọng có ý nghĩa về mặt quân sự, nên ở nớc ta
rừng núi là một cụm từ không tách rời nhau, những dạng địa hình khác của
vùng nhiệt đới sẽ có một kiểu thảm thực vật thích hợp bao phủ, địa hình rừng
núi chiếm hơn ba phần t diện tích cả nớc và phân bố rải rác từ miền Bắc tới
miền Nam. Đặc biệt, tại các vùng biên giới bộ phía bắc và phía tây nam nớc ta
địa hình rừng núi chiếm trên 90% diện tích toàn vùng. Do đó, địa hình rừng
núi nớc ta là địa bàn thiên hiểm hạn chế sức mạnh quân sự và sức mạnh tấn
công của địch trong các cuộc chiến tranh xâm lợc và đóng vai trò quan trọng
trong việc phòng thủ đất nớc.
1.2.1 Đối với việc xây dựng căn cứ địa và phát triển lực lợng
9
Qua thực tiễn lịch sử chiến tranh của dân tộc, các nhà quân sự của ta rất
chú trọng vào điều kiện địa lợi khi chọn rừng núi nhằm hạn chế sức mạnh tiến
công của địch, xây dựng khu căn cứ địa nơi đứng chân, bảo toàn phát triển lực
lợng, tích luỹ lơng thực và làm bàn đạp để thực hành phản công, tiêu diệt địch
trong trong điều kiện phải chống lại kẻ thù đông hơn gấp bội. Điều này đợc
thể hiện trong một số sử liệu của các tác giả thông qua những tác phẩm nh:
Chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của Võ
Nguyên Gi¸p, (1969) [46]; “Tỉng kÕt cc kh¸ng chiÕn chèng Ph¸p thắng lợi
và bài học (1972) [2]; Nguyễn TrÃi đánh giặc cøu níc” cđa L¬ng Ngäc
BÝch, (1976) [9]; “Khëi nghÜa Lam Sơn của Phan Huy Lê, Phan Đại DoÃn,
(1977) [55]; Tổ tiên ta đánh giặc của Hoàng Minh, (1977) [65]; Việt lợc sử
ký (1980) [82]; Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong
kiến Trung Hoa xâm lợc cđa Hång Nam, Hång LÜnh, (1984) [67]; “NghƯ
tht qu©n sù Việt Nam Cổ-Trung Đại của Viện lịch sử quân sự, (1985) [22];
“Tỉng kÕt cc kh¸ng chiÕn chèng Mü cøu níc thắng lợi và bài học(1995)
[3]; Nghệ thuật đánh giặc giữ nớc của dân tộc Việt Namcủa Phạm Hồng
Sơn, (1997) [73]; Căn cứ địa trong phong trào Cần vơng chống Pháp của Dơng Đình Lập, (1997) [52]; Tổ tiên ta trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an
ninh biên giới quốc gia của Hoàng Cao Minh, (1998) [66]; Khởi nghĩa của
Lê Ninh và Phan Đình Phùng của Hoàng Minh Tổ, (1998) [76]; Lịch sử bộ
đội Trờng Sơn đờng Hồ Chí Minh của Tổng cục hậu cần, (1997) [20]; Việt
Bắc 30 năm chiến tranh cách mạng (1945-1954) Bộ t lệnh Quân khu 1,
(1999) [29]; Chọn khu vực phục kích của trung đoàn bộ binh ở địa hình rừng
núi của Trần Thái Cống, (1999) [38]; T tởng Hồ Chí Minh của Ban Văn
hoá t tởng Trung ơng, (2003) [8] v.v tốc độ tiến công không thể
Trong cuộc chiến tranh xâm lợc Việt Nam, các nhà quân sự Pháp đà tổng
kết về u, nhợc điểm của địa hình rừng núi khi thực hành tác chiÕn trªn khu vùc
10
này, qua một số tác phẩm của: Bernard F., (1922) “L’Indochine eheurs et
dauger”[86]; Gallien P., (1944) “Histoire militsire de L’Indochine de 1664 a
nos joar”[88], “Trois colonnes au TonKin (1894-1895)”[89]; Musson R.,
(1945) “Souvenrs de L’Auram et du TonKin”[90] v.v...
C¸c t liƯu nêu trên đều nói đến tầm quan trọng chiến lợc của việc xây
dựng căn cứ địa trên địa hình rừng núi. Bởi vì căn cứ địa là một trong những
nhân tố thờng xuyên có tác dụng quyết định vận mệnh của một cuộc chiến, thờng là trong các cuộc chiến tranh giải phóng và khởi nghĩa vũ trang. Căn cứ
địa là những vùng tự do hoặc vùng giải phóng, cách mạng dựa vào đó để đứng
chân và phát triển lực lợng về mọi mặt, tạo thành những trận địa vững chắc về
chính trị, quân sự, kinh tế, lấy đó làm nơi xuất phát để mở rộng dần vùng giải
phóng, cuối cùng tiến lên đánh bại kẻ thù lớn mạnh, giải phóng hoàn toàn đất
nớc. Căn cứ địa là chỗ đứng chắc chắn, là chỗ dựa để xây dựng và phát triển
lực lợng, là hậu phơng của chiến tranh cách mạng, các căn cứ địa đà hình
thành rất sớm ở nớc ta, nó tồn tại và phát triển theo yêu cầu chống giặc ngoại
xâm của dân tộc. Các nhà quân sự đều có những cách nhìn nhận khác nhau
khi chọn địa hình rừng núi làm căn cứ cách mạng. Nhng nhìn chung các tác
giả nêu trên đều đánh giá rất cao vị trí của núi rừng trong chiến lợc quân sự
của ®Êt níc, bëi sù hiĨm trë cđa nói rõng ®· góp phần tạo ra cách đánh địch
riêng biệt phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nớc trong mỗi giai
đoạn chống giặc ngoại xâm, cách đánh đó nâng lên thành Nghệ thuật đánh
giặc giữ nớc của Việt Nam đợc kiểm chứng qua hàng nghìn cuộc chiến tranh
của dân tộc trớc mọi kẻ thù dân tộc. Nh vậy, đứng về mặt quân sự mà nói, các
tác giả trên đà phân tích rất rõ về sự thuận lợi khi lập căn cứ địa tại khu vực
rừng núi. Sự hiểm trở của địa hình, màn nguỵ trang lý tởng của thảm thực vật
che phủ bên trên đà hình thành nên thế thiên hiểm của tự nhiên. Điều đó đợc các nhà quân sự lợi dụng triệt để, nhằm đa ra những đờng lối chiến lợc
11
chiến thuật đúng đắn, phù hợp với các điều kiện hoàn cảnh của đất nớc khi có
chiến tranh. Trên cơ sở đó, các nhà quân sự sẽ đa ra những hành động quân sự
phù hợp nh phòng thủ hay chọn vị trí đứng chân, triển khai lực lợng v.v tốc độ tiến công không thể tuỳ
lúc đánh lại đối phơng, giành thắng lợi của chiến dịch hoặc giải phóng đất nớc. Song, cha có công trình hay tổng kết nào, tổng kết một cách hệ thống vai
trò quan trọng của thảm thực vật rừng đối với việc xây dựng các khu căn cứ
địa trên địa hình rừng núi. Các công trình nêu trên chỉ thuần tuý xét riêng về
nhân tố địa hình đứng trên góc độ quân sự.
1.2.2 Đối với ngành hậu cần quân đội
Hậu cần quân đội là một ngành phục vụ quan trọng giúp bộ đội giành
thắng lợi trong cuộc chiến tranh của dân tộc. Các cơ quan hậu cần luôn luôn là
mục tiêu đánh phá của địch. Vì vậy, núi rừng trở thành nơi sơ tán, cất giữ các
kho tàng, công binh xởng, quân y viện v.v tốc độ tiến công không thể Dới sự che chở của rừng núi, các
đơn vị trực thuộc ngành hậu cần ngày đêm hoạt động bảo đảm vật chất và
trang bị kỹ thuật cho các đơn vị thực hành chiến đấu. Để đánh giá đúng vị trí
vai trò của rừng đối với ngành hậu cần trong chiến tranh giữ nớc, nhiều nhà
nghiên cứu đà có những công trình đáng ghi nhận nh: Hoàng Diệu, Đinh Xuân
Thu, Lu Quang Hoá, Trần Quốc Vợng, Trần Quang Vinh, Nguyễn Hữu Hợp,
(1997) Tìm hiểu công tác hậu cần thời xa[40]. Đặc biệt, trong hai cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ngành hậu cần cũng nh các
lĩnh vực hoạt động của ngành đà thực hiện tổng kết công tác hậu cần. Các bản
tổng kết đều có đề cập tới vai trò khả năng của rừng đối với ngành mình, cho
đó là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên thắng lợi của ngành hậu cần
trong chiến tranh nh: Báo cáo chung về tình hình nghiên cứu đông y trong 4
năm chống Mü cøu níc” cđa Bé Y tÕ, (1969) [31]; “Tãm tắt đặc điểm các bộ
cây thuốc có kèm bảng tra cứu tên họ của một số cây thông thờng của Vò
12
Văn Chuyên, (1976) [39]; Thuốc đờng ruột từ cây cỏ trong níc” cđa Bé Y tÕ,
(1989) [32]; “HËu cÇn chiÕn dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp
(1945-1954) của Tổng cục hậu cần, (1994) [17]; Tổng kết công tác của c¸c
Cơc thc Tỉng cơc cung cÊp trong kh¸ng chiÕn chèng Pháp (1945-1954)
của Tổng cục hậu cần, (1996) [19]; Công tác hậu cần chiến dịch Điện Biên
Phủ Đông Xuân 1953-1954 của Ban kế hoạch hậu cần, (1997) [5]; Tổng kết
hậu cần trong kh¸ng chiÕn chèng Mü cøu níc (1954-1975)” cđa Tỉng cục hậu
cần, (2001) [21] v.v tốc độ tiến công không thể
Các công trình nêu trên đà tổng kết về lịch sử hình thành và phát
triển .của từng ngành phục vụ nh: quân nhu, quân y, quân khí, quân giới, vận
tải. Các bộ phận này đảm bảo nhu cầu về vật chất kỹ thuật, quân y trực tiếp
cho các đơn vị LLVT trong chiÕn tranh. Cã thĨ nãi trong c¸c cc chiến tranh
chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta phần lớn các đơn vị trực thuộc ngành hậu
cần hoạt động ở rừng núi. Song tới nay trong ngành hậu cần cha có một công
trình nào nghiên cứu một cách sâu sắc, hệ thống về vai trò của rừng đối với
ngành mình.
Thảm thực vật rừng nớc ta che phủ hầu hết các dạng địa hình hiểm trở,
phân bố liên tục thành dải rộng trên địa hình rừng núi cả nớc. Do đó, thảm
thực vật rừng sẽ là màn nguỵ trang thiên nhiên lý tởng cho các hoạt động quân
sự. Trong công trình nghiên cứu về nguỵ trang của tác giả Quang Sa, Sỹ Hoài,
(1997)[72] có viết: ... Nguỵ trang có từ lâu đời gần nh đồng thời với sự xuất
hiện của chiến tranh... Nguỵ trang thiên nhiên là biện pháp nguỵ trang nhanh
nhất, đơn giản và ít tốn kém, rừng là chỗ dựa tốt nhất cho công tác nguỵ trang,
không chỉ có thể che giấu cá nhân mà còn che giấu các phơng tiện, trang bị,
các đơn vị, che dấu các hoạt động muôn hình muôn vẻ mà các phơng tiện
trinh sát của địch khó phát hiện... Bởi trong các cuộc chiến tranh xảy ra dù là
13
chiến tranh xâm lợc, chiến tranh cứu nớc hay chiến tranh giải phóng dân tộc.
Bao giờ cũng có sự chênh lệch lực lợng giữa hai bên tham chiến, lực lợng yếu
kém về quân số, về trang bị kỹ thuật thờng rút lui về vùng rừng núi, lợi dụng
màn nguỵ trang thiên nhiên và sự hiểm trở của núi rừng làm căn cứ địa nhằm
bảo toàn lực lợng chờ thời cơ.
Thảm thực vật rừng với vai trò là lới nguỵ trang thiên nhiên đà góp phần
không nhỏ trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của đất nớc ta. Nhng cha có
một công trình nào, tác giả nào tổng kết và phân tích rõ vai trò nguỵ trang của
thảm thực vật rừng trên các dạng địa hình khác nhau của đất nớc trong lịch sử
chống giặc ngoại xâm của dân tộc.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu, còn có những sử liệu và các báo cáo
tổng kết của các nhà sử học và của các quân binh chủng trong quân đội về vai
trò của thảm thực vật rừng dới góc độ quân sự trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Các nhà khoa học lâm nghiệp với những công trình nghiên cứu về chuyên
ngành lâm nghiệp, các báo cáo tổng kết về tài nguyên rừng, cũng nh hiện
trạng và tình hình phát triển lâm nghiệp của các tỉnh có rừng trên phạm vi toàn
quốc đà góp phần rất lớn giúp các nhà khoa học quân sự hiểu rõ về thực trạng
phân bố tài nguyên rừng, cũng nh hiện trạng và tình hình sản xuất lâm nghiệp
của các tỉnh trung du miền núi. Trên cơ sở đó, các nhà khoa học quân sự sẽ có
những chiến lợc nhằm kết hợp kinh tế với quốc phòng nói chung và kết hợp
phát triển sản xuất lâm nghiệp với quốc phòng nói riêng, góp phần tạo tiềm
lực quốc phòng tại chỗ, đảm bảo quốc phòng an ninh và bảo vệ vững chắc Tổ
quốc Việt Nam XHCN. Một số công trình nghiên cứu, báo cáo tổng kết, tài
liệu chuyên ngành lâm nghiệp có liên quan đến đề tài nh: Thái Văn Trừng,
(1978) Thảm thực vật rừng Việt Nam trên quan điểm hệ sinh thái[81];
Phùng Ngọc Lan, (1986) Giáo trình Lâm sinh học, tập1[51]; Vũ Tự Lập,
14
(1999) Địa lý tự nhiên Việt Nam[53] v.v tốc độ tiến công không thể Các tài liệu trên giúp cho các
nhà quân sự hiểu rõ khái niệm về hệ sinh thái rừng, và sự phân bố của thảm
thực vật rừng nhiệt đới trên các dạng địa hình của đất nớc. Các tài liệu của: Đỗ
Tất Lợi, 1964 Dợc liệu học[57], Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam[58];
Phạm Hoàng Hộ, (1999) Cây cỏ ở Việt Nam[48]; Võ Văn Chi, Trần Hợp,
(2000) Cây cỏ có ích ở Việt Nam[34] v.v tốc độ tiến công không thể giúp bộ đội đóng quân trên địa
hình rừng núi phân biệt rõ các loài thực, động vật rừng và giá trị của nó, để bộ
đội có thể sử dụng đợc nguồn lơng thực thực phẩm và vật liệu tại chỗ từ thảm
thực vật rừng quanh vị trí đóng quân. Các tài liệu nh: Kế hoạch hành ®éng ®a
d¹ng sinh häc cđa ViƯt Nam” cđa Bé NN & PTNT, (1995) [15]; Nghị định
01/NĐ-CP của Chính phủ, (1995) [35]; Quyết định số 245/1998/QĐ-TTg
của Chính phủ, (1998) [37]; Niên giám thống kê 1999 [68]; Chiến lợc phát
triển lâm nghiệp giai đoạn 2001-2010 của Bộ NN & PTNT, (2001) [16];
Nghị định số 163/1999/NĐ-CP của Chính phủ, (1999) [36]v.v tốc độ tiến công không thể Các báo
cáo, quyết định, nghị định nêu trên nói rõ hiện trạng tài nguyên rừng của đất
nớc và kế hoạch phát triển sản xuất của ngành lâm nghiệp giai đoạn hiện nay
và trong tơng lai, nhằm giúp các nhà quân sự có kế hoạch phối hợp với ngành
lâm nghiệp để vừa phát triển rừng, vừa thực hiƯn tèt nhiƯm vơ b¶o vƯ Tỉ qc
ViƯt Nam XHCN.
Trong các công trình nghiên cứu, tổng kết và báo cáo nêu trên của một số
ngành trực thuộc hoặc liên quan đến ngành hậu cần của các tác giả trong và
ngoài quân đội cho thấy: sự phong phú và đa dạng của tài nguyên rừng nớc ta
đóng vai trò rất lớn ®èi víi ®êi sèng cđa bé ®éi, ®Ỉc biƯt trong điều kiện hoạt
động, chiến đấu ở địa hình rừng núi khi khả năng cung cấp lơng thực, thực
phẩm, thuốc men, vật liệu... không đáp ứng đủ cho các đơn vị bộ đội do gặp
nhiều trở ngại khi vận chuyển hoặc do hoàn cảnh ác liệt của chiến tranh. Khi
đó, rừng trở thành nguồn cung cấp lơng thực, thực phẩm, thuốc men, vËt liÖu
15
tại chỗ, kịp thời giúp bộ đội phần nào giải quyết đợc sự thiếu thốn về vật chất,
đảm bảo sẵn sàng chiến đấu. Song, các công trình và tổng kết nêu trên, chỉ là
những tổng kết riêng lẻ của từng lĩnh vực hoạt động trong ngành hậu cần hoặc
các nghiên cứu của những chuyên ngành lâm nghiệp khác nhau, nhằm phục
hồi phát triển và kinh doanh rừng trên cơ sở bền vững. Những tài liệu trên cần
đợc tiếp tục nghiên cứu nghiêm túc để xác định đúng vai trò của rừng đối với
quốc phòng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Tóm lại: Trên cơ sở phân tích có chọn lọc một số t liệu lịch sử, tổng kết
của các quân binh chủng, công trình nghiên cứu về rừng của ngành lâm
nghiệp của các tác giả trong và ngoài nớc theo hớng tìm hiểu vai trò của rừng
đối với quốc phòng trong sù nghiƯp b¶o vƯ Tỉ qc, cã thĨ rót ra một số nhận
xét sau:
Tài nguyên rừng ở nớc ta từ trớc tới nay và trong tơng lai luôn là yếu tố
bảo đảm cho hoạt động chiến đấu và chiến đấu của bộ đội. Tuy nhiên, trong
các tài liệu tổng kết của các quân binh chủng hay trong các công trình nghiên
cứu của ngành lâm nghiệp ở nớc ta từ trớc tới nay cha có công trình nào
nghiên cứu sâu sắc một cách hệ thống về vai trò của rừng đối với quốc phòng
nhất là trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Do đó, đề tài sẽ là một trong những cơ sở giúp các nhà khoa học quân sự
và lâm nghiệp hiểu rõ vai trò của thảm thực vật rừng nớc ta trong sự nghiệp
bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời đây cũng là một trong những cơ sở để các nhà
khoa học quân sự và lâm nghiệp đề ra kế hoạch nhằm phát triển sản xuất lâm
nghiệp kết hợp với quốc phòng để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam
XHCN trong giai đoạn mới.